Đoàn Mai Chi
Giới thiệu về bản thân
Câu 1
Thấu hiểu chính mình không đơn thuần là biết tên tuổi hay sở thích, mà là hành trình can đảm để nhìn thấu những ưu điểm, khuyết điểm và những giá trị cốt lõi sâu thẳm trong tâm hồn. Trong dòng đời hối hả, chúng ta thường mải mê chạy theo những tiêu chuẩn của người khác mà quên mất việc lắng nghe tiếng nói bên trong. Khi thấu hiểu bản thân, ta sẽ biết mình thực sự muốn gì, đâu là đam mê để theo đuổi và đâu là giới hạn để dừng lại. Điều này giúp ta xây dựng được sự tự tin vững chắc, không dễ dàng bị lung lay bởi những phán xét bên ngoài. Như hình ảnh "đèn" và "trăng" trong câu chuyện ngụ ngôn, mỗi người đều có lúc tỏa sáng và lúc mờ nhạt; việc thấu hiểu giúp ta chấp nhận những khiếm khuyết để bao dung hơn với chính mình và mọi người xung quanh. Đó chính là chìa khóa để mở ra cánh cửa hạnh phúc và sự trưởng thành thực sự. Nếu không biết mình là ai, ta sẽ mãi là một "người lạ" trong chính cuộc đời mình, sống một cuộc đời vay mượn và vô định. Vì vậy, hãy dành thời gian tĩnh lặng để kết nối với bản thân, bởi thấu hiểu chính mình chính là đỉnh cao của trí tuệ.
Câu 2:
Nếu văn học là tấm gương phản chiếu những rung chấn dữ dội nhất của lịch sử, thì "Chuyện của mẹ" của Nguyễn Ba chính là một chứng tích nghệ thuật đầy ám ảnh về nỗi đau hậu chiến. Bài thơ không chỉ đơn thuần là một lời kể về sự mất mát, mà còn là một diễn ngôn sâu sắc về đức hy sinh vô bờ bến và tầm vóc vĩ đại của người phụ nữ Việt Nam trong dòng chảy xoáy của vận mệnh dân tộc. Trước hết, thi phẩm mở ra một không gian sinh tồn tràn ngập những vết thương lịch sử. Thông qua thủ pháp liệt kê mang tính tự sự, tác giả phác họa hình tượng người mẹ với "năm lần chia li" – một con số định mệnh khái quát hóa nỗi đau của cả một thế hệ. Những người thân yêu nhất của mẹ không chỉ ra đi, mà họ hòa tan vào đại thể của non sông: người chồng hóa thành "ngàn lau" nơi biên thùy, người con cả tan thành "sóng nát" giữa dòng Thạch Hãn, và người con thứ hai gửi thân dưới gốc cao su Xuân Lộc. Các địa danh trải dài dọc trục kinh độ của đất nước không chỉ minh chứng cho sự khốc liệt của chiến tranh mà còn khẳng định rằng: sự hiện diện của mẹ gắn liền với từng tấc đất quê hương. Đặc biệt, hình ảnh người chị gái với tuổi xuân "xanh vời vợi" bị dập tắt đã tạo nên một nghịch lý thẩm mỹ bi tráng, nơi cái đẹp thanh tân bị nghiền nát bởi guồng quay tàn bạo của súng đạn. Về phương diện nghệ thuật, Nguyễn Ba đã vận dụng tài tình ngôn ngữ thơ giàu tính biểu tượng và đối lập. Sự đối lập giữa cái hữu hạn của cơ thể người mẹ ("móm mém", "đôi mắt bị loà") với cái vô hạn của tình thương đã tạo nên một sức căng nghệ thuật mạnh mẽ. Nhân vật "tôi" trở về với thân thể khiếm khuyết là một dụng ý nghệ thuật sâu sắc, khắc họa cái giá nghiệt ngã của hòa bình. Tuy nhiên, thay vì sa vào bi kịch cá nhân, bài thơ đã nâng tầm tư tưởng khi khẳng định mẹ là "mẹ của non sông đất nước". Đây là một bước chuyển từ cái tôi cá thể sang cái ta cộng đồng, biến nỗi đau riêng thành biểu tượng của sự cố kết dân tộc. Tình tiết mẹ lo lắng cho đứa con tật nguyền lúc cuối đời, dù bản thân đã cạn kiệt sinh lực, chính là đỉnh cao của tính nhân văn, minh chứng rằng tình mẫu tử là giá trị duy nhất không bị chiến tranh tàn phá. Hơn nữa, cấu trúc tự do và nhịp điệu thơ linh hoạt đã giúp tác giả truyền tải trọn vẹn những dư chấn cảm xúc từ đau đớn, xót xa đến tự hào, kiêu hãnh. Những câu thơ ngắn, ngắt nhịp dồn dập ở các đoạn kể về sự hy sinh tương phản với sự dàn trải, mênh mang ở đoạn kết, tạo nên một dư âm triết lý sâu sắc về sự trường tồn. Hình ảnh "giọt sương" lấp lánh nơi khóe mắt mẹ ở cuối bài là một nhãn tự đắt giá – nó vừa là giọt lệ đau thương, vừa là tinh túy của niềm tin và hy vọng được gạn lọc sau bao bão giông. Tóm lại, "Chuyện của mẹ" là một bản thiết thiết cho những tâm hồn muốn thấu cảm chiều sâu của lịch sử dân tộc thông qua lăng kính gia đình. Bằng sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa bút pháp hiện thực khắc nghiệt và chủ nghĩa lãng mạn bi tráng, Nguyễn Ba đã thành công trong việc tạc dựng một tượng đài bất tử bằng ngôn từ dành cho mẹ – người phụ nữ đã dùng cuộc đời mình để dệt nên hình hài của đất nước. Thi phẩm không chỉ là một bài ca tri ân, mà còn là lời nhắc nhở đanh thép về trách nhiệm gìn giữ những giá trị nhân bản giữa cuộc sống đương đại.Câu 1: văn bản nghị luận xã hội
Câu 2: Vấn đề được đề cập trong văn bản là sự hiểu biết của việc hiểu người, hiểu mình và đặc biệt là sự tự nhận thức.
Câu 3: Tác giả sử dụng các bằng chứng câu ca dao về cuộc đối thoại giữa đèn và trắng, câu tục ngữ về " năm ngón tay" ,ý thơ trong Truyện Kiều và hình ảnh thực tế từ bàn tay con người.
Câu 4: Mục đính nhằm phê phán thái độ kêu ngạo, phiến diện, đồng thời truyền tải nội dung về sự cần thiết của lòng bao dung và quá trình tự sửa mình để phát triển bền vững.
Câu 5: Cách lập luận sắc sảo và thuyết phục đi từ việc giải mã ẩn dụ nghệ thuật đến mở rộng vấn đề thực tiễn , sử dụng các câu hỏi gợi mở để dẫn dắt người đọc tự rút ra bài học cho chính mình.