SGK - Ngữ văn 7 - Tập 1
0/0
minus
100%
plus
Ghi chú
setting
share
Nền
Đọc offline

Lưu sách trên máy

Đang kiểm tra...

list Mục lục
list Mục lục
Bầu trời tuổi thơ
Tri thức về truyện ngắn và tiểu thuyết
Văn bản: Bầy chim chìa vôi
Thực hành tiếng Việt từ văn bản Bầy chim chìa vôi
Văn bản: Đi lấy mật
Thực hành tiếng Việt từ văn bản Đi lấy mật
Văn bản: Ngàn sao làm việc
Viết: Tóm tắt văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài
Nói và nghe: Trao đổi về một vấn đề mà em quan tâm
Củng cố, mở rộng
Thực hành đọc: Ngôi nhà trên cây
Khúc nhạc tâm hồn
Tri thức về thơ bốn chữ, năm chữ
Văn bản: Đồng dao mùa xuân
Thực hành tiếng Việt từ văn bản Đồng dao mùa xuân
Văn bản: Gặp lá cơm nếp
Văn bản: Trở gió
Thực hành tiếng Việt (Nghĩa của từ ngữ. Biện pháp tu từ)
Viết: Tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
Viết: Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
Nói và nghe: Trình bày suy nghĩ về một vấn đề đời sống (được rút ra từ tác phẩm văn học đã đọc)
Củng cố, mở rộng
Thực hành đọc: Chiều sông Thương
Cội nguồn yêu thương
Tri thức ngữ văn
Văn bản: Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ
Thực hành tiếng Việt: Số từ
Văn bản: Người thầy đầu tiên
Thực hành tiếng Việt: Phó từ
Văn bản: Quê hương
Viết: Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học
Nói và nghe: Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ một nhân vật văn học)
Củng cố, mở rộng
Thực hành đọc: Trong lòng mẹ
Giai điệu đất nước
Tri thức về thơ
Văn bản: Mùa xuân nho nhỏ
Thực hành tiếng Việt: Ngữ cảnh và nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh - Biện pháp tu từ
Văn bản: Gò Me
Thực hành tiếng Việt: Nghĩa của từ ngữ - Dấu câu - Biện pháp tu từ
Viết: Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc
Củng cố, mở rộng
Nói và nghe: Trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng
Văn bản: Bài thơ Đường núi của Nguyễn Đình Thi
Thực hành đọc: Chiều biên giới
Màu sắc trăm miền
Tri thức về tản văn và tùy bút
Văn bản: Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt
Văn bản Chuyện cơm hến
Thực hành tiếng Việt: Dấu gạch ngang - Biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, điệp ngữ
Văn bản: Hội lồng tồng
Thực hành tiếng Việt: Từ ngữ địa phương
Văn bản: Những khuôn cửa dấu yêu
Viết văn bản tường trình
Củng cố, mở rộng
ÔN TẬP CUỐI HỌC KÌ I
Ôn tập kiến thức
Luyện tập tổng hợp
Học liệu
Đang xem trang 0 Học liệu dưới đây tương ứng với nội dung bạn đang đọc
empty Không có học liệu bổ trợ
cover-first
page-1
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Trang 9
Trang 10
VĂN BẢN 1 TRƯỚC KHI ĐỌC Hãy chia sẻ một trải nghiệm đẹp của tuổi thơ em. Ghi lại một số từ ngữ diễn tả cảm xúc của em khi nghĩ về trải nghiệm đó. ĐỌC VĂN BẢN Bầ
VĂN BẢN 1
TRƯỚC KHI ĐỌC
Hãy chia sẻ một trải nghiệm đẹp của tuổi thơ em. Ghi lại một số từ ngữ diễn tả cảm xúc của em khi nghĩ về trải nghiệm đó.
ĐỌC VĂN BẢN
Bầy chim chìa vôi(1)
NGUYỄN QUANG THIỀU
(1)
Khoảng hai giờ sáng Mon tỉnh giấc. Nó xoay mình sang phía anh nó, thì thào gọi:
– Anh Mên ơi, anh Mên!
– Gì đấy? Mày không ngủ à? – Thằng Mên hỏi lại, giọng nó ráo hoảnh như đã thức dậy từ lâu lắm rồi.
Theo dõi
Nội dung cuộc trò chuyện của hai anh em Mên và Mon lúc nửa đêm.
– Anh bảo mưa có to không?
– Lại chẳng to. Thế mày không nghe thấy gì à?
– Nhưng anh bảo nước sông lên có to không?
– Bây giờ phải ngập đến cánh bãi dưới rồi.
– Thế anh bảo...
– Bảo cái gì mà bảo lắm thế – Mên gắt em nó.
– Em bảo – Mon ngập ngừng. – Thế cái bãi cát giữa sông đã ngập chưa?
Theo dõi
Chi tiết nào được lặp lại trong những lời nói của nhân vật Mon?
– Ừ nhỉ. – Giọng thằng Mên chợt thẳng thốt. – Có lẽ sắp ngập mất bãi cát rồi.
– Em sợ những con chim chìa vôi non bị chết đuối mất.
– Tao cũng sợ.
– Thế anh bảo chúng nó có bơi được không?
– Chim thì bơi làm sao được. Mày làm chim chìa vôi cứ như vịt ấy.
(1) Chìa vôi: loài chim nhỏ như chim sẻ, lông đen, đuôi và cánh có vết trắng, thường sống gần các nguồn nước.
Hai đứa bé nằm trong chiếc chăn dạ đã rách nhiều chỗ thì thầm nói chuyện. Bên ngoài mưa vẫn to. Trong tiếng mưa hình như có tiếng nước sông dâng cao, xiên xiết
Hai đứa bé nằm trong chiếc chăn dạ đã rách nhiều chỗ thì thầm nói chuyện. Bên ngoài mưa vẫn to. Trong tiếng mưa hình như có tiếng nước sông dâng cao, xiên xiết chảy.
Chiều qua em theo bố đi kéo chũm(1) ở gần cống sông ấy. - Thế thì sao? - Bố bảo chỉ có ở sông làng mình chim chìa vôi mới làm tổ như thế. Sao nó lại không làm tổ ở trên bờ hả anh?
Tao không biết. […] Hai đứa bé nằm im, nhưng không ngủ. Có lẽ bố chúng nó nói đúng. Chỉ ở khúc sông làng Theo dõi chúng, những con chim chìa vôi mới làm tổ như thế. Thói quen làm tổ và đẻ trứng Hàng năm vào mùa nước cạn, giữa sông làng nổi lên một của bầy chim chìa vôi ở bãi
sông quê của Mên và Mon.
dải cát. Sau một thời gian, những đám rong sông tốt bời bời héo dần làm thành một lớp đệm trên cát. Vào lúc đó, những con chim chìa vôi mảnh khảnh và ít lời từ hai bờ sông bay ra bãi cát. Chúng tìm những đám rong khô và dày để đẻ trứng. Khi những con chim chìa vôi đã đủ lông cánh cũng là lúc có những đám mây lạ từ dãy núi đá vôi Hoà Bình bay về báo hiệu mùa mưa. Những tiếng sấm sau mỗi đêm lại chuyển dần từ một chân trời xa về bên kia sông. Và bất chợt một đêm nào gần sáng, sấm nổ vang trên nóc nhà và mưa ném xuống. Con sông Đáy cựa mình lớn lên. Chỉ sau dăm đêm, dải cát nổi giữa sông chìm vào trong nước đỏ. Khi vòng vây của nước ập vào phần cuối cùng của bãi cát thì những con chim chìa vôi non lần đầu tiên trong đời đập cánh bay lên. Những con chim bé bỏng bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay vào bờ. Và đến mùa khô sang năm chúng lại ra dải cát nổi bắt đầu mùa sinh nở của chúng. […]
(1) Chũm: một loại lưới vó, thường thả ven sông, hồ,... dùng để bắt cá, tôm.
(2) Mùa mưa năm nay như về sớm hơn. Mấy ngày mưa dâng lên rất nhanh. - Anh ơi! - Thằng Mon lại thì thào gọi. - Gì?, liên miên và nước sông - Anh đã nhìn thấy ch
(2) Mùa mưa năm nay như về sớm hơn. Mấy ngày mưa dâng lên rất nhanh. - Anh ơi! - Thằng Mon lại thì thào gọi. - Gì?, liên miên và nước sông
- Anh đã nhìn thấy chim chìa vôi nó bay từ bãi cát vào bờ bao giờ chưa? - Chưa., Dự đoán Bầy chim chìa vôi non có bay được vào bờ không?
- Tổ chim sẽ bị chìm mất.
Thằng Mên nằm im lặng không trả lời em nó. Lâu sau - Thế làm thế nào bây giờ? - Hay mình mang chúng nó vào bờ. - Bây giờ nước to lắm, làm sao mà lội ra đấy được. - Em không biết. Hai đứa bé lại nằm im lặng. Mưa vẫn đổ xuống mái nhà cửa liếp cành cạch. - Chiều qua bố kéo chũm được một con cá măng. - Thế mà cũng khoe, ai mà chẳng biết. - Cả một con cá bống rất to và đẹp. Em lấy trộm con - Thế để đâu rồi? - Thằng Mên quay sang phía em nó - Em thả vào chỗ cống sông rồi. Anh bảo đấy có phải đò dưới bến không? - Mày có nhìn thấy cái chấm đen to ở vây nó không? - Em không nhìn. Chiều về đổ giỏ cá ra chậu, bố kêu khi con cá măng ăn con bống rồi. Bố bảo mẹ mổ con măng bụng nó không. - Hí hí. - Thằng Mên bật cười khoái chí. - Cái hốc cắm sào đò ngập bủm(1) rồi anh nhỉ? - Ngập từ chiều hôm kia rồi. Ngập đến mái nhà con - Anh ơi..., nó hỏi: và gió vẫn thổi vào phên cá bống. hỏi. là con bống ở hốc cắm sào mất con bống. Bố bảo có ra xem có con bống trong bống cũng chẳng sợ.
(1) Ngập bủm: ngập hết.
- Gì? - Tổ chim ngập mất anh ạ. Mình phải mang chúng nó - Đi bây giờ à? - Thằng Mên hỏi sau một phút im - Vâng, cứ lấy đò của ông Hảo mà đi. […] (3) Trôi đến đo
- Gì? - Tổ chim ngập mất anh ạ. Mình phải mang chúng nó - Đi bây giờ à? - Thằng Mên hỏi sau một phút im - Vâng, cứ lấy đò của ông Hảo mà đi. […] (3) Trôi đến đoạn sông cách bến đò làng chúng chừng gần được vào bờ. - Vào bờ rồi anh ơi. - Thằng Mon kêu lên sung, vào bờ, anh ạ. lặng. hai cây số con đò mới tạt sướng.
- Chứ còn sao. - Lúc này giọng thằng Mên tỏ vẻ rất người lớn. - Nào xuống đò được rồi đấy. Hai anh em thằng Mên lập cập tụt khỏi đò., Theo dõi Chú ý cử chỉ, lời nói của nhân vật Mên.
- Mình để đò lại đây hả anh?
- Phải kéo về bến chứ, không thì chết. Bây giờ tao kéo Thằng Mên quấn cái dây buộc đò vào người nó và gò Mon lội bì bõm đẩy. - Cái dải cát chưa chìm đâu anh nhỉ? - Chắc là chưa. Khi hai đứa bé đưa được con đò trở về chỗ cũ thì trời vội vã tìm cách buộc đò lại. Rồi ngay sau đó, cả hai đứa chạy ngược lên đoạn bờ sông đối diện với dải cát. - Anh có nhìn thấy gì không? - Tao chưa nhìn thấy, còn tối lắm. - Thế anh bảo đã ngập hết chưa? - Để tao nhìn xem. - Thằng Mên nói và ngồi thụp sát mặt sông. - Ướt cánh, chim nó có bay được không? - Mày lội ra đấy mà hỏi. - Anh ơi, có khi bố dậy rồi đấy. Sau câu nói của thằng Mon, cả hai đứa trẻ bắt đầu thấy chúng ở chân đê vọng lại tiếng người lớn gắt gỏng điều gì mắt nhìn ra giữa dòng sông. Trời đã sáng., còn mày đẩy. lưng kéo. Phía sau, thằng đã tang tảng sáng. Chúng bé không nói gì và cùng xuống. Nó căng mắt nhìn sợ. Từ phía ngôi nhà của đấy. Hai đứa trẻ vẫn căng
– Anh ơi, kia kìa, bãi cát. – Thằng Mon chợt kêu lên. – Ừ, đúng rồi. Vẫn chưa ngập hết. Còn bằng cái mũi thôi. – Anh bảo bầy chim còn ở đó không? – Không biết.
– Anh ơi, kia kìa, bãi cát. – Thằng Mon chợt kêu lên.
– Ừ, đúng rồi. Vẫn chưa ngập hết. Còn bằng cái mũi thôi.
– Anh bảo bầy chim còn ở đó không?
– Không biết. Nhưng bố bảo khi nước vừa ngập hết thì chim mới bay lên.
– Sao chúng lại không bay trước?
– Làm sao mà tao biết được.
Khi ánh bình minh đã đủ sáng để soi rõ những hạt mưa trên mặt sông thì cũng là lúc dòng nước khổng lồ nuốt chứng phần còn lại cuối cùng của dải cát. Và trong mắt hai đứa trẻ, một cảnh tượng như huyền thoại hiện ra. Từ mặt nước sông, những cánh chim bé bỏng và ướt át đột ngột dứt khỏi dòng nước khổng lồ bay lên. Hai đứa bé không kêu lên được một tiếng nào. Người chúng như đang ngùn ngụt toả hơi nóng.
Hình dung
Khung cảnh bãi sông trong buổi bình minh.
Suốt từ chiều hôm qua, nước bắt đầu dâng lên nhanh hơn. Nước dâng lên đến đâu, con chim bố và chim mẹ lại dẫn bầy chim non tránh nước lên theo đến đó. Cứ như thế chúng tiến dần đến phần cao nhất của dải cát. Và cứ thế bầy chim non nhảy lò cò trên những đôi chân mảnh dẻ chưa thật cứng cáp và đập cánh suốt đêm. Chim bố và chim mẹ vừa đập cánh theo đàn con vừa dẫn chúng đi. Hình như chúng biết chính xác khi nào thì đàn con chúng mới đủ sức để nâng mình lên khỏi mặt đất một cách đảm bảo. Nếu bầy chim con cất cánh sớm hơn, chúng sẽ bị rơi xuống dòng nước trên đường từ bãi cát vào bờ. Và nếu chúng cất cánh chậm một giây thôi, chúng sẽ bị dòng nước cuốn chìm.
Và bây giờ bầy chim đã bay lên. Mặt trời như lên nhanh hơn mọi ngày và mưa đã đột ngột tạnh hẳn. Bỗng một con chim như đuối sức. Đôi cánh của nó chợt như dừng lại, nó rơi xuống như một chiếc lá. Con chim mẹ
Đối chiếu
Cuộc “cất cánh” của bầy chim chia với non ở đây có đúng như dự đoán của em không?
xoè rộng đôi cánh lượn quanh đứa con và kêu lên. Nhưng khi đôi chân mảnh dẻ và run rẩy của con chim non chạm vào mặt sông thì đôi cánh của nó đập một nhịp quyết
xoè rộng đôi cánh lượn quanh đứa con và kêu lên. Nhưng khi đôi chân mảnh dẻ và run rẩy của con chim non chạm vào mặt sông thì đôi cánh của nó đập một nhịp quyết định. Tấm thân bé bỏng của con chim vụt bứt ra khỏi dòng nước và bay lên cao hơn lần cất cánh đầu tiên ở bãi cát.
Quanh hai đứa bé tất cả vụt im lặng, chỉ có tiếng Theo dõi đập cánh quyết liệt của bầy chim non. Hình như chúng
Cảm xúc của hai nhân vật
nghe thấy trong ngực mình nhịp đập của những trái tim Mên và Mon khi quan sát bầy hối hả nhưng đều đặn. Cuối cùng bầy chim non đã thực chim chìa vôi non bay lên. hiện xong chuyến bay quan trọng, đầu tiên và kì vĩ nhất trong đời chúng. Những đôi cánh mỏng manh run rẩy và đầy tự tin của bầy chim đã hạ xuống bên một lùm dứa dại bờ sông.
Hai anh em thằng Mên vẫn đứng không nhúc nhích. Trên gương mặt tái nhợt vì nước mưa của chúng hừng lên ánh ngày. Thằng Mên lặng lẽ quay lại nhìn em nó. Và cả hai đứa bé nhận ra chúng đã khóc từ lúc nào.
Tại sao mày lại khóc? - Thằng Mên hỏi. - Em không biết, thế anh? Hai anh em thằng Mên nhìn nhau và cùng bật cười ngượng nghịu. Rồi bỗng cả hai đứa cùng quay người và rướn mình chạy về phía ngôi nhà của chúng. Được một đoạn, thằng Mon đứng lại thở và gọi:
Anh Mên, anh Mên. Đợi em với. Không em ứ chơi với anh nữa.
(Nguyễn Quang Thiều, Mùa hoa cải bên sông, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012, tr. 136 - 146)
SAU KHI ĐỌC
Nguyễn Quang Thiều sinh năm 1957 tại Hà Nội. Ông
sáng tác thơ, viết truyện, vẽ tranh,... trong đó có một số tập truyện dành cho thiếu nhi: Bí mật hồ cá thần (1998), Con quỷ gỗ (2000), Ngọn núi bà già mù (2001),… Viết cho thiếu nhi, truyện của Nguyễn Quang Thiều chân thực, gần gũi với cuộc sống đời thường; thể hiện sự nhạy cảm, trong sáng, tràn đầy niềm yêu thương vạn vật của tâm hồn trẻ thơ.
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Em hãy xác định đề tài và ngôi kể của truyện Bầy chim chìa vôi.
2. Chỉ ra đâu là lời người kể chuyện, đâu là lời nhân vật trong đoạn văn sau:
Thực hành tiếng Việt MỞ RỘNG TRẠNG NGỮ CỦA CÂU BẰNG CỤM TỪ So sánh các câu trong từng cặp câu dưới đây và nhận xét về tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ của câ
Thực hành tiếng Việt
MỞ RỘNG TRẠNG NGỮ CỦA CÂU BẰNG CỤM TỪ
So sánh các câu trong từng cặp câu dưới đây và nhận xét về tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ của câu bằng cụm từ:
a. – Hôm qua, nước bắt đầu dâng lên nhanh hơn.
– Suốt từ chiều hôm qua, nước bắt đầu dâng lên nhanh hơn.
(Nguyễn Quang Thiều, Bầy chim chìa vôi)
b. – Trong gian phòng, những bức tranh của thí sinh treo kín bốn bức tường.
– Trong gian phòng lớn tràn ngập ánh sáng, những bức tranh của thí sinh treo kín bốn bức tường.
(Tạ Duy Anh, Bức tranh của em gái tôi)
Nhận biết tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ của câu bằng cụm từ
Trạng ngữ của câu có thể là một từ hoặc cụm từ. Ví dụ:
(1) Đêm, trời mưa như trút nước.
(2) Đêm hôm đó, trời mưa như trút nước.
Trạng ngữ trong câu (1) là một từ, trạng ngữ trong câu (2) là cụm từ. Trạng ngữ trong câu (2) được mở rộng hơn so với trạng ngữ trong câu (1). Nhờ được mở rộng, trạng ngữ trong câu (2) cung cấp thông tin cụ thể hơn về thời gian của sự việc trời mưa như trút nước.
Đi lấy mật (trích Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi) c. – Thế mà qua một đêm, trời bỗng đổi gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa
Đi lấy mật (trích Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi)
c. – Thế mà qua một đêm, trời bỗng đổi gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt.
– Thế mà qua một đêm mưa rào, trời bỗng đổi gió bấc, rồi cái lạnh ở đâu đến làm cho người ta tưởng đang ở giữa mùa đông rét mướt.
(Thạch Lam, Gió lạnh đầu mùa)
d. – Trên nóc một lô cốt, người phụ nữ trẻ đang phơi thóc.
– Trên nóc một lô cốt cũ kề bên một xóm nhỏ, người phụ nữ trẻ đang phơi thóc.
(Trần Hoài Dương, Miền xanh thẳm)
2 Hãy viết một câu có trạng ngữ là một từ. Mở rộng trạng ngữ của câu thành cụm từ và nêu tác dụng của việc dùng cụm từ làm thành phần trạng ngữ của câu.
TỪ LÁY
3 Tìm từ láy và nêu tác dụng của việc sử dụng từ láy trong các câu sau:
a. Trong tiếng mưa hình như có tiếng nước sông dâng cao, xiên xiết chảy.
b. Tấm thân bé bỏng của con chim vụt bút ra khỏi dòng nước và bay lên cao hơn lần cất cánh đầu tiên ở bãi cát.
c. Những đôi cánh mỏng manh run rẩy và đầy tự tin của bầy chim đã hạ xuống bên một lùmứa dãi bờ sông.
VĂN BẢN 2
TRƯỚC KHI ĐỌC
Hãy kể tên một số miền quê của Việt Nam mà em từng đến thăm hoặc biết tới qua tác phẩm nghệ thuật (tranh ảnh, phim, thơ văn,...). Nơi nào đã để lại cho em ấn tượng sâu sắc nhất?
ĐỌC VĂN BẢN
Đi lấy mật
Trích Đất rừng phương Nam(1), ĐOÀN GIỎI
Buổi sáng, đất rừng thật là yên tĩnh. Trời không gió, nhưng không khí vẫn mát lạnh. Cái lành lạnh của hơi nước sông ngòi, mương rạch, của đất ẩm và dưỡng khí
Hình dung
Khung cảnh thiên nhiên qua cái nhìn của nhân vật An.
(1) Đất rừng phương Nam là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Đoàn Giỏi. Tác phẩm gồm 20 chương, đã được dựng thành phim Đất phương Nam (1997). Đất rừng phương Nam kể về cuộc sống của cậu bé An, lấy bối cảnh là miền Tây Nam Bộ những năm 50 của thế kỉ XX. Vì chiến tranh, An bị lạc mất gia đình và trở thành một đứa trẻ lang thang. Cậu được bố mẹ Cò cứu mang và trở thành con nuôi của họ. Sống với gia đình Cò, An được yêu thương như con đẻ và cũng học hỏi được nhiều điều mới lạ, thú vị. Đoạn trích Đi lấy mật là tên chương 9, kể lại một lần An theo tía nuôi (cha nuôi) và Cò đi lấy mật ong trong rừng U Minh.
thảo mộc thở ra từ bình minh. Ánh sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm(1) rung rung, khiến ta nhìn cái gì cũng có cảm giác như là nó
thảo mộc thở ra từ bình minh. Ánh sáng trong vắt, hơi gợn một chút óng ánh trên những đầu hoa tràm(1) rung rung, khiến ta nhìn cái gì cũng có cảm giác như là nó bao qua một lớp thuỷ tinh. Tía nuôi tôi đi trước, bên hông lủng lẳng chiếc túi Theo dõi da beo, lưng mang cái gùi(2) bằng tre đan đã trát chai(3),
Chú ý những chi tiết miêu tả
tay cầm chà gạc(4). Lâu lâu, ông vung tay lên một cái, ngoại hình và cử chỉ của các đưa con dao rừng rất sắc phạt ngang một nhánh gai và nhân vật. dùng cái mẩu cong ở đầu lưỡi dao dài có đến sáu bảy tấc(5) ấy lôi phăng nhánh gai chắn đường vứt ra một bên để lấy lối đi. Thằng Cò đội cái thúng to tướng, trong thúng đựng một vò nước, mấy gói cơm nắm và cái áo ướt mồ hôi nó vừa cởi ra cuộn lại, trên thúng úp chiếc nón lá rách. Tôi đã chen vào giữa, quảy tòn ten một cái gùi bé mà má nuôi tôi đã bơi xuồng(6) đi mượn của nhà ai ngoài xóm bìa rừng từ chiều hôm qua. Con Luốc chạy tung tăng sục sạo trong các bụi cây.
Lần đầu tiên tôi theo tía nuôi tôi
và thằng Cò đi "ăn ong"(7) đây! Mấy hôm trước, má nuôi tôi đã kể tỉ mỉ cho tôi nghe cách gác kèo ong thế nào, nhưng tôi vẫn chưa hình dung được "ăn ong" ra sao. Những điều má nuôi tôi kể, trong các sách giáo khoa không thấy nói. Khoa học tự nhiên ở trường chỉ mới cho tôi một khái niệm chung chung về xã hội loài ong, về những lợi ích của con ong, đại khái vậy thôi. Hiển nhiên từ những thời xa xôi thuở con người ăn lông ở lỗ cho đến ngày nay, người ta vẫn đi tìm lấy mật rừng bằng cách theo dấu đường bay của những con ong về tổ. Người ta phải khó nhọc lắm mới đưa được con ong rừng về nuôi thành con ong nhà, vì như thế, việc lấy mật sẽ dễ dàng và bảo đảm hơn.
(1) Tràm: cây thân gỗ, vỏ cây dùng để trám thuyền, lá được sử dụng để làm dược liệu và tinh dầu. (2) Gùi: đồ vật đan bằng mây, tre; được người dân vùng núi dùng để đựng đồ đạc, thường mang trên lưng. (3) Chai: một loại nhựa cây, thường được dùng để trám vào các kẽ hở; quét, trát lên các đồ vật bằng tre, gỗ cho bền, không thấm nước. (4) Chà gạc: dao đi rừng của người dân tộc thiểu số ở một số vùng. (5) Tấc: đơn vị đo độ dài cũ, bằng một phần mười thước mộc (0,0425 m) hoặc bằng một phần mười thước đo vải (0,0645 m). (6) Xuồng: thuyền nhỏ không có mái che. (7) Ăn ong: nuôi và lấy mật ong rừng.
Trong kho tàng kinh nghiệm của những nhà nuôi ong trên thế giới ghi chép trong các sách vở mà tôi được nghe thầy giáo tôi kể, không thấy có nơi nào nói đến việc
Trong kho tàng kinh nghiệm của những nhà nuôi ong trên thế giới ghi chép trong các sách vở mà tôi được nghe thầy giáo tôi kể, không thấy có nơi nào nói đến việc lấy mật bằng cách gác kèo như má nuôi tôi đã bảo cho tôi nghe vừa rồi.
Thôi, dừng lại nghỉ một lát. Bao giờ thằng An đỡ mệt, ăn cơm xong hẵng đi! - Tía nuôi tôi ra lệnh cho chúng tôi như vậy.
Quả là tôi đã mệt thật. Tía nuôi tôi chỉ nghe tôi thở Theo dõi đằng sau lưng ông thôi mà biết chứ ông có quay lại nhìn
Chú ý những suy nghĩ của
tôi đâu! Chúng tôi đã bơi xuồng đi từ lúc gà vừa gáy rộ nhân vật An về tía nuôi, về Cò. canh tư. Thằng Cò thì coi bộ chưa thấm tháp gì. Cặp chân của nó như bộ giò nai, lội suốt ngày trong rừng còn chả mùi gì nữa là!
Tía nuôi tôi ngồi tựa lưng vào một gốc cây ngái, nhồi thuốc lá vào tẩu. Con chó săn trung thành bao giờ cũng ngồi bảo vệ bên chân chủ. Thằng Cò bưng vò nước ra, ngửa cổ kề miệng vào vò uống nước ừng ực. Bỗng nó đặt vò nước xuống, thúc vào lưng tôi:
Đố mày biết con ong mật là con nào? Hỏi xong, nó đưa tay trỏ lên phía trước mặt. Tôi đảo mắt nhìn khắp nơi vẫn không thấy gì. Rừng cây im lặng quá. Một tiếng lá rơi lúc này cũng có thể khiến người ta giật mình. Lạ quá, chim chóc chẳng nghe con nào kêu. Hay vẫn có tiếng chim ở một nơi xa lắm, vì không chú ý mà tôi không nghe chăng?
Cao quá đầu tôi một với tay, có những chấm đen không nhúc nhích. Đó là ruồi xanh đang bay đứng. Óng ánh lướt những lá bông súng dưới vũng kia là con chuồn chuồn bay ngang với những cánh mỏng và dài. Bé như hạt khế, cứ lắc lư lắc lư từ đất nhoi lên và đáp vào một cành ngải khô trên đầu tía nuôi tôi là điệu bay của con mối cánh.
Chịu thua mày đó! Tao không thấy con ong mật đâu cả. Thằng Cò nghe tôi chịu thua, nó bèn vênh mặt lên cười, quay sang tôi: - Bây giờ mày cứ nhìn kĩ vào khoảng cách giữa hai nhánh tràm cao kia! Ờ! Đúng rồi. Nhìn một chỗ trống ấy Theo dõi thôi nhá. Nó tới liền bây giờ. Cò giảng giải cho An
những gì?
Đã lâu lắm mà sao tôi chưa thấy gì cả. Tôi vừa toan đứng dậy thì tía nuôi tôi đã đến cầm tay tôi trỏ lên:
Đó, con thấy nó chưa? - Thấy rồi! Tôi kêu khe khẽ. Ờ, phải rồi! Phải hết sức tinh mắt, thính tai mới tìm được những tay sứ giả của bình minh này. Một con… hai con... ba con... Rồi một đàn mười mấy con bay nối nhau như một xâu chuỗi hạt cườm, trong những tầng xanh cây lá, có một cái
chấm nâu đen cỡ đầu đũa vụt qua rất nhanh. Trên những ngọn tràm cao, đang lướt qua một đàn li ti Hình dung như nắm trấu bay, phát ra những tiếng kêu eo... eo...
chấm nâu đen cỡ đầu đũa vụt qua rất nhanh. Trên những ngọn tràm cao, đang lướt qua một đàn li ti Hình dung như nắm trấu bay, phát ra những tiếng kêu eo... eo... Vẻ đẹp phong phú, sống
động của rừng.
eo... eo... Tiếng kêu thật nhỏ, không chú ý theo dõi thì không thể nào nghe được. Chúng tôi giở những nắm cơm vắt(1) ra. Ăn xong, bấy giờ bóng nắng mới bắt đầu lên. Gió cũng bắt đầu thổi rao rao theo với khối mặt trời tròn đang tuôn ánh sáng vàng rực xuống mặt đất. Một làn hơi đất nhè nhẹ toả lên, phủ mờ những bụi cây cúc áo, rồi nhè nhẹ tan dần theo hơi ấm mặt trời. Phút yên tĩnh của rừng ban mai dần dần biến đi. Chim hót líu lo. Nắng bốc hương hoa tràm thơm ngây ngất. Gió đưa mùi hương ngọt lan ra, phảng phất khắp rừng. Mấy con kì nhông nằm vươn mình phơi lưng trên gốc cây mục, sắc da lưng luôn luôn biến đổi từ xanh hoá vàng, từ vàng hoá đỏ, từ đỏ hoá tím xanh,... Con Luốc động đậy cánh mũi, rón rén mò tới. Nghe động tiếng chân con chó săn nguy hiểm, những con vật thuộc loại bò sát bốn chân, to hơn ngón chân cái kia, liền quật chiếc đuôi dài chạy tứ tán. Con núp chỗ gốc cây thì biến thành màu xám vỏ cây. Con đeo trên tấm lá ngái thì biến ra màu xanh lá ngái.
Rừng tràm, Đồng Tháp
Chúng tôi tiếp tục đi tới một cái trảng(2) rộng. Giữa vùng cỏ tranh khô vàng, gió thổi lao xao, một bầy chim hàng nghìn con vọt cất cánh bay lên. Chim áo già màu nâu, chim manh manh mỏ đỏ bóng như màu thuốc đánh móng tay, lại có bộ lông xám tro điểm những chấm trắng chấm đỏ li ti rất đẹp mắt... Những con chim nhỏ bay vù vù kêu líu ríu lượn vòng trên cao một chốc, lại đáp xuống phía sau lưng chúng tôi.
Chim đẹp quá, Cò ơi! - Tôi tặc lưỡi, kêu lên. - Thứ chim cỏ này mà đẹp gì! - Ở đây chim nhiều quá. […]
(1) Cơm vắt: cơm nắm. (2) Trảng: khoảng đất rộng không có cây hoặc ít cây giữa rừng hay giữa hai khu rừng.
Thứ đồ bỏ, không ăn thua gì đâu. Mày mà gặp "sân chim" thì mày sẽ biết... Nó nói một cách lơ là như vậy rồi cứ cắm cúi đội cái thúng đi. Tôi muốn hỏi về cái "sâ
Thứ đồ bỏ, không ăn thua gì đâu. Mày mà gặp "sân chim" thì mày sẽ biết... Nó nói một cách lơ là như vậy rồi cứ cắm cúi đội cái thúng đi. Tôi muốn hỏi về cái "sân chim", nhưng vì tự ái và nghĩ nếu mình gặp cái gì cũng hỏi thì nó sẽ khinh mình dốt, bèn im im đi tới. […] Tôi chẳng hỏi gì thêm, cứ lặng thinh. Nó cũng không thèm chú ý đến vẻ mặt khó đăm đăm của tôi, cứ nắm tay tôi lôi đi, lại còn khoát tay ra hiệu bảo tôi đi thật khẽ. Tôi nhìn theo ngón tay nó trỏ lên một kèo ong gác trên cây tràm thấp. Tổ ong kia rồi!
Sự mừng rỡ làm tôi quên phắt cái bực mình vừa qua. Tôi lại hỏi: - Sao biết nó về cây này mà gác kèo? - Thằng mau quên hé! Vậy chớ mấy bữa nay, má nói gì cho mày nghe đó? - Nó chành môi ra cười hì hì, trông cái miệng thấy ghét quá. Tôi ngước nhìn tổ ong như cái thúng, lúc nhúc không biết bao nhiêu ong, dần dần nhớ lại lời má nuôi tôi kể: - ... Rừng thì mênh mông, biết bao nhiêu cây! Một Tóm tắt cây còn biết bao nhiêu nhánh! Biết con ong sẽ đóng tổ Nội dung câu chuyện của má ở cây nào, nhánh nào? Có phải bạ chỗ nào nó cũng gởi nuôi An. mật đâu! Nhưng làm nghề nào rồi khắc phải thạo nghề ấy con ạ! - Má nuôi tôi đưa mắt trông ra những cánh rừng tràm lờ mờ khuất sau những bụi cây bình bát dại mọc quanh hè, ngẫm nghĩ một lúc rồi nói tiếp: - Gió thổi có hướng, cây tốt cũng có vùng. Chọn được vùng rừng tốt, biết rằng đến mùa xuân tràm sẽ kết nhiều hoa, mình mới định chỗ gác kèo. Phải xem hướng gió, tính trước đường bay của ong mật. Đó là những chỗ "ấm", cây dày, không bị ngọn gió thốc thẳng vào và ít khi có những dấu chân người đi bắt rắn, người đốn củi lội đến...
Kèo là gì, hở má? - Ờ, kèo cũng là nhánh tràm thôi. Nó to cỡ cổ tay, mang nhiều nhánh con tua tủa vào quãng giữa. Mình chặt lấy một khúc dài non thước tây, một đầu có cái nhánh con dùng làm cái mấu. Chọn được vùng rồi, còn phải chọn cây nào vừa kín, vừa im, có ít nhiều bóng nắng kia! Con ong không thích đóng chỗ rợp. Ở những nơi đó, bao giờ mật cũng chua, dễ bị ẩm. Gác chiếc kèo chênh chếch lên cây tràm xong, phải "rửa" bớt(1) những nhánh chung quanh để khi lấy mật khỏi vướng. Kèo chặt vào khoảng giữa tháng Mười một. Những cơn mưa muộn sẽ rửa hết mùi sắt ở hai đầu kèo bị dao rựa chặt, và nhánh kèo cũng đủ thời gian khô đi, cũ đi, giống với những nhánh khô khác trên cây. Kèo nào còn mùi sắt của con dao mới chặt thì con ong mật chúa kị, nó không bao giờ đóng tổ đâu...
(1) Rửa bớt: tỉa, chặt bớt (nghĩa trong văn bản).
Coi bộ cũng không khó lắm hở má? Má nuôi tôi vò đầu tôi, cười rất hiền lành. Tôi cũng cười theo. Bà đằng hắng, nói: - Chẳng dễ đâu, con ạ! Nhiều người trở thành
Coi bộ cũng không khó lắm hở má? Má nuôi tôi vò đầu tôi, cười rất hiền lành. Tôi cũng cười theo. Bà đằng hắng, nói: - Chẳng dễ đâu, con ạ! Nhiều người trở thành "dân
Theo dõi
ăn ong" đã năm mười năm trong nghề, vậy mà gác kèo xong tới mùa mật, mang gùi lên lưng vào rừng, lại mang Ngôn ngữ đối thoại của
các nhân vật.
gùi không trở về.
Ủa! Tại sao vậy, má? - Định không đúng chỗ, đoán sai hướng gió chứ sao! Mắt tôi vẫn không rời tổ ong lúc nhúc trên cây tràm thấp kia. […] Tôi ngồi nhìn lên kèo ong, thấy nó cũng giống Theo dõi như những tổ ong rừng vẽ trong sách vậy thôi. Nhưng
Sự khác biệt trong cách
có điều khác là không phải ngẫu nhiên mà nó đóng trên "thuần hoá" ong rừng của một cành cây nào đó. Chính tía nuôi tôi đã định sẵn cho người dân vùng U Minh. chúng nó một nơi về đóng tổ... Theo như lời thầy giáo của tôi bảo, người La Mã xưa kia nuôi ong trong những cái tổ bằng đồng hình chiếc vại, có đục thủng nhiều hàng lỗ con vòng quanh miệng, quanh đáy. Người Mễ Tây Cơ(1) làm tổ nuôi ong bằng đất nung, như một cái ống có hai cái loa hai đầu, giữa lưng ống đắp một hình đầu người nho nhỏ làm vật trang trí, dùng hai sợi thừng treo lên cành cây. Người Ai Cập nuôi ong trong những tổ bằng sành, hình ống dài, xếp chồng lên nhau, đặt trên bãi cỏ. Ở Phi châu người ta đục ruỗng một khúc thân cây, vít kín hai đầu, chỉ chừa một lỗ khoét nho nhỏ cho ong ra vào, treo lên bằng một đoạn dây nhỏ có mấu. Ở xứ Tây Âu, tổ ong lại lợp, bện bằng rơm đủ kiểu, hình thù khác nhau... Không có nơi nào, xứ nào có kiểu tổ ong hình nhánh kèo như vùng U Minh này cả. Những con ong vẫn nối cánh nhau bay đi bay về trên tổ, trước mặt chúng tôi kia. Con nào cũng lượn một vòng tròn trước khi đáp xuống. Người ta bảo rằng đó là vũ điệu báo hiệu của loài ong. [...] Chúng tôi ngồi ăn cơm dưới một bụi cây tràm râm mát. Bóng nắng nghiêng nghiêng rọi chếch xuống chỗ tôi ngồi. Mấy con gầm ghì(2) sắc lông màu xanh đang tranh nhau với bầy vẹt mỏ đỏ, giành mổ những quả chín trên cây bồ đề. Lâu lâu, vài ba trái quả vàng rụng rơi lộp bộp, lăn vào cạnh chân tôi như hòn bi.
(Đoàn Giỏi, Đất rừng phương Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 2015, tr. 148 - 159)
(1) Mễ Tây Cơ: Mê-xi-cô (Mexico). (2) Gầm ghì: một loài chim thuộc họ bồ câu.
Thực hành tiếng Việt MỞ RỘNG THÀNH PHẦN CHÍNH CỦA CÂU BẰNG CỤM TỪ Trong đoạn văn sau, Đoàn Giỏi đã sử dụng các câu mở rộng thành phần vị ngữ bằng cụm từ để miêu
Thực hành tiếng Việt
MỞ RỘNG THÀNH PHẦN CHÍNH CỦA CÂU BẰNG CỤM TỪ
Trong đoạn văn sau, Đoàn Giỏi đã sử dụng các câu mở rộng thành phần vị ngữ bằng cụm từ để miêu tả cảnh vật ở rừng U Minh. Hãy chỉ ra tác dụng của việc mở rộng thành phần vị ngữ.
VĂN BẢN 3 ĐỌC VĂN BẢN Ngàn sao làm việc VÕ QUẢNG Bóng chiều toả ra nhanh Trên các bờ bụi rậm Đồng quê đang xanh thẳm Bỗng chốc trở tối mò Trâu tôi đã ăn no Bước
VĂN BẢN 3
ĐỌC VĂN BẢN
Ngàn sao làm việc
VÕ QUẢNG
Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẳm
Bỗng chốc trở tối mò
Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao
Sông Ngân Hà(1) nao nao Chảy giữa trời lồng lộng. Sao Thần Nông(2) toả rộng Một chiếc vó(3) bằng vàng, Đón những sao dọc ngang Như tôm cua bơi lội. Phía đông na
Sông Ngân Hà(1) nao nao Chảy giữa trời lồng lộng. Sao Thần Nông(2) toả rộng Một chiếc vó(3) bằng vàng, Đón những sao dọc ngang Như tôm cua bơi lội. Phía đông nam rời rợi Ai đặt một chiếc nơm(4) Rờ rỡ ngôi sao Hôm(5) Như đuốc đèn soi cá. Bên trời thêm rộn rã Cả nhóm Đại Hùng tinh(6) Buông gàu bên sông Ngân Suốt đêm lo tát nước... Ngàn sao vui làm việc Mãi đến lúc hừng đông Phe phẩy chiếc quạt hồng Báo ngày lên về nghỉ.
(Tuyển tập Võ Quảng, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr. 170 - 171)
SAU KHI ĐỌC
Võ Quảng (1920 - 2007) quê ở Quảng Nam (nay thuộc thành
phố Đà Nẵng). Ông sáng tác thơ, truyện, viết kịch bản phim hoạt hình và dịch một số tác phẩm văn học nổi tiếng của thế giới. Một đời cầm bút, Võ Quảng đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em. Thơ viết cho thiếu nhi của Võ Quảng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo; ngôn ngữ, hình ảnh giàu chất tạo hình, giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui. Nhiều tác phẩm của ông được các thế hệ người đọc yêu thích: Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quê nội (1974),…
(1) Ngân Hà: tên gọi của dải thiên hà, gồm rất nhiều ngôi sao tạo thành, còn gọi là sông Ngân. Vào những đêm trời quang, Ngân Hà hiện lên thành một dải trắng bạc nổi bật trên nền trời. (2) Thần Nông: chòm sao gồm 10 ngôi gợi liên tưởng đến hình dáng của Thần Nông (một vị thần chuyên trông coi nghề nông theo quan niệm dân gian), trong đó 5 ngôi xếp thành hình cái mũ cánh chuồn, 5 ngôi còn lại tạo nên một đường cong trông giống hình tấm lưng hơi cúi xuống. (3) Vó: dụng cụ gồm có một mảnh lưới, bốn góc mắc vào bốn gọng tre để kéo, dùng để bắt tôm, cá. (4) Nơm: dụng cụ đan bằng tre, hình chuông, dùng để bắt cá. (5) Sao Hôm: tên gọi thông thường của sao Kim khi được nhìn thấy vào chiều tối. (6) Đại Hùng tinh: còn được gọi là chòm sao Bắc Đẩu, gồm 7 ngôi sao, có hình dáng như một chiếc gàu tát nước.
Viết Tóm tắt văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài Để trình bày ngắn gọn nội dung chính của một văn bản, phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu,... người
Viết
Tóm tắt văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài
Để trình bày ngắn gọn nội dung chính của một văn bản, phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu,... người ta thường sử dụng thao tác tóm tắt văn bản. Ở bài học này, em sẽ học cách tóm tắt một văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài, đảm bảo trung thành với nội dung chính của văn bản gốc.
Yêu cầu đối với văn bản tóm tắt:
Phản ánh đúng nội dung của văn bản gốc.
Trình bày được những ý chính, những điểm quan trọng của văn bản gốc.
Sử dụng các từ ngữ quan trọng của văn bản gốc.
Đáp ứng được những yêu cầu khác nhau về độ dài của văn bản tóm tắt.
Phân tích bài tóm tắt tham khảo
Tóm tắt văn bản Sơn Tinh, Thuỷ Tinh trong Ngữ văn 6, tập hai
Văn bản 1
Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái xinh đẹp tên là Mị Nương. Sơn Tinh – chúa miền non cao và Thuỷ Tinh – chúa miền nước thẳm đều đến cầu hôn Mị Nương. Sơn Tinh mang đầy đủ lễ vật đến trước theo đúng yêu cầu của
nhà vua và rước được Mị Nương về. Thuỷ Tinh nổi giận, dâng nước đánh Sơn Tinh ròng rã mấy tháng nhưng bị thua, đành rút quân. (Nhóm biên soạn) Văn bản 2 Hùng Vư
nhà vua và rước được Mị Nương về. Thuỷ Tinh nổi giận, dâng nước đánh Sơn Tinh ròng rã mấy tháng nhưng bị thua, đành rút quân.
(Nhóm biên soạn)
Văn bản 2
Hùng Vương thứ mười tám có một người con gái xinh đẹp tên là Mị Nương. Nhà vua muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng. Một hôm, có hai chàng trai đến cầu hôn: một người là Sơn Tinh - chúa miền non cao, một người là Thuỷ Tinh - chúa miền nước thẳm. Cả hai tài giỏi ngang nhau nên nhà vua không biết lựa chọn ai. Nhà vua bèn phán rằng hôm sau ai đem lễ vật đến trước sẽ được cưới Mị Nương. Lễ vật gồm: một trăm ván cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ một đôi. Hôm sau, Sơn Tinh đem đầy đủ lễ vật đến trước, rước được Mị Nương về. Thuỷ Tinh đến sau, không lấy được vợ, nổi giận đùng đùng đem quân đuổi đánh để cướp Mị Nương. Thuỷ Tinh hô mưa gọi gió, dâng nước sông lên cuồn cuộn đánh Sơn Tinh. Nhưng Sơn Tinh không hề nao núng mà bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi chặn dòng nước lũ. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng, sức của Thuỷ Tinh đã đuối nên đành chịu thua. Hằng năm, Thuỷ Tinh vẫn dâng nước lũ đánh Sơn Tinh nhưng đều thất bại.
(Nhóm biên soạn)
Thực hành viết theo các bước 1 TRƯỚC KHI TÓM TẮT
Mục đích viết
a. Đọc kĩ văn bản gốc Trình bày ngắn gọn nội dung Muốn tóm tắt một văn bản, cần đọc kĩ để hiểu đúng chính của một văn bản để nội dung của văn bản. lưu giữ làm tài liệu hoặc chia sẻ với người đọc.
b. Xác định nội dung chính cần tóm tắt
Người đọc
Xác định nội dung cốt lõi của toàn văn bản.
Thầy cô, bạn bè và những - Tìm ý chính của từng phần hoặc đoạn và xác định người quan tâm đến văn bản.
quan hệ giữa các phần hoặc các đoạn trong văn bản.
Tìm các từ ngữ quan trọng của văn bản. - Ghi ra giấy những ý chính của văn bản. Ví dụ: Khi tóm tắt văn bản Bầy chim chìa vôi, em cần thực hiện các bước sau: - Xác định đúng nội dung cốt lõi của văn bản: chuyện hai anh em Mên và Mon đi đò ra bãi cát giữa sông để cứu tổ chim sắp bị ngập nước và xúc động khi chứng kiến cảnh đàn chim bé bỏng "bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay lên".
– Xác định các phần trong văn bản: theo dõi các phần của văn bản trong sách giáo khoa (đã được đánh số thứ tự). – Tìm ý chính của từng phần: có thể dùng sơ đồ t
– Xác định các phần trong văn bản: theo dõi các phần của văn bản trong sách giáo khoa (đã được đánh số thứ tự).
– Tìm ý chính của từng phần: có thể dùng sơ đồ truyện để ghi lại ý chính của văn bản. Khi tóm tắt văn bản tự sự, cần quan tâm đến bối cảnh, nhân vật và sự việc tiêu biểu. Tham khảo sơ đồ sau:
Bối cảnh
– Ở đâu?
– Khi nào?
Nhân vật
Nhân vật
Sự việc 1
Sự việc 2
Sự việc 3
c. Xác định yêu cầu về độ dài của văn bản tóm tắt
– Xác định ý lớn và ý nhỏ của văn bản gốc.
– Tuỳ theo yêu cầu về độ dài của văn bản tóm tắt mà lựa chọn ý lớn hay ý nhỏ từ văn bản gốc. Chẳng hạn, khi tóm tắt văn bản tự sự, để có văn bản tóm tắt ngắn gọn, cần chú ý lựa chọn các sự việc chính; còn để văn bản tóm tắt có dung lượng lớn hơn, cần mở rộng các sự việc bằng những chi tiết tiêu biểu trong văn bản gốc.
2. VIẾT VĂN BẢN TÓM TẮT
– Sắp xếp các ý chính của văn bản gốc theo một trình tự hợp lí.
– Dùng lời văn của em kết hợp với những từ ngữ quan trọng trong văn bản gốc để viết văn bản tóm tắt.
– Chú ý bảo đảm yêu cầu về độ dài của văn bản tóm tắt.
3. CHỈNH SỬA
Rà soát, tự chỉnh sửa văn bản tóm tắt của em theo những gợi ý trong bảng sau:
Yêu cầu, Gợi ý chỉnh sửa
Nội dung đúng với văn bản gốc., Lược bỏ các thông tin không có trong văn bản gốc và những ý kiến bình luận của người tóm tắt (nếu có).
Trình bày được những ý chính, những điểm quan trọng của văn bản gốc., Bổ sung những ý chính, những điểm quan trọng của văn bản gốc (nếu thiếu); lược bớt các chi tiết thừa, không quan trọng (nếu có).
Trao đổi về một vấn đề mà em quan tâm Sử dụng những từ ngữ quan trọng của văn bản gốc., Bổ sung những từ ngữ quan trọng có trong văn bản gốc (nếu thiếu). Đáp ứn
Trao đổi về một vấn đề mà em quan tâm
Sử dụng những từ ngữ quan trọng của văn bản gốc., Bổ sung những từ ngữ quan trọng có trong văn bản gốc (nếu thiếu).
Đáp ứng được những yêu cầu khác nhau về độ dài., Rút gọn hoặc phát triển văn bản tóm tắt để bảo đảm yêu cầu về độ dài.
Bảo đảm yêu cầu về chính tả và diễn đạt., Rà soát lỗi chính tả và diễn đạt (dùng từ, đặt câu,...). Chỉnh sửa nếu phát hiện lỗi.
Nói và nghe
Trao đổi về một vấn đề mà em quan tâm
Câu chuyện của các bạn nhỏ trong hai văn bản Bầy chim chìa vôi và Đi lấy mật chắc hẳn gợi cho em nhiều suy nghĩ và cảm xúc về thế giới tuổi thơ. Từ thực tế cuộc sống của mình và những điều học hỏi được qua sách báo, phương tiện nghe nhìn, em hãy trao đổi với các bạn về một vấn đề mà em quan tâm.
1 TRƯỚC KHI NÓI
a. Chuẩn bị nội dung nói
– Dựa vào chính thực tế cuộc sống của mình và những điều em biết được từ sách báo, phương tiện nghe nhìn để trao đổi về một vấn đề mà em cho là quan trọng, có ý nghĩa. Tham khảo một số đề tài sau:
Trẻ em và việc sử dụng các thiết bị công nghệ (ti vi, điện thoại, máy tính,...).
Trẻ em với nguyện vọng được người lớn lắng nghe, thấu hiểu.
Trẻ em với việc học tập.
Bạo hành trẻ em (trong gia đình, ngoài xã hội).
Ngoài những đề tài gợi ý trên, em cũng có thể tự tìm một đề tài mà mình am hiểu và cảm thấy có ý nghĩa để trình bày.
Mục đích nói
Thuyết phục người nghe về ý kiến của em trước một vấn đề mà em cho là quan trọng, có ý nghĩa.
Người nghe
Thầy cô, bạn bè và những người quan tâm đến vấn đề được trao đổi.
– Thu thập tư liệu cho nội dung trình bày:
Nhớ lại những trải nghiệm của em.
Tìm thêm thông tin liên quan từ sách báo hoặc các phương tiện nghe nhìn để có được cái nhìn toàn diện hơn về đề tài muốn nói. Ghi ngắn gọn một số ý quan trọng c
Tìm thêm thông tin liên quan từ sách báo hoặc các phương tiện nghe nhìn để có được cái nhìn toàn diện hơn về đề tài muốn nói.
Ghi ngắn gọn một số ý quan trọng cần trình bày như: vấn đề trao đổi và các biểu hiện của nó, ý kiến của em, tác động của vấn đề đối với trẻ em và bài học rút ra sau khi bàn luận.
Ví dụ: Trao đổi về vấn đề trẻ em cần được người lớn lắng nghe, thấu hiểu. Em có thể tìm ý cho nội dung trao đổi bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi như: + Theo em, người lớn đã thực sự lắng nghe, thấu hiểu những tâm tư, nguyện vọng của trẻ em chưa? Những biểu hiện nào cho thấy nhiều người lớn chưa thực sự lắng nghe và thấu hiểu trẻ?
Chuyện gì có thể xảy ra khi người lớn không lắng nghe, thấu hiểu trẻ? Em có thể lấy bằng chứng từ chính trải nghiệm của mình hoặc từ sách báo và các phương tiện nghe nhìn để thuyết phục người nghe.
Trẻ em mong muốn được người lớn lắng nghe, thấu hiểu những điều gì? + Trẻ em cần phải làm gì khi chưa được người lớn lắng nghe, thấu hiểu? - Dự kiến các nội dung người nghe có thể trao đổi để chuẩn bị phản hồi.
b. Tập luyện
Để trình bày tốt bài nói của mình, trước đó, em cần chú ý tập luyện. Em có thể tập trình bày trước nhóm bạn hoặc người thân và lắng nghe các ý kiến nhận xét, góp ý để hoàn thiện bài nói.
2 TRÌNH BÀY BÀI NÓI
Với tư cách người trình bày bài nói, em cần lưu ý: - Trình bày bài nói theo các nội dung đã được chuẩn bị. Em có thể sử dụng các ghi chú để không bỏ sót những nội dung quan trọng:
Nêu vấn đề mà em quan tâm, quan điểm của em về vấn đề, tầm quan trọng của vấn đề đó đối với trẻ em và cả xã hội. Có thể thu hút người nghe bằng cách kể lại một câu chuyện ngắn gắn với trải nghiệm của em để giới thiệu vấn đề.
Trình bày các khía cạnh của vấn đề với lí lẽ và bằng chứng thuyết phục; kích thích sự trao đổi, đối thoại của người nghe.
Chú ý sử dụng từ ngữ để liên kết các ý trong bài trình bày như: trước tiên, mặt khác, hơn nữa, không chỉ vậy,… giúp cho các ý chính được thể hiện rõ ràng, chặt chẽ.
Điều chỉnh giọng nói, tốc độ nói; sử dụng cử chỉ, điệu bộ phù hợp với nội dung trình bày và thể hiện sự tương tác với người nghe.
Có thể sử dụng các phương tiện hỗ trợ (tranh ảnh, đoạn phim ngắn, bài thơ, bài hát,...) để bài nói thuyết phục hơn.
Củng cố, mở rộng Hãy kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền nội dung phù hợp: STT, Văn bản, Đề tài, Ấn tượng chung về văn bản 1, Bầy chim chia sẻ 2, Đi lấy mật 3,
Củng cố, mở rộng
Hãy kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền nội dung phù hợp:
STT, Văn bản, Đề tài, Ấn tượng chung về văn bản
1, Bầy chim chia sẻ
2, Đi lấy mật
3, Ngàn sao làm việc
Chủ đề chung của ba văn bản đọc là Bầu trời tuổi thơ. Em thích chi tiết hoặc nhân vật nào trong ba văn bản đó? Hãy cho biết trải nghiệm nào của bản thân giúp em hiểu thêm về chi tiết hoặc nhân vật.
Thực hành đọc Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau: Đề tài của văn bản. Những chi tiết miêu tả suy nghĩ của nhân vật Tốt-tô-chan (Tottochan)
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
Đề tài của văn bản.
Những chi tiết miêu tả suy nghĩ của nhân vật Tốt-tô-chan (Tottochan) về Ya-ma-mô-tô Ya-sư-a-ki (Yamamoto Yasuaki).
Đặc điểm tính cách của hai nhân vật Tốt-tô-chan và Ya-ma-mô-tô Ya-sư-a-ki.
Bài học cuộc sống được gợi ra từ câu chuyện.
Ngồi nhà trên cây⁽¹⁾
Trích Tốt-tô-chan bên cửa sổ⁽²⁾, CƯ-RÔ-YA-NA-GI TÊ-SƯ-CÔ⁽³⁾ (Kuroyanagi Tetsuko)
[...] Khi ấy, một bạn nam ngồi phía sau Tốt-tô-chan đứng dậy đi lên bảng. Trên tay bạn cầm quyển vở. Có vẻ như bạn định đến chỗ cô giáo, cô đang giảng bài cho một bạn khác ở bàn bên cạnh bảng đen. Khi thấy bạn đi qua trước mặt, Tốt-tô-chan bèn thôi không nhìn ngang nhìn ngửa nữa, mà ngồi chống cằm, dán mắt vào nhìn bạn đi. Mỗi lần bạn bước đi, cái chân lại bị kéo lê theo. Người bạn lắc lư rất mạnh. Ban đầu Tốt-tô-chan còn tưởng bạn cố tình làm thế. Nhưng khi nhìn được một lúc, Tốt-tô-chan hiểu ra không phải bạn cố tình mà nó là như thế.
(1) Nhan đề do người biên soạn đặt.
(2) Tốt-tô-chan bên cửa sổ là tự truyện của Cư-rô-ya-na-gi Tê-sư-cô. Tác phẩm kể về cuộc sống của cô bé Tốt-tô-chan (chan là hậu tố trong tiếng Nhật dùng để cấu tạo tên gọi theo cách thân mật) với những trải nghiệm phong phú, thú vị ở trường Tô-mô-e (Tomoe). Thầy hiệu trưởng trường Tô-mô-e đã có ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đối với cuộc đời của Tốt-tô-chan và nhiều học trò khác.
(3) Cư-rô-ya-na-gi Tê-sư-cô sinh năm 1933 ở Tô-ki-ô (Tokyo), là nhà văn, diễn viên, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Nhật Bản. Bà từng được bổ nhiệm làm Đại sứ thiện chí của UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc).
Khi bạn nam đó quay về chỗ ngồi, ánh mắt bạn bắt gặp ánh mắt Tốt-tô-chan, cô bé vẫn còn đang chống cằm nhìn. Bạn nhìn Tốt-tô-chan và mỉm cười. Tốt-tô-chan cũng
Khi bạn nam đó quay về chỗ ngồi, ánh mắt bạn bắt gặp ánh mắt Tốt-tô-chan, cô bé vẫn còn đang chống cằm nhìn. Bạn nhìn Tốt-tô-chan và mỉm cười. Tốt-tô-chan cũng vội mỉm cười đáp lại. Khi bạn ngồi vào ghế, bạn ngồi được vào ghế cũng lâu hơn các bạn khác, Tốt-tô-chan quay hẳn người xuống, hỏi:
Sao cậu lại đi như thế? Bạn nam nhẹ nhàng trả lời Tốt-tô-chan bằng giọng hiền lành. Tuy vậy giọng bạn nghe rất lanh lợi:
Mình bị bại liệt. - Bại liệt? Tốt-tô-chan hỏi lại vì chưa nghe thấy từ đó bao giờ. Bạn nam lại hạ thấp giọng hơn:
Đúng rồi, bại liệt. Không chỉ có chân đâu. Cả tay nữa… Nói xong, bạn ấy chìa tay ra, bàn tay với những ngón dài co quắp như dính cả vào nhau. Tốt-tô-chan nhìn bàn tay trái đó của bạn, lo lắng hỏi:
Không chữa được à? Bạn nam không nói gì. Tốt-tô-chan thấy buồn vì nghĩ mình đã hỏi điều không phải. Nhưng ngay lập tức, bạn ấy đã cất giọng hồ hởi:
Mình tên là Ya-ma-mô-tô Ya-sư-a-ki. Còn cậu? Tốt-tô-chan rất vui khi nghe thấy giọng nói khoẻ khoắn đó, liền nói thật to: - Tốt-tô-chan! Tình bạn của Ya-ma-mô-tô Ya-sư-a-ki và Tốt-tô-chan đã bắt đầu như thế đó. […] Ngày tiếp theo của ngày tiếp theo của buổi "dã ngoại" ở hội trường là ngày Tốt-tô-chan có một cuộc phiêu lưu mạo hiểm. Đó là cuộc hẹn với Ya-sư-a-ki-chan. Một cuộc hẹn hoàn toàn bí mật với bố, mẹ và cả người nhà Ya-sư-a-ki-chan nữa. Hẹn gì mà ghê vậy? À, chả là Tốt-tô-chan hẹn Ya-sư-a-ki-chan đến thăm cây của mình ấy mà. Gọi là cây của Tốt-tô-chan nhưng thật ra đó là một cái cây ở trường Tô-mô-e, mỗi học sinh trường Tô-mô-e được chọn riêng cho mình một cái cây để leo trèo. Cây của Tốt-tô-chan mọc ở góc sân trường, cạnh hàng rào, quay ra con đường nhỏ dẫn đến Cư-hôn-bứt-sư (Kuhonbutsu). Cây đó khá to, lúc trèo tuy hơi trơn nhưng nếu trèo được lên rồi thì chỗ cách mặt đất khoảng hai mét sẽ có một cái chạc đôi, cái chạc này lại hơi trũng xuống trông giống như cái võng. Vào giờ ra chơi hoặc sau khi tan học, Tốt-tô-chan thường leo lên đó, ngồi ngắm nhìn cảnh vật ở xa, ngắm bầu trời hoặc mọi người qua lại. […]
Tuy nhiên, Ya-sư-a-ki-chan bị liệt nên chưa bao giờ trèo cây cũng như không có cây riêng. Tốt-tô-chan quyết định sẽ mời Ya-sư-a-ki-chan lên cây của mình nên đã
Tuy nhiên, Ya-sư-a-ki-chan bị liệt nên chưa bao giờ trèo cây cũng như không có cây riêng. Tốt-tô-chan quyết định sẽ mời Ya-sư-a-ki-chan lên cây của mình nên đã hẹn với Ya-sư-a-ki-chan hôm nay. Tốt-tô-chan phải giữ bí mật vì sợ thế nào mọi người cũng phản đối.
[…] Khi Tốt-tô-chan đến trường với tấm vé tháng xe điện vẫn còn lúc lắc trên cổ thì đã thấy Ya-sư-a-ki-chan đứng cạnh luống hoa trong sân trường không có bóng người. Ya-sư-a-ki-chan chỉ hơn Tốt-tô-chan có một tuổi thôi nhưng lúc nào cũng nói năng như thể lớn hơn nhiều lắm.
Trông thấy Tốt-tô-chan, Ya-sư-a-ki-chan kéo lê đôi chân, tay vươn ra đằng trước, chạy lại phía Tốt-tô-chan. Nghĩ đây là một cuộc phiêu lưu hoàn toàn bí mật, Tốt-tô-chan càng thấy phấn chấn hơn, cứ nhìn mặt Ya-sư-a-ki-chan rồi cười "hi hi". Ya-sư-a-ki-chan cũng cười theo. Sau đó, Tốt-tô-chan dẫn Ya-sư-a-ki-chan lại cái cây của mình. Như đã tính toán từ tối hôm trước, Tốt-tô-chan chạy đến kho đồ của bác quản trường, khệ nệ kéo ra một cái thang, dựng vào chỗ chạc đôi, nhanh chóng leo lên, giữ chặt đầu thang ở bên trên và nói vọng xuống:
Được rồi đấy, cậu leo lên đi! Nhưng cả chân và tay Ya-sư-a-ki-chan đều rất yếu, không tài nào trèo lên được, dù chỉ là bậc đầu tiên. Thấy thế, Tốt-tô-chan lại thoăn thoắt leo xuống, lần này, Tốt-tô-chan đứng bên dưới, đỡ mông của Ya-sư-a-ki-chan và đẩy lên. Nhưng Tốt-tô-chan vừa nhỏ vừa gầy nên chỉ đỡ mông của Ya-sư-a-ki-chan thôi cũng hết sức rồi, chẳng còn sức đâu mà giữ cái thang đang đung đưa đung đưa nữa. Ya-sư-a-ki-chan bỏ chân ra khỏi bậc thang, im lặng, đứng cạnh cái thang, mắt nhìn xuống dưới. Lần đầu tiên Tốt-tô-chan cảm thấy việc này khó hơn mình tưởng. Làm thế nào bây giờ…
Nhưng dù thế nào thì Tốt-tô-chan cũng muốn Ya-sư-a-ki-chan trèo lên cây của mình vì Ya-sư-a-ki-chan đang rất háo hức. Tốt-tô-chan đi một vòng rồi dừng lại trước mặt Ya-sư-a-ki-chan, lúc này đang trông có vẻ buồn buồn. Tốt-tô-chan phồng má ra làm trò và dõng dạc tuyên bố:
Cậu đợi nhé! Tớ vừa nghĩ ra cái này hay cực! Sau đó, Tốt-tô-chan lại chạy đến kho đồ, lôi hết cái này tới cái khác ra để xem đây có phải là cái hay cực không. Cuối cùng, Tốt-tô-chan phát hiện ra một cái thang gấp.
Cái này thì không sợ rung nên chẳng cần phải giữ. Tốt-tô-chan kéo cái thang ra chỗ cái cây. Tốt-tô-chan không ngờ là mình lại khoẻ
đến thế. Lúc dựng cái thang lên thì nó cũng vừa gần đến chỗ chạc đôi. Tốt-tô-chan bảo Ya-sư-a-ki-chan, giọng như chị nói với em trai: Được chưa? Đừng sợ! Nó khô
đến thế. Lúc dựng cái thang lên thì nó cũng vừa gần đến chỗ chạc đôi. Tốt-tô-chan bảo Ya-sư-a-ki-chan, giọng như chị nói với em trai:
Được chưa? Đừng sợ! Nó không rung nữa đâu. Ya-sư-a-ki-chan nhìn cái thang với ánh mắt e dè rồi quay sang nhìn Tốt-tô-chan đang đầm đìa mồ hôi. Ya-sư-a-ki-chan cũng đầm đìa mồ hôi. Ya-sư-a-ki-chan ngước nhìn lên cái cây, sau đó, đặt bàn chân lên bậc thang đầu tiên với vẻ rất quyết tâm.
Cả Tốt-tô-chan và Ya-sư-a-ki-chan đều không rõ phải mất bao lâu để Ya-sư-a-ki-chan leo lên được bậc trên cùng. Dưới cái nắng hè gay gắt, cả hai chẳng nghĩ ngợi gì hết. Giờ chỉ cần Ya-sư-a-ki-chan leo được lên trên thôi. Tốt-tô-chan đứng bên dưới, tay nâng chân Ya-sư-a-ki-chan, còn đầu thì đỡ mông của Ya-sư-a-ki-chan. Ya-sư-a-ki-chan cũng hết sức cố gắng, cuối cùng cũng đã leo được lên bậc trên cùng.
Hoan hô! Nhưng giờ mới gọi là giây phút tuyệt vọng. Lúc này, Tốt-tô-chan đã leo lên chỗ chạc đôi. Ya-sư-a-ki-chan ở bậc trên cùng của cái thang, nhưng Tốt-tô-chan có kéo thế nào cũng không thể đưa Ya-sư-a-ki-chan từ trên cái thang sang bên cái cây được. Ya-sư-a-ki-chan vẫn bám vào cái thang, đưa mắt nhìn Tốt-tô-chan. Đột nhiên, Tốt-tô-chan muốn oà lên khóc.
Không thể thế này được. Mình mời Ya-sư-a-ki-chan lên cây của mình để chỉ cho Ya-sư-a-ki-chan xem rất nhiều thứ cơ mà…
Nhưng Tốt-tô-chan không khóc. Tốt-tô-chan mà khóc thì thế nào Ya-sư-a-ki-chan cũng sẽ khóc theo.
Tốt-tô-chan cầm bàn tay có các ngón đang dính chặt vào nhau vì bại liệt của Ya-sư-a-ki-chan. Bàn tay có các ngón tay to và dài hơn nhiều ngón tay của Tốt-tô-chan. Tốt-tô-chan cứ nắm bàn tay đó một lúc lâu, rồi nói:
Cậu hãy nằm xuống đi, giống như lúc ngủ ấy. Mình sẽ thử kéo sang. Chắc chắn người lớn sẽ hét toáng lên khi trông thấy cảnh tượng lúc này: Ya-sư-a-ki-chan nằm sấp trên cái thang còn Tốt-tô-chan đứng trên chạc đôi, với tay sang. Hai bạn đã ở trong một tư thế nguy hiểm như thế đó.
[…] Bàn tay nhỏ bé của Tốt-tô-chan nắm chặt bàn tay của Ya-sư-a-ki-chan, cố gắng kéo bạn sang bên cái cây với tất cả sức lực của mình.
Thi thoảng, những đám mây lớn kéo tới che cho hai bạn khỏi cái nắng đang thiêu đốt.
Cuối cùng, hai bạn cũng có thể ngồi đối diện nhau trên cùng một cái cây. Tốt-tô-chan đưa tay vuốt mái tóc rẽ ngôi, cúi chào Ya-sư-a-ki-chan: Chào mừng cậu đến n
Cuối cùng, hai bạn cũng có thể ngồi đối diện nhau trên cùng một cái cây. Tốt-tô-chan đưa tay vuốt mái tóc rẽ ngôi, cúi chào Ya-sư-a-ki-chan:
Chào mừng cậu đến nhà tớ! Ya-sư-a-ki-chan dựa vào thân cây, cười e thẹn: - Xin phép cậu.
Đây là lần đầu tiên Ya-sư-a-ki-chan được nhìn thấy những cảnh vật như thế trong đời. Ya-sư-a-ki-chan sung sướng nói:
Trèo lên cây là thế này hả, giờ tớ mới biết. Sau đó hai bạn ngồi trên cây và nói rất nhiều chuyện.
(Cư-rô-ya-na-gi Tê-sư-cô, Tốt-tô-chan bên cửa sổ, Trương Thuỳ Lan dịch, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2017, tr. 45 - 47, 96 - 102)
Trang 38
VĂN BẢN 1 TRƯỚC KHI ĐỌC Khi nghe nói đến cụm từ thơ bốn chữ, ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong tâm trí em là gì? Em biết những bài thơ bốn chữ nào? Hãy chia sẻ cả
VĂN BẢN 1
TRƯỚC KHI ĐỌC
Khi nghe nói đến cụm từ thơ bốn chữ, ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong tâm trí em là gì? Em biết những bài thơ bốn chữ nào? Hãy chia sẻ cảm xúc của em về một bài thơ bốn chữ.
(1) Đồng dao: thơ ca dân gian dành cho trẻ em. Đồng dao bao gồm nhiều loại: lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em,... Thường gặp nhất là các bài đồng dao gắn liền với các trò chơi trẻ em. Đồng dao thường được làm theo thể bốn chữ hoặc năm chữ.
(2) Vè: một thể loại tự sự dân gian, có hình thức văn vần, phổ biến mỗi dòng bốn hoặc năm chữ.
2. Chia sẻ cảm nhận của em về hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ. ĐỌC VĂN BẢN Đồng dao mùa xuân NGUYỄN KHOA ĐIỀM Có một người lính Đi vào núi xanh Những năm máu lửa. Một
2. Chia sẻ cảm nhận của em về hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ.
ĐỌC VĂN BẢN
Đồng dao mùa xuân
NGUYỄN KHOA ĐIỀM
Có một người lính
Đi vào núi xanh
Những năm máu lửa.
Một ngày hoà bình
Anh không về nữa.
Có một người lính
Chưa một lần yêu
Cà phê chưa uống
Còn mê thả diều
Một lần bom nổ
Khói đen rừng chiều
Anh thành ngọn lửa
Bạn bè mang theo
Mười, hai mươi năm
Anh không về nữa
Anh vẫn một mình
Trường Sơn núi cũ
Ba lô con cóc
Tấm áo màu xanh
Làn da sốt rét
Cái cười hiền lành
Theo dõi
Số tiếng trong mỗi dòng thơ, vần thơ, nhịp thơ.
Hình dung
Hình ảnh người lính trong “những năm máu lửa”.
Hình dung
Hình ảnh người lính ở lại nơi chiến trường xưa trong tưởng tượng của tác giả.
Anh ngồi lặng lẽ Dưới cội mai vàng Dài bao thương nhớ Mùa xuân nhân gian Anh ngồi rực rỡ Màu hoa đại ngàn Mắt như suối biếc Vai đầy núi non... Tuổi xuân đang độ
Anh ngồi lặng lẽ Dưới cội mai vàng Dài bao thương nhớ Mùa xuân nhân gian Anh ngồi rực rỡ Màu hoa đại ngàn Mắt như suối biếc Vai đầy núi non... Tuổi xuân đang độ Ngày xuân ngọt lành Theo chân người lính Về từ núi xanh...
(Thơ Nguyễn Khoa Điềm, Tuyển tập 40 năm do tác giả chọn, NXB Văn học, Hà Nội, 2011, tr. 85 - 86)
SAU KHI ĐỌC
Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943, quê ở thành phố Huế.
Thơ Nguyễn Khoa Điềm thể hiện tình yêu quê hương, đất nước tha thiết với nhiều suy tư sâu sắc. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (1974), Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (1986),…
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Cách chia khổ của bài thơ có gì đặc biệt? Hãy nêu tác dụng của cách chia đó.
Nêu nhận xét của em về số tiếng trong mỗi dòng và cách gieo vần, ngắt nhịp của bài thơ.
Đọc bài thơ, ta như được nghe một câu chuyện về cuộc đời người lính. Em hình dung
câu chuyện đó như thế nào?
Hãy tìm những chi tiết khắc hoạ hình ảnh người lính. Qua các chi tiết đó, hình ảnh
người lính hiện lên với những đặc điểm gì?
5. Nêu cảm nhận của em về tình cảm mà đồng đội và nhân dân dành cho người lính
đã hi sinh được thể hiện trong bài thơ.
6. Theo em, tên bài thơ Đồng dao mùa xuân có ý nghĩa như thế nào?
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) nêu cảm nghĩ của em về hình ảnh người lính trong bài thơ.
Thực hành tiếng Việt Thực hành tiếng Việt BIỆN PHÁP TU TỪ 1. Nhà thơ sử dụng biện pháp tu từ nào trong những dòng thơ sau đây? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ
Thực hành tiếng Việt
Thực hành tiếng Việt
BIỆN PHÁP TU TỪ
1. Nhà thơ sử dụng biện pháp tu từ nào trong những dòng thơ sau đây? Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Một ngày hoà bình
Anh không về nữa.
2. Hãy tìm thêm một số ví dụ ngoài bài thơ Đồng dao mùa xuân có sử dụng biện pháp tu từ được dùng trong hai dòng thơ Một ngày hoà bình/ Anh không về nữa.
3. Xác định biện pháp tu từ trong những câu văn sau và nêu tác dụng:
a. Nhưng trước khi nhắm mắt, tôi khuyên anh: ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy.
(Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)
b. Lắm khi em cũng nghĩ nỗi nhà cửa như thế này là nguy hiểm, nhưng em nghèo sức quá, em đã nghĩ ròng rã hàng mấy tháng cũng không biết làm như thế nào.
(Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí)
4. Xác định biện pháp tu từ điệp ngữ trong bài thơ Đồng dao mùa xuân và nêu tác dụng.
NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
5. Xác định nghĩa của các từ ngữ núi xanh và máu lửa trong khổ thơ:
Có một người lính
Đi vào núi xanh
Những năm máu lửa.
Em căn cứ vào đâu để xác định như vậy?
6. Cho biết sự khác biệt về nghĩa của từ xuân trong các cụm từ ngày xuân, tuổi xuân, đồng dao mùa xuân.
Nhận biết biện pháp tu từ nói giảm nói tránh
Đọc những câu sau và chú ý các từ ngữ được in đậm:
(1) Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời.
[...]
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành.
(Quang Dũng, Tây Tiến)
Không bước nữa, bỏ quên đời, về đất là những cụm từ có sử dụng biện pháp tu từ nói giảm nói tránh để nói về cái chết mà không gây ấn tượng đau thương, mất mát.
(2) Thầy cô Pha chỉ chê có mỗi một câu: "Phải cái nhà nó khí thanh bạch" thì mẹ cô Pha kêu lên rằng: "Chao ôi, thầy nó chỉ nghĩ lẫn thần sự đời. Nghèo thì càng dễ ở với nhau. Tôi chỉ thích những nơi cũng tiềm tiệm như mình".
(Tô Hoài, Khách nợ)
Khí thanh bạch là cụm từ có sử dụng biện pháp tu từ nói giảm nói tránh thay cho từ nghèo để giữ phép lịch sự.
Những cách nói giảm nói tránh thông dụng:
• Dùng các từ đồng nghĩa, đặc biệt là từ Hán Việt
Ví dụ: Cụ ấy chết rồi. => Cụ ấy quy tiên rồi.
• Dùng cách nói vòng
Ví dụ: Kết quả học tập của con dạo này kém lắm. => Con cần phải cố gắng nhiều hơn nữa trong học tập.
• Dùng cách nói phủ định
Ví dụ: Bông hoa này xấu lắm. => Bông hoa này không đẹp.
VĂN BẢN 2 TRƯỚC KHI ĐỌC Xác định bài thơ thuộc thể năm chữ trong số những bài thơ sau đây: Chuyện cổ nước mình (Lâm Thị Mỹ Dạ), Chuyện cổ tích về loài người (Xu
VĂN BẢN 2
TRƯỚC KHI ĐỌC
Xác định bài thơ thuộc thể năm chữ trong số những bài thơ sau đây: Chuyện cổ nước mình (Lâm Thị Mỹ Dạ), Chuyện cổ tích về loài người (Xuân Quỳnh), Mây và sóng (R. Ta-go), Bắt nạt (Nguyễn Thế Hoàng Linh), Những cánh buồm (Hoàng Trung Thông).
Xôi là một trong những món ăn quen thuộc của người Việt. Chia sẻ cảm nhận của em về hương vị của món ăn đó.
ĐỌC VĂN BẢN
Gặp lá cơm nếp (Thanh Thảo)
Xa nhà đã mấy năm
Thèm bát xôi mùa gặt
Khói bay ngang tầm mắt
Mùi xôi sao lạ lùng.
Mẹ ở đâu, chiều nay
Nhặt lá về đun bếp
Phải mẹ thổi com nếp
Mà thơm suốt đường con.
Ôi mùi vị quê hương
Con quên làm sao được
Mẹ già và đất nước
Chia đều nỗi nhớ thương.
Cây nhỏ rừng Trường Sơn
Hiểu lòng nên thơm mãi...
(Thanh Thảo, Dấu chân qua trảng cỏ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2015, tr. 38 – 39)
Theo dõi
Số lượng tiếng trong mỗi dòng, vần và nhịp thơ.
Hình dung
Hình ảnh người mẹ trong kí ức của người con.
Theo dõi
Tình cảm của người con dành cho mẹ và quê hương, đất nước.
VĂN BẢN 3 ĐỌC VĂN BẢN Trở gió NGUYỄN NGỌC TƯ(1) Cuộc hẹn của chúng tôi không rõ ràng, mỗi năm gió lại đến bằng một ngày khác nhau. Nên vừa bước qua tháng Chín,
VĂN BẢN 3
ĐỌC VĂN BẢN
Trở gió
NGUYỄN NGỌC TƯ(1)
Cuộc hẹn của chúng tôi không rõ ràng, mỗi năm gió lại đến bằng một ngày khác nhau. Nên vừa bước qua tháng Chín, tôi bắt đầu dời chiếc chuông gió sang cửa sổ phía đông. Cuộc chờ đợi nhiều khi rất dài, đến nỗi quên phứt(2) đi. Để rồi một sớm mai, bỗng nghe hơi thở gió rất gần. Thoạt đầu, âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tinh tang, thoảng và e dè, như ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần
(1) Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, quê ở Cà Mau, sáng tác thành công ở nhiều thể loại: truyện ngắn, tản văn, tiểu thuyết,... Văn của Nguyễn Ngọc Tư trong sáng, mộc mạc, thể hiện một tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, giàu yêu thương. Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư được tập hợp trong một số cuốn sách tiêu biểu như: Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư (2005), Không ai qua sông (2016), Biên sử nước (2020),...
(2) Quên phứt (như quên phắt, quên bẵng): quên hẳn đi, không còn nhớ đến.
không biết người xưa có còn nhớ ta không. Rồi nó mừng húm(1), khi nhận ra tôi chẳng quên được nó bao giờ [...]. Cái chuông gió với những âm thanh mỏng manh trở
không biết người xưa có còn nhớ ta không. Rồi nó mừng húm(1), khi nhận ra tôi chẳng quên được nó bao giờ [...]. Cái chuông gió với những âm thanh mỏng manh trở thành thứ đồ chơi lãng nhách(2), chẳng thể hiện nổi sự hừng hực, dạt dào của nó - bây giờ lớn thành một dòng gió, xấp xãi(3), cuống quýt xốc vào tấm tôn bên chái(4) đông đã bị đứt đinh từ mùa trước. Cồn cào. Nồng nhiệt. Mà thiệt dịu dàng. Ôi! Gió chướng(5).
Tôi thường đón gió chướng về với một tâm trạng lộn xộn, ngổn ngang. Mừng đó rồi bực đó. Sao tôi lại chờ đợi nó, chẳng phải năm nào cũng vậy, lúc cầm cây chổi ra quét sân, đứng trong gió đầm đìa tôi cũng buồn, buồn muốn chết. Trời ơi, gió nầy là sắp hết năm đây, sắp già thêm một tuổi đây, mình đã kịp sống gì đâu, tay mình vẫn trắng như vầy... Mỗi lần gió về lại cảm giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được, như ai đó đuổi theo đằng sau, tôi gấp rãi(6) ăn, gấp rãi nói, gấp rãi cười, gấp rãi khi ngày bắt đầu rụng xuống... Nhưng tôi vẫn mong gió
chướng về. Sự chờ đợi đã thành thói quen của thời thơ dại. Khi gió bắt đầu hiu hiu se lạnh, đám con nít nhảy cà tưng(7), háo hức vỗ tay cười, vậy là gần được sắm quần áo, dép mới rồi (nhà nghèo, cả năm chỉ được dịp nầy chứ mấy). Gió chướng (và gió bấc(8)) với tôi là gió Tết, dù từ khi bắt đầu mùa gió đến Tết, mất gần ba tháng ròng. Má tôi cũng coi nó là gió Tết, nghe gió, má thuận miệng hát "Cấy rồi mùa qua sông cấy mướn. Ông trời ổng thổi ngọn chướng buồn cha chả là buồn…" rồi thở dài cái thượt "Ứ hự, lụi hụi mà hết năm...". Dường như tâm trạng má khác tôi, những sợi gió cứ như xốn xang vào nỗi nghèo túng, sợ không lo nổi một cái Tết tử tế cho cả nhà.
(1) Mừng húm: mừng đến mức có cảm giác rộn ràng trong lòng và sự phấn khởi lộ ra trên nét mặt. (2) Lãng nhách: rất chán và tẻ nhạt. (3) Xấp xãi: vội vàng, gấp rút.
(4) Chái: gian nhỏ lợp một mái tiếp vào đầu hồi theo lối kiến trúc dân gian.
(5) Gió chướng: gió mùa thổi mạnh ở Nam Bộ vào những tháng cuối năm âm lịch, đến từ hướng đông bắc, thường đưa nước mặn nhập sâu vào các con sông, gây nhiều thiệt hại cho sản xuất. (6) Gấp rãi (như gấp rút): hết sức khẩn trương để có thể xong trong khoảng thời gian ngắn nhất. (7) Nhảy cà tưng: nhảy cẫng lên.
(8) Gió bấc: gió mùa đông bắc.
Má, tánh(1) lo xa. Chứ gió chướng vào mùa thì lúa cũng vừa chín tới, hi vọng rực lên theo màu lúa. Mùi rơm thơm ràn rụa thổi ngang đồng, nỗi buồn lo của má tan
Má, tánh(1) lo xa. Chứ gió chướng vào mùa thì lúa cũng vừa chín tới, hi vọng rực lên theo màu lúa. Mùi rơm thơm ràn rụa thổi ngang đồng, nỗi buồn lo của má tan không thành tiếng, tan mau như sương. Đáng chờ đợi lắm, vì mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch. Gió thổi tạnh ráo những đôi chân suốt một mùa đầm đìa trên đồng bãi. Liếp(2) mía đặt từ hồi tháng Hai, tháng Ba, đợi gió mới chịu già, nước ngọt và trĩu, cầm khúc mía trên tay, nghe nặng trịch. Vú sữa chín cây lúc lỉu, căng bóng, [...] nửa đêm dơi ăn rớt lịch bịch ngoài hè. Còn dưa hấu nữa, ui chao... [...] Gió chướng với tôi, một đứa bấp bỏm(3) văn chương, nó "gợi" khủng khiếp. Tôi vẫn thường hình dung, một mai mình đi xa, xa lắm, xa cả những mùa gió, hoặc đọc, hoặc ai đó nhắc chỉ gọn lỏn hai từ "gió chướng", ngay lập tức tôi sẽ chết giấc(4) trong nỗi nhớ quê nhà. Và những hình ảnh quen thuộc hàng hàng lũ lượt hiện ra, những nùi rơm(5) vướng oằn nhánh me, giồng(6) bạc hà cháy lá, con nước ronglinh đinh(7) lém(8) bờ sông, má đứng rê lúa(9), trấu bay xà quần(10) về cuối gió, vài buồng cau quá lứa thắp lửa trên cao, tiếng chày quết bánh phồng thâm u trong rặng dừa nước... Trời lúc nào cũng mát liu riu, nắng thức rất trễ, tầm tám giờ sáng mới thấy mặt trời ngai ngái lơi lơi, nắng không ra vàng không ra trắng, mây cụm lại rồi rã từng chùm trên đầu. Ở đó, siêu thị chất đầy những dưa hấu, dưa kiệu, dưa hành, bánh chưng, bánh tét, liệu ở đó, có ai bán một mùa gió cho tôi?
(Nguyễn Ngọc Tư, Tạp văn Nguyễn Ngọc Tư, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2015, tr. 7 - 10)
SAU KHI ĐỌC
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Gió chướng được tác giả miêu tả qua những chi tiết, hình ảnh nào?
2. Hãy chỉ ra những biểu hiện của tâm trạng "lộn xộn, ngổn ngang" ở nhân vật "tôi"
khi gió chướng về. Theo em, lí do nào khiến nhân vật "tôi" luôn mong ngóng, chờ đợi gió chướng?
3. Vì sao tác giả khẳng định "mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch"?
(1) Tánh: tính. (2) Liếp: luống. (3) Bấp bỏm (như bập bõm): biết một cách không chắc chắn và không đầy đủ, chỗ được chỗ không.
(4) Chết giấc: ở đây có nghĩa là lặng đi vì xúc động mạnh.
(5) Nùi rơm: rơm bị kết thành từng búi (nghĩa trong văn bản). (6) Giồng: dải đất phù sa nổi cao lên, thường ở ven sông. (7) Con nước rong linh đinh: dòng nước lớn, lênh đênh, nay đây mai đó vô định. (8) Lém: mấp mé (nghĩa trong văn bản). (9) Rê lúa: làm sạch thóc bằng cách cầm nghiêng miệng thúng cho thóc rơi từ trên cao xuống trước gió để những hạt lép và bụi bẩn bay đi. (10) Xà quần: luẩn quẩn, loanh quanh, di chuyển thành vòng tròn nhiều lần xung quanh một chỗ.
Thực hành tiếng Việt NGHĨA CỦA TỪ NGỮ Em có nhận xét gì về cách dùng từ gặp trong nhan đề bài thơ Gặp lá cơm nếp? Nêu cách hiểu của em về cụm từ thơm suốt đường
Thực hành tiếng Việt
NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
Em có nhận xét gì về cách dùng từ gặp trong nhan đề bài thơ Gặp lá cơm nếp?
Nêu cách hiểu của em về cụm từ thơm suốt đường con trong khổ thơ sau:
Mẹ ở đâu, chiều nay
Nhặt lá về đun bếp
Phải mẹ thổi cơm nếp
Mà thơm suốt đường con.
Ta thường gặp những cụm từ như mùi vị thức ăn, mùi vị trái chín, mùi vị của nước giải khát,... Nghĩa của mùi vị trong những trường hợp đó có giống với nghĩa của mùi vị trong cụm từ mùi vị quê hương hay không? Vì sao?
Nêu nhận xét về cách kết hợp giữa các từ trong hai dòng thơ Mẹ già và đất nước/ Chia đều nỗi nhớ thương. Theo em, hiệu quả của cách kết hợp đó là gì?
BIỆN PHÁP TU TỪ
Chỉ ra các biện pháp tu từ trong những câu sau và nêu tác dụng:
a. Mỗi lần gió về lại cảm giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được, như ai đó đuổi theo đằng sau, tôi gặp rãi ăn, gặp rãi nói, gặp rãi cười, gặp rãi khi ngày bắt đầu rụng xuống...
b. Thoạt đầu, âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tinh tang, thoảng và e dè, như ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần không biết người xưa có còn nhớ ta không.
Trong những câu sau, biện pháp tu từ nhân hoá mang lại hiệu quả gì?
a. Trời lúc nào cũng mát liu riu, nắng thức rất trễ, tầm tám giờ sáng mới thấy mặt trời ngai ngái lói loi, nắng không ra vàng không ra trắng, mây cụm lại rồi rã từng chùm trên đầu.
b. Để rồi một sớm mai, bỗng nghe hơi thở gió rất gần.
Viết A. Tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ Thế giới xung quanh ta thật đẹp và có biết bao điều thú vị khiến ta mong muốn được lưu giữ lại. Những bức tranh
Viết
A. Tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
Thế giới xung quanh ta thật đẹp và có biết bao điều thú vị khiến ta mong muốn được lưu giữ lại. Những bức tranh, bức ảnh, bản nhạc, trang văn và cả những vần thơ có thể giúp ta thực hiện điều đó. Ở phần Đọc, em đã được làm quen với những bài thơ bốn chữ và năm chữ, nhận biết những đặc điểm cơ bản của các thể thơ này. Hãy vận dụng những hiểu biết đó để tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ về một sự vật, cảnh sắc, câu chuyện,... khơi gợi trong em nhiều cảm hứng nhất.
1 TRƯỚC KHI VIẾT
a. Xác định đề tài và cảm xúc
Em có thể chọn bất cứ đề tài nào mà em yêu thích như nhà trường, gia đình, thiên nhiên, quê hương, đất nước,... và ghi lại cảm xúc về đối tượng được nói đến. Đó có thể là những cảm xúc như yêu mến, xúc động, lưu luyến, bâng khuâng, nhớ nhung, biết ơn, tự hào,...
b. Tìm hình ảnh để biểu đạt cảm xúc
– Sau khi đã xác định được đề tài và cảm xúc, em hãy tìm hình ảnh để thể hiện cảm xúc đó. Ví dụ, nếu định viết về một vẻ đẹp của thiên nhiên, em có thể dùng hình ảnh bông hoa, chiếc lá, giọt sương, áng mây,... để gửi gắm cảm xúc của mình. Nếu có cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến khi về nghỉ hè, chia tay thầy cô, bạn bè, mái trường, em có thể dùng hình ảnh hoa phượng rơi, chiếc trống trường nằm yên, sân trường vắng,... để thể hiện cảm xúc.
– Tiếp theo, em hãy liên tưởng, tưởng tượng, kết nối sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với nhau và với con người để mạch cảm xúc được thể hiện và phát triển một cách tự nhiên. Chẳng hạn miêu tả hình ảnh áng mây, em có thể triển khai cảm xúc theo hướng tả cảnh mây bay (mây xuất hiện khi nào, ở đâu, mây màu gì, có hình thù như thế nào, bay lững lờ chậm chạp hay bay nhanh hối hả; những sự vật, hiện tượng thiên nhiên xung quanh như mặt trời, mặt trăng, những vì sao, ánh sáng,... có đặc điểm ra sao); hoặc tưởng tượng về hành trình “du lịch” của áng mây (mây bay về đâu, gặp gỡ những ai, trò chuyện những gì, “cuộc đời” của mây kết thúc thế nào,...).
– Thể hiện cảm xúc của mình về sự vật, hiện tượng đó, chẳng hạn niềm xúc động về sự mong manh của áng mây trước gió hay vòng tuần hoàn của các hiện tượng thiên nhiên,...
c. Tập gieo vần
Chọn thể thơ bốn chữ hoặc năm chữ và tìm vần thích hợp. Để tập gieo vần, em hãy tìm những tiếng thích hợp cho những chỗ trống trong các dòng thơ sau đây:
Vần liền: Ai là bạn gió Mà gió đi tìm Bay theo cánh … Lùa trong tán lá Gió nhớ bạn … Nên gõ cửa hoài. (Theo Ngân Hà, Bạn của gió) Vần cách: Nhà trẻ con đã quen
Vần liền:
Ai là bạn gió Mà gió đi tìm Bay theo cánh … Lùa trong tán lá Gió nhớ bạn … Nên gõ cửa hoài.
(Theo Ngân Hà, Bạn của gió)
Vần cách:
Nhà trẻ con đã quen Không còn hờn khóc nữa Nhưng cứ độ tan tầm Con lại ra đứng … Mong mẹ và mong bố Mắt nhìn về phố đông Ôi tấm lòng thơ nhỏ Đã thuộc giờ ngóng … Thành phố rộng mênh mông Bao la chiều gió thổi Ở cuối con đường kia Có con đang đứng …
(Theo Lưu Quang Vũ, Buổi chiều đón con)
Vần hỗn hợp:
Mặt trời thổi lửa Sông biển bốc hơi Hơi bay cao vút Thành mây lưng ... Mây hồng nhẹ trôi Mây xanh đằm thắm Dịu dàng mây … Thẩn thơ mây vàng Mây đen lang … Thân mình nặng trĩu Gió trêu tí xíu Đã vội khóc oà.
(Theo Hoàng Lựu, Mây khóc)
B. Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ Ở lớp 6, em đã được tìm hiểu và thực hành cách viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về mộ
B. Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
Ở lớp 6, em đã được tìm hiểu và thực hành cách viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ. Trong phần Viết của bài học này, em sẽ tiếp tục được học cách viết một đoạn văn như thế.
Yêu cầu đối với đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ: Giới thiệu được bài thơ và tác giả; nêu được ấn tượng, cảm xúc chung về bài thơ. D
Yêu cầu đối với đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ:
Giới thiệu được bài thơ và tác giả; nêu được ấn tượng, cảm xúc chung về bài thơ.
Diễn tả được cảm xúc về nội dung và nghệ thuật, đặc biệt chú ý tác dụng của thể thơ bốn chữ hoặc năm chữ trong việc tạo nên nét đặc sắc của bài thơ.
Khái quát được cảm xúc về bài thơ.
Phân tích bài viết tham khảo Đồng dao mùa xuân - một bài thơ xúc động về người lính
Đồng dao mùa xuân của Nguyễn Khoa Điềm là bài thơ viết về người lính hi sinh nơi chiến trường Trường Giới thiệu tên bài thơ
và tác giả.
Sơn trong "Những năm máu lửa". Tác phẩm thể hiện tình cảm tiếc thương, sự trân trọng, lòng biết ơn,… với những con người đã hiến dâng tuổi thanh xuân cho đất nước. Có Nêu ấn tượng, cảm xúc nhiều dòng thơ thấm thía nỗi đau mất mát: "Anh không chung về bài thơ. về nữa", "Anh vẫn một mình", "Anh ngồi lặng lẽ",… trước sự ra đi của người lính trẻ "Chưa một lần yêu… Còn mê thả diều". Hình ảnh anh bộ đội bình dị, thân quen với màu áo xanh, ba lô con cóc, làn da sốt rét và đặc biệt là "Cái cười hiền lành" khiến nỗi tiếc thương càng thêm sâu sắc. Nhưng bài thơ không để lại cảm giác bi thương, nặng nề nhờ cách tác giả cảm nhận và khắc hoạ hình tượng người chiến sĩ đã hi sinh. Anh vẫn ở bên đồng đội trên con đường chiến đấu: "Anh thành ngọn lửa/ Bạn Diễn tả cảm xúc về bè mang theo". Anh hoá thân vào sắc hoa rực rỡ, màu nội dung và nghệ
thuật của bài thơ.
suối biếc xanh, vào vóc dáng núi non hùng vĩ. "Ngày xuân ngọt lành" của người lính ấy không bao giờ mất đi mà sẽ từ núi xanh trở về, hồi sinh trong các thế hệ sau, trong mùa xuân đất nước. Những cảm xúc đẹp đẽ đọng lại trong tâm hồn người đọc còn được nhân lên từ hình thức nghệ thuật đặc sắc của bài thơ. Nhan đề Đồng dao mùa xuân, nhịp điệu của thể thơ bốn chữ, các biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, điệp ngữ, nói giảm nói tránh,… mang đến cho tác phẩm giọng điệu tươi trẻ của một khúc đồng dao. Người đọc tưởng như nghe vang lên đâu đây lời hát của những đứa trẻ hồn nhiên, tung tăng trên những cánh đồng quê, hạnh phúc trong cuộc sống thanh bình được các anh bảo vệ, gìn giữ. Những sắc màu tươi đẹp: núi xanh, tấm áo màu xanh, mai vàng, suối biếc và sức sống bất diệt của mùa xuân, tuổi xuân, ngày xuân cứ ngời lên bất chấp khói lửa, đạn bom. Bài thơ không chỉ ngợi ca sự hi sinh thầm lặng, lớn lao, cao cả của những người lính mà còn khẳng định sự tiếp nối thiêng liêng giữa các Khái quát cảm xúc về
bài thơ.
thế hệ để làm nên đất nước muôn đời.
(Nhóm biên soạn)
Thực hành viết theo các bước 1 TRƯỚC KHI VIẾT a. Lựa chọn bài thơ Có thể chọn bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ viết về những đề tài như tình cảm gia đình, tình yêu
Thực hành viết theo các bước
1 TRƯỚC KHI VIẾT
a. Lựa chọn bài thơ
Có thể chọn bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ viết về những đề tài như tình cảm gia đình, tình yêu con người, thiên nhiên, quê hương, đất nước,... Điều quan trọng là bài thơ ấy để lại trong em nhiều ấn tượng, cảm xúc.
b. Tìm ý
Em hãy thực hiện những thao tác sau đây để tìm ý:
– Đọc bài thơ nhiều lần để có được cảm nhận chung về bài thơ.
– Nêu cảm xúc về nét đặc sắc của bài thơ trên các phương diện: chủ đề, cảm xúc của nhà thơ, thể thơ, vần, nhịp, yếu tố tự sự, yếu tố miêu tả, hình ảnh, từ ngữ, biện pháp tu từ,...
– Ghi lại cảm xúc chung của em về bài thơ.
Mục đích viết
Chia sẻ cảm xúc của bản thân về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ, giúp người đọc cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài thơ.
Người đọc
Thầy cô, bạn bè, người thân và những người mong muốn cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài thơ.
c. Lập dàn ý
Sắp xếp các ý đã tìm được thành dàn ý, gồm các phần như sau:
Dàn ý
– Mở đoạn: Giới thiệu tác giả và bài thơ; nêu ấn tượng, cảm xúc chung về bài thơ.
– Thân đoạn: Nêu cảm xúc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ.
– Kết đoạn: Khái quát cảm xúc về bài thơ.
2 VIẾT BÀI
Dựa vào dàn ý đã lập, em viết thành một đoạn văn hoàn chỉnh. Trong quá trình viết, hãy lưu ý:
– Đoạn văn cần có đầy đủ ba phần Mở đoạn, Thân đoạn, Kết đoạn.
– Các câu trong đoạn tập trung thể hiện nội dung chính của đoạn, sử dụng các từ ngữ liên kết.
– Lựa chọn từ ngữ phù hợp để thể hiện cảm xúc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ (thể thơ, từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ,...).
– Trình bày đúng hình thức đoạn văn: viết lùi đầu dòng chữ đầu tiên của đoạn văn, chữ cái đầu phải được viết hoa, kết thúc đoạn văn bằng dấu chấm câu.
Nói và nghe Trình bày suy nghĩ về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ tác phẩm văn học đã đọc) Ở phần Đọc, hai bài thơ Đồng dao mùa xuân và Gặp lá cơm nếp hẳn đ
Nói và nghe
Trình bày suy nghĩ về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ tác phẩm văn học đã đọc)
Ở phần Đọc, hai bài thơ Đồng dao mùa xuân và Gặp lá cơm nếp hẳn đã gợi cho em những suy nghĩ về người lính, về tình yêu đất nước, về sự hoà quyện giữa tình yêu gia đình với tình yêu quê hương,... Trong phần Nói và nghe dưới đây, em sẽ chia sẻ suy nghĩ về một vấn đề đời sống được gợi ra từ tác phẩm văn học đã đọc để phát triển kĩ năng nói của bản thân. Sự hấp dẫn và thuyết phục trong cách trình bày, tinh thần cầu thị khi tiếp thu ý kiến nhận xét của người nghe, cách trao đổi với bạn trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau,... là những điều em sẽ được rèn luyện trong phần thực hành này.
1. TRƯỚC KHI NÓI
a. Chuẩn bị nội dung nói
– Trước hết, em cần dựa vào các tác phẩm văn học đã đọc kết hợp với chính trải nghiệm của bản thân và thông tin từ sách báo hoặc các phương tiện nghe nhìn để chọn một nội dung phù hợp.
Mục đích nói
Chia sẻ suy nghĩ của bản thân về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ tác phẩm văn học) và thuyết phục người nghe về vấn đề đó.
Người nghe
Thầy cô, bạn bè, người thân và những người quan tâm đến vấn đề em nói.
Chẳng hạn, ngoài chủ đề về người lính, về tình yêu đất nước, về sự hoà quyện giữa tình yêu gia đình với tình yêu quê hương, em cũng có thể nói về lòng biết ơn đ
Chẳng hạn, ngoài chủ đề về người lính, về tình yêu đất nước, về sự hoà quyện giữa tình yêu gia đình với tình yêu quê hương, em cũng có thể nói về lòng biết ơn đối với những người đang hằng ngày cống hiến cho xã hội một cách thầm lặng, về những đổi thay của cuộc sống hôm nay,…
Sưu tầm tranh ảnh, bài hát, bài thơ, đoạn phim ngắn,… để minh hoạ cho bài nói. - Lập dàn ý cho bài nói. Chẳng hạn, nếu em chọn trình bày suy nghĩ về hình ảnh người lính thì các ý chính có thể là: vẻ đẹp của người lính, những biểu hiện cụ thể của vẻ đẹp ấy, suy nghĩ của em về vẻ đẹp của người lính,…
Giới thiệu về người lính (người lính nói chung hay người lính ở một binh chủng, đơn vị cụ thể), ấn tượng chung của em về người lính đó.
Nêu cụ thể những việc làm, hành động của người lính đã để lại ấn tượng đậm nét cho em (cần chú ý dựng lại được bối cảnh thời gian, không gian của các việc làm, hành động đó).
Nêu những suy nghĩ của em về việc làm, hành động của người lính, rút ra bài học từ thái độ sống và tinh thần xả thân vì nhân dân của người lính.
b. Tập luyện
Để bài nói đạt kết quả tốt, em hãy tập luyện trước khi trình bày. - Em có thể tập nói một mình để tự điều chỉnh ngôn ngữ cơ thể và ngữ điệu nói sao cho phù hợp. Em cũng có thể tập nói trước bạn bè, người thân và nhờ họ góp ý.
Điều chỉnh dung lượng bài nói sao cho phù hợp với thời gian quy định.
2 TRÌNH BÀY BÀI NÓI
Trình bày đầy đủ, mạch lạc những nội dung đã chuẩn bị . - Kết hợp trình bày bài nói với việc sử dụng các phương tiện hỗ trợ như tranh ảnh, đoạn phim ngắn, bài thơ minh hoạ,...
Chú ý điều chỉnh âm lượng, tốc độ nói, sắc thái biểu cảm phù hợp với nội dung nói; thể hiện sự tương tác tích cực với người nghe.
Trình bày bài nói trong thời gian quy định.
3 SAU KHI NÓI
Trao đổi về bài nói theo một số gợi ý sau:
Củng cố, mở rộng Hãy kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền thông tin về đặc điểm của hai bài thơ Đồng dao mùa xuân, Gặp lá cơm nếp: Bài thơ, Nội dung chính, Đặc đ
Củng cố, mở rộng
Hãy kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và điền thông tin về đặc điểm của hai bài thơ Đồng dao mùa xuân, Gặp lá cơm nếp:
Bài thơ, Nội dung chính, Đặc điểm nghệ thuật
Thể thơ | Vần | Nhịp | Hình ảnh | Biện pháp tu từ
Nhà thơ Thế Lữ từng viết: “Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu” (Cây đàn muôn điệu). Qua những văn bản thơ được học trong bài này, theo em, người đọc có thể nghe được những điệu đàn nào của tâm hồn con người?
Chiều sông Thương (Hữu Thỉnh) HỮU THỈNH⁽¹⁾ Đi suốt cả ngày thu vẫn chưa về tới ngõ dừng đứng hoa Quan họ nở tím bên sông Thương nước vẫn nước đôi dòng chiều vẫn
Chiều sông Thương (Hữu Thỉnh)
HỮU THỈNH⁽¹⁾
Đi suốt cả ngày thu
vẫn chưa về tới ngõ
dừng đứng hoa Quan họ
nở tím bên sông Thương
nước vẫn nước đôi dòng
chiều vẫn chiều lưỡi hái
những gì sông muốn nói
cánh buồm đang hát lên
đám mây trên Việt Yên
rủ bóng về Bố Hạ
lúa cúi mình giấu quả
ruộng bồi con gió xanh
nước màu đang chảy ngoan
giữa lòng mương máng nổi
mạ đã thò lá mới
trên lớp bùn sếnh sang⁽²⁾
cho sắp mặt mùa màng
đất quê mình thịnh vượng
những gì ta gửi gắm
sắp vàng hoe bốn bên
hạt phù sa rất quen
sao mà như cổ tích
mấy cô coi máy nước
mắt dài như dao cau
ôi con sông màu nâu
ôi con sông màu biếc
dâng cho mùa sắp gặt
bồi cho mùa phơi thai
nắng thu đang trải đầy
đã trăng non mũi buổi
bên cầu con nghé đợi
cả chiều thu sang sông.
(Hữu Thỉnh, Tiếng hát trong rừng, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2015, tr. 34 – 36)
⁽¹⁾ Hữu Thỉnh sinh năm 1942, quê ở Vĩnh Phúc (nay thuộc tỉnh Phú Thọ). Thơ Hữu Thỉnh thể hiện tình cảm sâu lắng, thiết tha và sự gắn bó với đất nước, con người, cảnh sắc Việt Nam; ngôn ngữ thơ giản dị mà tinh tế. Tác phẩm chính: Đường tới thành phố (1979), Tiếng hát trong rừng (1985), Thư mùa đông (1994), Trường ca biển (1994), Thương lượng với thời gian (2005),...
⁽²⁾ Sếnh sang: láng mượt, mịn màng.
Trang 57
VĂN BẢN 1 TRƯỚC KHI ĐỌC Kể tên một số loài hoa em biết. Em có thể “nhận ra” các loài hoa ấy bằng những cách nào? Theo em, nhan đề Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ gợi
VĂN BẢN 1
TRƯỚC KHI ĐỌC
Kể tên một số loài hoa em biết. Em có thể “nhận ra” các loài hoa ấy bằng những cách nào?
Theo em, nhan đề Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ gợi điều gì thú vị?
ĐỌC VĂN BẢN Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (1) Trích, NGUYỄN NGỌC THUẦN Nhà tôi có khu vườn rất rộng. Bố trồng nhiều hoa. Buổi chiều ra đồng về, bố thường dẫn tôi r
ĐỌC VĂN BẢN
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (1)
Trích, NGUYỄN NGỌC THUẦN
Nhà tôi có khu vườn rất rộng. Bố trồng nhiều hoa. Buổi chiều ra đồng về, bố thường dẫn tôi ra vườn, hai bố con thi nhau tưới. Bố làm cho tôi một bình tưới nhỏ bằng cái thùng đựng sơn rất vừa tay. Bố lại lấy hộp lon gò thành cái vòi sen nữa. Bố hay bảo tôi nhắm mắt lại, sau đó dẫn tôi đi chạm từng bông hoa một. Bố nói:
– Đố con hoa gì?
Tôi luôn nói sai. Nhưng bố nói không sao cả, dần dần tôi sẽ nói đúng. Những buổi chiều tôi hay nhắm mắt sờ những bông hoa rồi tập đoán. Tôi đoán được hai loại hoa: hoa mồng gà và hoa hướng dương. Bố cười khà khà khen tiến bộ lắm! Một hôm khác, tôi đoán được ba loại hoa. Bố nói:
– Phen này con sẽ đoán được hết các loại hoa của bố mất thôi!
Theo dõi
Những chi tiết trong lời kể về bố của nhân vật "tôi".
Và đúng như vậy, không bao lâu, tôi đã đoán được hết vườn hoa. Từ trong nhà ra ngoài vườn, tôi có thể chạm bất cứ loại cây nào và nói đúng tên của nó. Tôi cũng đã thuộc khu vườn. Tôi có thể vừa nhắm mắt vừa đi mà không chạm vào vật gì. Những lúc rảnh rỗi, bố hay đứng trong vườn rồi đố tôi tìm ra bố. Bố nói:
– Bố thấy con hé mắt!
Theo dõi
Lời nói, cử chỉ, hành động của các nhân vật.
(1) Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ gồm những câu chuyện ngắn được kể bằng lời của nhân vật Dũng – một cậu bé mười tuổi có tâm hồn trong sáng, tinh tế. Cậu bé kể về những trải nghiệm, những vui buồn trong cuộc sống hằng ngày. Qua cái nhìn trong trẻo, ấm áp của trẻ thơ, cả một thế giới hiện lên vừa gần gũi, thân thương vừa phong phú, bí ẩn, đầy sức cuốn hút.
Tôi cãi lại: - Không! Con không có hé mắt. Con biết chỗ cây hoàng - Thật không? - Bố giả vờ nghi ngờ. Trò chơi này không chỉ diễn ra ngoài vườn mà còn kẹo đâu đ
Tôi cãi lại: - Không! Con không có hé mắt. Con biết chỗ cây hoàng - Thật không? - Bố giả vờ nghi ngờ. Trò chơi này không chỉ diễn ra ngoài vườn mà còn kẹo đâu đó rồi đố tôi, và lần nào tôi cũng tìm thấy. Bố còn đứng cách tôi bao xa. Lúc đầu tôi luôn đoán sai nhưng sau thì đúng dần. thước ra đo đàng hoàng. Bây giờ, khi đang còn vùi đầu trong mền(1), tôi vẫn biết nhiêu mét khi chỉ cần nghe tiếng bước chân. Trò chơi này lắm. Chú cứ hay nghi ngờ rằng không thể được, cháu đã là tôi lặp lại trò chơi cho đến khi chú phải thốt lên: - Thật không thể tin nổi, cháu có con mắt thần! Trò chơi này, tôi có một kỉ niệm đáng nhớ. Sau nhà Những ngày nghỉ bố hay dẫn tôi ra đó tắm. Bố tôi bơi hơi dài đến mấy phút. Hôm đó, khi cả nhà đang ăn cơm lớn. Sau đó hoàn toàn im lặng. Mọi người nhìn quanh, không từ hướng nào. Nhưng tôi đã nói ngay: - Cách đây khoảng ba chục mét, hướng này! Mẹ tôi chồm dậy: - Chết rồi, ngoài bờ sông! Bố quăng chén(2) cơm rồi băng vườn chạy ra... Tôi và đúng như vậy. Dưới cái hụp xoáy, một thằng bé chới với, lan mà! trong nhà. Bố hay giấu cục đố khi tôi nhắm mắt, bố Mỗi lần như thế, bố đều lấy bố đang cách xa tôi bao làm chú Hùng ngạc nhiên ăn gian. Cháu hé mắt. Thế tôi có một con sông nhỏ. giỏi lắm. Bố có thể lặn một thì bỗng nghe một tiếng hét biết tiếng hét xuất phát mẹ chạy theo, quả nhiên chỉ còn lòi ngón chân.
Nó là thằng Tí, con bà Sáu. Nhân buổi trưa, nó trốn ra bờ sông vọc nước, không ngờ trượt chân té(3) xuống. Bố tôi ẵm nó về nhà. Bụng nó đầy nước, bố phải nắm ngược hai chân dốc xuống như làm xiếc. Sau đó cả xóm, Suy luận Vì sao nhân vật "tôi" có thể giúp bố cứu được bạn Tí?
mới hay tin chạy ra. Người ta bu quanh tôi, hỏi đủ
chuyện. Bà Sáu còn cảm ơn tôi. Bà khóc. Bà nói không có chết. Nhiều người không tin rằng tôi có thể lắng nghe âm thử tài, thật may phước lần nào tôi cũng đoán trúng. Họ hỏi nháy mắt và chúng tôi cười ồ. Tôi biết đó là một bí mật,, tôi, thằng Tí con bà sẽ thanh tài tình như vậy bèn làm sao biết hay vậy. Bố không thể tiết lộ! Một bí mật
(1) Mền: chăn. (2) Chén: bát. (3) Té: ngã.
giữa bố và tôi. Nhưng tôi đã hứa, tôi sẽ chỉ cho thằng Tí bí mật này. Nó là bạn thân của tôi mà. Tôi thấy tên nó đẹp hơn mọi tên, khi đọc lên, âm thanh cứ du dư
giữa bố và tôi. Nhưng tôi đã hứa, tôi sẽ chỉ cho thằng Tí bí mật này. Nó là bạn thân của tôi mà. Tôi thấy tên nó đẹp hơn mọi tên, khi đọc lên, âm thanh cứ du dương như một bài hát.
Ở trường tôi hay gọi nó:
– Tí, Tí!
Nó hỏi:
– Cái gì?
Tôi mỉm cười:
– Chẳng có gì!
Nó ngạc nhiên lắm. Nó không hề biết rằng tôi đang nghe âm thanh từ cái tên của nó.
Bố tôi nói, mỗi cái tên là một âm thanh tuyệt diệu. Người càng thân với mình bao nhiêu thì âm thanh đó càng tuyệt diệu bấy nhiêu.
Tôi tin bố. Tôi hay gọi tên bố chỉ để nghe âm thanh.
[...] Thằng Tí hay đem cho bố tôi những trái ổi. Nó trèo cây giỏi lắm, nhà nó có một vườn ổi. Những trái ổi to được nó lựa để dành cho bố đều có bịch ni lông bọc lại đàng hoàng. Những trái ổi như thế bao giờ cũng vừa to vừa mềm, cắn vào rất đã. Bố tôi ít khi nào ăn ổi, nhưng vì nó, bố ăn.
Tôi nói:
– Sao bố kính trọng nó quá vậy?
Bố cười xoà:
– Không phải đâu, bố không cưỡng lại được trước món quà. Một món quà bao giờ cũng đẹp. Khi ta nhận hay cho một món quà, ta cũng đẹp lây vì món quà đó. – Bố còn nói thêm. – Một nụ hôn cũng là một món quà sang trọng. Một giấc ngủ của tôi cũng chính là một món quà, cả con người tôi đều là món quà của bố.
Tôi đi nhẹ ra vườn. Tôi hiểu, khu vườn là món quà bất tận của tôi. Mỗi bông hoa là một món quà nhỏ, một vườn hoa là món quà lớn. Tôi nhắm mắt và chạm tay rồi gọi tên từng món quà. Tôi chạm phải bố. Tôi la lên:
– A! Món quà của tui⁽¹⁾ đây rồi. Ôi cái món quà này bự quá!
⁽¹⁾ Tui: tôi.
Bố lại nghĩ ra trò chơi khác. Thay vì chạm vào hoa, bây giờ tôi chỉ ngửi rồi gọi tên nó. Bố đưa bông hoa trước mũi tôi rồi nói, hoa gì? Trò chơi cứ được diễn ra
Bố lại nghĩ ra trò chơi khác. Thay vì chạm vào hoa, bây giờ tôi chỉ ngửi rồi gọi tên nó. Bố đưa bông hoa trước mũi tôi rồi nói, hoa gì? Trò chơi cứ được diễn ra liên tục cho đến hồi tôi nhận diện được tất cả mùi hương của các loài hoa.
Đêm, tôi mở cửa sổ và nói: - Hoa hồng đang nở kìa bố ơi! Bố không tin, xách đèn ra soi và đúng vậy. Những bông hoa cứ đem hương đến cửa sổ như báo cho tôi biết từng mùa. Hoa gì nở sớm, hoa gì nở muộn. Tôi còn phân biệt cùng một lúc những hoa gì đang nở. Bố nói tôi có cái mũi tuyệt nhất thế giới!
Bạn hãy tưởng tượng, một buổi sáng mờ sương. Bạn vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, và bạn chợt hiểu khu vườn nói gì. Bạn hiểu bây giờ là mùa gì và bông hoa nào đang nở, tên gì. Từng tiếng bước chân trong vườn, bạn biết chính xác người có bước chân đó cách xa bạn bao nhiêu mét. Bạn còn biết tiếng chân đó là của ai, bố hay mẹ. Bạn sẽ giả vờ hỏi:
Ai đó? Có phải là người khách lạ không? - Không. Tôi là khách quen! - Người đó trả lời. Bạn sẽ nói: - Khách quen sao tui không biết vậy cà(1)? Tui nghe bước chân lạ lắm. - Đó là tại vì tui đang hồi hộp. Tui thấy khu vườn nở nhiều hoa quá. - Hoa hồng và mào gà phải không? - Ôi! Sao anh biết hay quá vậy?
(1) Vậy cà: (như vậy nhỉ ) cụm từ chêm vào cuối câu để biểu thị sự ngạc nhiên về điều gì đó.
Bạn sẽ nói to lên: – Tại vì tôi có con mắt thần. – Con mắt thần nằm ở đâu vậy? – Nằm ở mũi tui. Đó chính là một điều bí mật mà tôi muốn chia sẻ với bạn. Bạn hãy
Bạn sẽ nói to lên:
– Tại vì tôi có con mắt thần.
– Con mắt thần nằm ở đâu vậy?
– Nằm ở mũi tui.
Đó chính là một điều bí mật mà tôi muốn chia sẻ với bạn. Bạn hãy thử đi rồi sẽ thấy, khu vườn sẽ lớn lên rất nhiều. Những bông hoa thơm hơn và khi nhắm mắt, bạn vẫn nhìn thấy nó. Không chỉ vậy, bạn còn thấy nguyên cả khu vườn. Bạn có thể nhìn thấy bông hồng ngay trong đêm tối. Đêm bạn nằm, đắp chăn kín người nhưng bạn vẫn có thể đi dạo. Bạn sẽ không bao giờ lạc trong bất cứ một khu vườn nào, bởi vì, những bông hoa sẽ chỉ lối cho bạn, một lối đi an toàn và thơm ngát.
Và lúc đó, bạn sẽ tiếc lắm nếu thế giới này vắng đi những bông hoa. Bạn sẽ tự hỏi, tại sao trong khu vườn không có người dẫn lối? Người ta sẽ ngạc nhiên hỏi lại, người dẫn lối nào? Bạn sẽ từ từ nói, đó là NHỮNG BÔNG HOA...
Những bông hoa chính là người đưa đường!
(Nguyễn Ngọc Thuần, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2014, tr. 41 – 49)
Theo dõi
Điều bí mật nhân vật "tôi" muốn chia sẻ là gì?
SAU KHI ĐỌC
Nguyễn Ngọc Thuần sinh năm 1972 ở Bình Thuận (nay thuộc tỉnh Lâm Đồng). Ông là cây bút chuyên sáng tác cho trẻ em. Tác phẩm của Nguyễn Ngọc Thuần mang đến một thế giới trong trẻo, tươi mới, ấm áp, đầy chất thơ. Ở đó, có bao nhiêu sợi tơ của niềm yêu thương, trìu mến kết nối tâm hồn mỗi chúng ta với thiên nhiên, với con người, cuộc sống. Nhiều tác phẩm viết cho thiếu nhi của Nguyễn Ngọc Thuần được độc giả rất yêu thích: Một thiên nằm mộng (2001), Trên đồi cao chăn bầy thiên sứ (2003), Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ (2004),…
Em có biết?
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ đã giành được giải thưởng Pi-tơ Pen (Peter Pan) – giải thưởng của Uỷ ban Quốc tế về sách dành cho thiếu nhi tại Thụy Điển năm 2008 và được dịch ra nhiều thứ tiếng (Anh, Thụy Điển, Thái Lan, Hàn Quốc,…).
Thực hành tiếng Việt SỐ TỪ 1 Tìm số từ trong các câu sau: a. Buổi chiều ra đồng về, bố thường dẫn tôi ra vườn, hai bố con thi nhau tưới. b. Bố làm cho tôi một b
Thực hành tiếng Việt
SỐ TỪ
1 Tìm số từ trong các câu sau:
a. Buổi chiều ra đồng về, bố thường dẫn tôi ra vườn, hai bố con thi nhau tưới.
b. Bố làm cho tôi một bình tưới nhỏ bằng cái thùng đựng sơn rất vừa tay.
c. – Cách đây khoảng ba chục mét, hướng này!
2 Tìm số từ chỉ số lượng ước chừng trong các câu sau:
a. Bố có thể lặn một hơi dài đến mấy phút.
b. Tôi còn về vài ngày nữa là khác.
c. Tôi nghe nói bà về đây một hai hôm rồi đi.
Tìm thêm ba số từ chỉ số lượng ước chừng khác và đặt câu với mỗi từ.
Nhận biết số từ
Số từ có thể được phân chia thành hai nhóm:
Số từ chỉ số lượng gồm các số từ chỉ số lượng xác định (một, hai, ba,...) và số từ chỉ số lượng ước chừng (vài, dăm, mươi, dăm bảy, ba bốn,...). Khi biểu thị số lượng sự vật, số từ thường đứng trước danh từ.
Ví dụ:
(1) Tôi đoán được hai loại hoa: hoa mồng gà và hoa hướng dương.
Số từ hai trước danh từ loại chỉ số lượng xác định.
(2) Chúng tôi gặp nhau và nói dăm ba câu chuyện.
Người thầy đầu tiên (trích, Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp) 3 Trong câu: “Nó là thằng Tí, con bà Sáu.”, từ Sáu có phải là số từ không? Vì sao từ này được viết hoa? 4
Người thầy đầu tiên (trích, Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp)
3 Trong câu: “Nó là thằng Tí, con bà Sáu.”, từ Sáu có phải là số từ không? Vì sao từ này được viết hoa?
4 Trong câu: “Bụng nó đầy nước, bố phải nắm ngược hai chân dốc xuống như làm xiếc.”, có số từ hai kết hợp với chân (hai chân). Trong tiếng Việt, bên cạnh hai chân còn có đôi chân. Hãy tìm thêm những trường hợp tương tự và cho biết sự khác nhau về nghĩa giữa cụm từ có số từ hai và cụm từ có danh từ đơn vị đôi chỉ số lượng trong mỗi trường hợp.
5 Có những số từ vốn chỉ số lượng xác định nhưng trong một số trường hợp lại mang nghĩa không xác định. Ví dụ: Một nghề cho chín còn hơn chín nghề. Từ chín thứ hai là số từ chỉ số lượng xác định nhưng ở đây lại mang nghĩa biểu trưng là nhiều (nhiều nghề). Hãy tìm một thành ngữ có số từ được dùng theo cách như vậy và giải thích nghĩa của thành ngữ đó.
Số từ dăm ba trước danh từ câu chuyện chỉ số lượng ước chừng.
• Số từ chỉ thứ tự thường kết hợp với các từ thứ, hạng, loại, số, đứng sau danh từ trung tâm, thể hiện thứ tự của sự vật được nêu ở danh từ trung tâm.
Ví dụ: Tôi ngồi bàn thứ nhất.
Số từ nhất kết hợp với từ thứ (thứ nhất) đứng sau danh từ bàn chỉ số thứ tự của sự vật.
Cần phân biệt số từ với danh từ chỉ đơn vị gắn với ý nghĩa số lượng như: đôi, chục, tá,... Những danh từ này có thể kết hợp với số từ ở trước và các từ ấy, này,... ở sau (ba đôi ấy, hai chục này,...) còn số từ thì không.
VĂN BẢN 2
TRƯỚC KHI ĐỌC
Hãy kể ngắn gọn về một thầy, cô giáo mà em đặc biệt yêu quý.
ĐỌC VĂN BẢN
Người thầy đầu tiên (1)
Trích, TRIN-GHI-DƠ AI-TÔ-MA-TỐP
(1)
Mùa thu năm ngoái tôi nhận được một bức điện từ làng tôi gửi đến. Bà con trong làng mời tôi về dự buổi khánh thành ngôi trường mới do nông trường xây dựng.
Nhận biết
Người kể chuyện ở đây là ai?
(1) Người thầy đầu tiên là truyện vừa, lấy bối cảnh cuộc sống ở một vùng quê miền núi còn rất lạc hậu ở Cư-rơ-gư-dơ-xtan (Kyrgyzstan) vào những năm đầu thế kỉ XX. Nhân vật chính là An-tư-nai (Altynai), một cô bé mồ côi, phải sống với gia đình chú thím, bị đối xử tàn nhẫn,... Thầy Duy-sen (Dyuishen) đã kiên trì dạy An-tư-nai học chữ, hết lòng bảo vệ và giúp An-tư-nai có cơ hội lên thành phố tiếp tục việc học hành. An-tư-nai rất yêu quý thầy Duy-sen nhưng do hoàn cảnh, thầy trò phải xa cách rồi bặt tin nhau. Mấy chục năm sau, An-tư-nai đã là một viện sĩ, trở về thăm làng và gặp lại người thầy đầu tiên của mình trong một tình huống rất éo le. Bà đã viết thư nhờ người hoạ sĩ đồng hương kể lại câu chuyện về thầy Duy-sen như một hành động chuộc lỗi.
Tôi lập tức quyết định về làng, vì làm sao tôi có thể ngồi nhà trong một ngày vui của quê hương như thế được. Tôi còn về trước vài ngày nữa là khác. Tôi định bụ
Tôi lập tức quyết định về làng, vì làm sao tôi có thể ngồi nhà trong một ngày vui của quê hương như thế được. Tôi còn về trước vài ngày nữa là khác. Tôi định bụng về sẽ dạo quanh, ngắm cảnh và vẽ ít bức kí hoạ(1). Trong số những người được mời về dự hoá ra có cả bà viện sĩ Xu-lai-ma-nô-va (Sulaimanova). Tôi nghe nói bà về đây một hai hôm rồi đi thẳng lên Mát-xcơ-va (Moskva). […] Thế là bà An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va ra đi. Tôi trở lại thành phố và mấy hôm sau bỗng nhận được thư của bà. Bà cho biết là sẽ ở lại Mát-xcơ-va lâu hơn dự định và viết: "Tuy có rất nhiều công việc quan trọng và khẩn cấp, tôi cũng đã quyết định gác hết lại và viết lá thư này cho anh… Nếu anh thấy điều tôi viết đây đáng được chú ý thì tôi khẩn khoản xin anh nghĩ xem làm thế nào cho mọi người cùng biết câu chuyện tôi sẽ kể. Tôi nghĩ không phải chỉ riêng bà con trong làng mà nói chung mọi người, nhất là lứa tuổi trẻ, đều cần biết câu chuyện này." […] Tôi đã mang nặng trong lòng những ấn tượng của lá thư ấy mấy ngày liền. Và tôi không nghĩ ra được cách gì hơn là thay mặt bà An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va để kể hết chuyện này.
(2) […] Có lần, mang những túi đựng đầy ki-giắc(2) nhặt Theo dõi ở chân núi mé trên làng trở về, chúng tôi vòng vào trường
Sự thay đổi nhân vật người
xem thử thầy giáo đang làm gì ở đấy. kể chuyện.
[…] Lúc chúng tôi đặt các bao ki-giắc xuống đất để nghỉ một lát, Đuy-sen từ trong cửa bước ra, người bê bết đất. Trông thấy chúng tôi, anh ngẩn người ra một lát, nhưng rồi lại mỉm cười niềm nở, lấy tay quệt mồ hôi trên mặt.
Đi đâu về thế các em gái? Chúng tôi ngồi cạnh những bao ki-giắc thẹn thò nhìn nhau, Đuy-sen hiểu rằng chúng tôi im lặng vì bẽn lẽn nên nháy mắt động viên: - Những cái bao kia to hơn cả người các em đấy. Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì? Còn trường của các em thì có thể nói là đã xong đến nơi rồi. Thầy vừa đắp lò sưởi ở góc nhà và bắc cả ống khói trên mái, các em thử nhìn xem! Giờ chỉ còn phải trữ sẵn củi để sưởi trong mùa đông nữa thôi, nhưng không sao, chung quanh thiếu gì củi khô. Dưới nền nhà ta sẽ trải rơm thật nhiều, thế là có thể bắt đầu học được rồi. Thế nào, các em thích học không, các em sẽ đi học chứ?
(1) Kí hoạ: vẽ nhanh nhằm ghi lại những nét chính của đối tượng và cảm xúc của người vẽ. (2) Ki-giắc: chất đốt bằng phân bò, phân ngựa khô.
Tôi lớn hơn các bạn gái khác nên đánh bạo trả lời: - Nếu thím em cho đi thì em sẽ đi. - Sao thím em lại không cho, thế nào cũng cho chứ. Theo dõi Vậy tên em là
Tôi lớn hơn các bạn gái khác nên đánh bạo trả lời: - Nếu thím em cho đi thì em sẽ đi. - Sao thím em lại không cho, thế nào cũng cho chứ. Theo dõi
Vậy tên em là gì? Ngôn ngữ đối thoại của các
An-tư-nai. - Tôi vừa đáp vừa lấy tay che chỗ gấu váy nhân vật. thủng để hở một mảng đầu gối.
An-tư-nai, cái tên hay quá, mà em thì chắc là ngoan lắm phải không? - Đuy-sen mỉm cười hiền từ khiến tôi thấy lòng ấm hẳn lại.
Thế em con ai? Tôi lặng thinh; tôi vốn không thích có ai thương hại tôi. - Chị ấy mồ côi ạ, chị ấy ở với chú thím. - Mấy đứa bạn tôi đỡ lời. - Thế này nhé - Đuy-sen lại mỉm cười nói với tôi - An-tư-nai ạ, em sẽ dẫn các em khác đi học được chứ?
Thưa chú được ạ. - Các em cứ gọi thầy là thầy. Các em có muốn xem trường không? Vào đây, đừng ngại gì cả.
Không, chúng em phải về nhà đây. - Chúng tôi rụt rè nói. - Thôi được, các em chạy về nhà đi. Khi nào đến học các em sẽ xem sau vậy. Giờ chưa tối, thầy đi lấy rạ khô lần nữa đã.
Cầm lấy chiếc liềm và sợi dây, Đuy-sen bước ra đồng. Chúng tôi cũng đứng dậy cõng những bao ki-giắc lên lưng và rảo bước về làng. […]
(3) Tiết trời đã sắp sang đông. Trước những trận mưa tuyết đầu mùa, mỗi khi đi học, chúng tôi phải lội qua một con suối lòng đá chảy róc rách dưới chân đồi. Nhưng về sau không thể nào lội qua được nữa, vì nước băng lạnh buốt cóng cả chân. Khổ nhất là những em nhỏ, thậm chí chúng phải phát khóc Theo dõi lên. Những lúc ấy, thầy Đuy-sen đã bế các em qua suối. Những chi tiết miêu tả sự Lưng thì cõng, tay thì bế và cứ như thế thầy lần lượt đưa quan tâm, chăm sóc các học
trò của thầy Đuy-sen.
hết các em sang.
Giờ đây nhớ lại cảnh xưa, tôi thấy khó lòng mà tin được rằng tất cả những điều đó là có thật. Nhưng lúc bấy giờ, không biết vì ngu dốt hay vì nông nổi, người ta đã cười thầy Đuy-sen, nhất là bọn nhà giàu thường trú qua mùa đông ở trên núi và chỉ xuống làng khi cần xay thóc. Đã nhiều lần gặp chúng tôi ở chỗ lội qua suối, bọn họ,
đầu đội mũ lông cáo màu đỏ, mình mặc những chiếc áo lông cừu quý, nghễu nghện trên lưng những con ngựa hung dữ no căng, giương mắt nhìn thầy Đuy-sen rồi bỏ đi.
đầu đội mũ lông cáo màu đỏ, mình mặc những chiếc áo lông cừu quý, nghễu nghện trên lưng những con ngựa hung dữ no căng, giương mắt nhìn thầy Đuy-sen rồi bỏ đi. Một tên trong bọn cười nấc lên và huých tay tên đi bên cạnh nói:
Đứa thì cõng, đứa thì bế, trông đã hay chưa!
[...] Rồi họ quất cho ngựa chạy làm nước và bùn bắn tung toé lên chúng tôi, cười phá lên rồi đi khuất. Sao lúc đó tôi muốn đuổi theo những con người ngu Theo dõi xuẩn ấy thế, muốn nắm lấy cương ngựa và quát thẳng vào Suy nghĩ, cảm xúc của những bộ mặt láo xược của họ: "Các người không được An-tư-nai về mọi người, nói thầy giáo của chúng tôi như thế! Các người ngu lắm, về thầy Đuy-sen. các người tồi lắm.".
Nhưng liệu có ai chịu nghe lời một con bé thơ dại như tôi? Và tôi chỉ còn biết nuốt những giọt lệ căm uất đang trào lên, nóng hổi. Còn thầy Đuy-sen thì dường như không để ý đến những lời lăng mạ đó, coi như không nghe thấy gì hết. Thường là thầy nghĩ ra một câu chuyện vui nào đó khiến lũ chúng tôi phá lên cười, quên mất mọi sự. Thầy Đuy-sen có cố gắng bao nhiêu cũng chưa kiếm đủ gỗ để bắc một chiếc cầu nhỏ qua suối. Có lần ở trường về, sau khi đã đưa hết các em nhỏ sang, tôi cùng với thầy Đuy-sen dừng lại bên bờ suối. Chúng tôi quyết định lấy đá và những tảng đất cỏ đắp thành các ụ nhỏ trên lòng suối để bước qua cho khỏi bị ướt chân. [...] Hôm chúng tôi xếp đá qua dòng nước, tuyết đã Hình dung phủ đầy trên mặt đất và nước buốt đến chết cóng đi được. Tôi không tưởng tượng được thầy Đuy-sen làm Hình ảnh thầy Đuy-sen trong
kí ức của An-tư-nai.
thế nào chịu nổi - vì thầy đi chân không, làm không ngơi tay. Tôi chật vật đặt chân xuống suối, tưởng chừng như dòng suối rải đầy than hồng nóng bỏng. Bỗng dưng đến giữa suối tôi bị chuột rút ở chân, người co rúm lại. Tôi không thể kêu lên một tiếng, cũng không thể đứng thẳng lên được nữa
và từ từ ngã xuống nước. Thầy Đuy-sen lẳng tảng đá đi, nhảy ngay lại bên tôi, đỡ tôi lên tay, rồi bế tôi chạy lên bờ và lót chiếc áo choàng đặt tôi ngồi vào đấy
và từ từ ngã xuống nước. Thầy Đuy-sen lẳng tảng đá đi, nhảy ngay lại bên tôi, đỡ tôi lên tay, rồi bế tôi chạy lên bờ và lót chiếc áo choàng đặt tôi ngồi vào đấy. Thầy hết xoa hai chân đã tím bầm, cứng đờ như gỗ của tôi, lại bóp chặt đôi tay lạnh cóng của tôi trong lòng bàn tay mình, rồi đưa lên miệng hà hơi ấm cho tôi.
Thầy Đuy-sen khẽ nói: - An-tư-nai, em ngồi đây cho ấm, đừng xuống nữa. Một mình thầy làm cũng đủ… Cuối cùng khi những chỗ đặt chân xếp đã xong, Đuy-sen vừa xỏ chân vào ủng, vừa nhìn nét mặt ỉu xìu, tái mét của tôi và mỉm cười hỏi: - Thế nào, cô em giúp việc, đã đỡ rét chưa? Khoác cái áo choàng lên, thế… thế! - Thầy yên lặng một lát rồi hỏi:
An-tư-nai, lần ấy có phải em trút lại ki-giắc ở trường không? - Vâng ạ. - Tôi đáp. Thầy hơi nhếch mép mỉm cười, như thể tự nhủ: "Mình đoán đúng mà!". Tôi còn nhớ lúc ấy máu dồn lên má tôi nóng ran: như vậy nghĩa là thầy đã biết và chưa quên một điều tưởng như nhỏ mọn ấy. Tôi sung sướng quá, lịm cả người đi và Đuy-sen cũng hiểu niềm hân hoan của tôi. - Dòng suối trong trẻo của thầy - thầy âu yếm nhìn tôi nói - em thông minh lắm… Ôi, ước gì thầy được gửi em ra thành phố lớn. Em còn sẽ khá hơn biết chừng nào.
Đuy-sen bước nhanh lên bờ. Và giờ đây tôi mường tượng thấy thầy đang đứng trước mặt tôi, như lúc bấy giờ thầy đã đứng giữa dòng suối đá đang réo lên ầm ầm, hai tay để sau gáy và đôi mắt sáng long lanh đăm đăm nhìn theo những đám mây trắng xa tít đang bị gió thổi cuốn qua các ngọn núi.
Thầy nghĩ gì khi ấy? Có thể thầy đang mơ tưởng cho Theo dõi tôi ra một thành phố lớn học thật chăng? Còn tôi, lúc bấy
Tình cảm của An-tư-nai và
giờ cuộn tròn trong chiếc áo choàng của thầy Đuy-sen, các học trò dành cho thầy tôi thầm nghĩ: "Ước gì thầy là anh ruột của tôi! Ước gì Đuy-sen. tôi được bá cổ thầy, nhắm nghiền mắt lại và thủ thỉ với thầy những lời đẹp đẽ nhất! Trời ơi, ước gì thầy Đuy-sen là anh ruột tôi!". Chắc chắn tất cả đám học sinh chúng tôi đứa nào cũng yêu mến thầy vì tấm lòng nhân từ, vì những ý nghĩ tốt lành, vì những ước mơ của thầy về tương lai chúng tôi. Tuy chúng tôi còn bé, nhưng tôi nghĩ rằng lúc đó chúng tôi đều đã hiểu được những điều ấy. Còn có cái gì khác bắt chúng tôi ngày nào cũng đi xa, leo đồi lội suối, bạt hơi vì gió rét, chân ngập trong những cồn tuyết như vậy được nữa? Chúng tôi tự nguyện
đến trường, không ai phải xua chúng tôi đến cả. Không ai có thể buộc chúng tôi phải chịu cóng trong căn nhà kho lạnh lẽo. Tuy ngồi trong nhà, mà mỗi khi thở ra
đến trường, không ai phải xua chúng tôi đến cả. Không ai có thể buộc chúng tôi phải chịu cóng trong căn nhà kho lạnh lẽo. Tuy ngồi trong nhà, mà mỗi khi thở ra là hơi giá bám trắng xoá cả mặt mũi, tay chân, quần áo. Chúng tôi chỉ dám thay phiên nhau đứng sưởi cạnh lò, còn tất cả đành ngồi tại chỗ nghe thầy Đuy-sen giảng bài.
(4) [...] Tôi mở tung các cửa sổ. Một luồng gió mát lùa Nhận biết vào phòng. Trong ánh lê minh(1) xanh nhạt đang sáng Người kể chuyện ở phần (4) dần tôi nhìn kĩ những bản nghiên cứu phác thảo của bức là ai? tranh tôi vừa khởi công. Những bức vẽ ấy nhiều lắm. Tôi đã nhiều lần vẽ đi vẽ lại từ đầu. Nhưng bây giờ mà nói về toàn bộ bức tranh thì hãy còn sớm. Tôi vẫn chưa tìm ra cái chính… Tôi đi đi lại lại trong cảnh tĩnh mịch của buổi lê minh và cứ suy nghĩ, suy nghĩ mãi. Và lần nào cũng đều như thế. Lần nào tôi cũng lại thấy rõ ràng bức tranh của tôi chỉ mới là một ý đồ. Tuy vậy tôi vẫn muốn nói với các bạn về tác phẩm Suy luận dở dang của tôi. Tôi muốn hỏi ý kiến các bạn. Chắc các
Người kể chuyện băn khoăn,
bạn cũng đã đoán ra rằng bức tranh của tôi dành cho trăn trở về điều gì? Người thầy đầu tiên của làng chúng tôi. […] Tôi không thể không vẽ bức tranh này, nhưng sao tôi thấy băn khoăn, lo lắng quá! Có khi tôi tưởng chừng rồi sẽ chẳng ra gì hết. Và những lúc ấy tôi lại nghĩ: Tại sao số phận lại trớ trêu đặt cây bút vẽ vào tay tôi làm gì? Thật là một cuộc sống khổ ải! Lại có khi tôi cảm thấy mình dũng mãnh đến nỗi dù có phải chuyển núi dời sông tôi cũng sẵn sàng. Và những khi ấy tôi nghĩ: Hãy nhìn đi, hãy nghiên cứu, chọn lọc. Hãy vẽ hai cây phong của Đuy-sen và An-tư-nai, chính hai cây phong đã cho tuổi thơ của mày bấy nhiêu giây phút sướng vui, mặc dù mày không biết rõ sự tích của chúng. Hãy vẽ một đứa bé đi chân không, da rám nắng. Nó trèo lên cao, thật là cao và ngồi lên một cành phong, đôi mắt hân hoan nhìn vào cõi xa xăm kì ảo. Hay là vẽ bức tranh đề là "Người thầy đầu tiên". Đó có thể là lúc Đuy-sen bế trẻ con qua con suối và cạnh đấy, trên những con ngựa no nê hung dữ, những con người đần độn, mũ lông cáo đỏ đi qua đang chế giễu ông… Nếu không, thì hãy vẽ người thầy giáo tiễn An-tư-nai lên tỉnh. Mày còn nhớ khi ông cất tiếng gọi An-tư-nai lần cuối cùng! Hãy vẽ một bức tranh như thế, sao cho bức tranh ấy giống như tiếng gọi của Đuy-sen mà đến nay An-tư-nai vẫn còn nghe vẳng lại, sẽ vang dội mãi trong lòng mỗi người.
(Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp, Gia-mi-li-a (Jaymilya) - Truyện núi đồi và thảo nguyên, Phạm Mạnh Hùng - Nguyễn Ngọc Bằng - Cao Xuân Hạo - Bồ Xuân Tiến dịch,
(1) Lê minh: bình minh, ban mai.
SAU KHI ĐỌC người Cư-rơ-gư-dơ-xtan. Tác phẩm của Ai-tơ-ma-tốp chủ yếu viết về cuộc sống khắc nghiệt mà cũng rất giàu chất thơ ở quê hương ông. Ở đó, có núi đồi,
SAU KHI ĐỌC
người Cư-rơ-gư-dơ-xtan. Tác phẩm của Ai-tơ-ma-tốp chủ yếu viết về cuộc sống khắc nghiệt mà cũng rất giàu chất thơ ở quê hương ông. Ở đó, có núi đồi, thảo nguyên hoang sơ, hùng vĩ; có những con người mạnh mẽ, can đảm, tâm hồn phóng khoáng,… Lối viết của Ai-tơ-ma-tốp cô đọng, hàm súc; có nhiều cách tân độc đáo trong nghệ thuật kể chuyện. Nhiều tác phẩm nổi tiếng của ông đã được dịch sang tiếng Việt: Gia-mi-li-a (1958), Cây phong non trùm khăn đỏ (1961), Người thầy đầu tiên (1962), Con tàu trắng (1970), Và một ngày dài hơn thế kỉ (1980),…
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Xác định người kể chuyện và ngôi kể trong từng phần của đoạn trích.
2. Các nhân vật người kể chuyện trong đoạn trích có quan hệ với nhau như thế nào?
3. Qua cuộc trò chuyện giữa các bạn nhỏ và thầy Đuy-sen ở phần (2), em hình dung
như thế nào về hoàn cảnh sống của An-tư-nai?
4. Em hãy đọc kĩ phần (3) của đoạn trích và trả lời các câu hỏi sau:
a. Hình ảnh thầy Đuy-sen hiện lên qua lời kể, cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật nào?
b. Những chi tiết tiêu biểu nào được nhà văn sử dụng để khắc hoạ nhân vật thầy Đuy-sen?
c. Khái quát đặc điểm tính cách nhân vật thầy Đuy-sen.
5. An-tư-nai đã dành cho thầy Đuy-sen tình cảm như thế nào? Nhờ "người thầy đầu tiên"
ấy, cuộc đời An-tư-nai đã thay đổi ra sao?
6. Ở phần (4), nhân vật người hoạ sĩ đã có những ý tưởng gì cho bức tranh vẽ thầy
Đuy-sen? Em ủng hộ ý tưởng nào của hoạ sĩ?
7. Theo em, cách nhà văn thay đổi kiểu người kể chuyện ở các phần trong đoạn trích
có tác dụng gì?
VIẾT KẾT NỐI VỚI ĐỌC
Viết đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) kể lại nội dung của phần (1) hoặc phần (4) văn bản Người thầy đầu tiên bằng lời của người kể chuyện ngôi thứ ba.
Thực hành tiếng Việt PHÓ TỪ Tìm các phó từ bổ sung ý nghĩa cho danh từ trong các câu sau: a. Tôi nghĩ không phải chỉ riêng bà con trong làng mà nói chung mọi ng
Thực hành tiếng Việt
PHÓ TỪ
Tìm các phó từ bổ sung ý nghĩa cho danh từ trong các câu sau:
a. Tôi nghĩ không phải chỉ riêng bà con trong làng mà nói chung mọi người, nhất là lứa tuổi trẻ, đều cần biết câu chuyện này.
b. Những lúc ấy, thầy Duy-sen đã bế các em qua suối.
c. Tuy chúng tôi còn bé, nhưng tôi nghĩ rằng lúc đó chúng tôi đều đã hiểu được những điều ấy.
Tìm phó từ bổ sung ý nghĩa cho động từ, tính từ trong những câu sau và cho biết mỗi phó từ bổ sung ý nghĩa gì.
a. Và tôi không nghĩ ra được cách gì hơn là thay mặt bà An-tư-nai Xu-lai-ma-nô-va để kể hết chuyện này.
b. Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì?
c. Chúng tôi cũng đứng dậy cõng những bao ki-giắc lên lưng và rảo bước về làng.
d. An-tư-nai, cái tên hay quá, mà em thì chắc là ngoan lắm phải không?
Trong phần (4) của văn bản Người thầy đầu tiên, phó từ hãy được lặp lại nhiều lần. Cho biết tác dụng của việc lặp lại phó từ này.
Và những khi ấy tôi nghĩ: Hãy nhìn đi, hãy nghiên cứu, chọn lọc. Hãy vẽ hai cây phong của Duy-sen và An-tư-nai, chính hai cây phong đã cho tuổi thơ của mày bấy nhiêu giây phút sướng vui, mặc dù mày không biết rõ sự tích của chúng. Hãy vẽ một đứa bé đi chân không, da rám nắng. Nó trèo lên cao, thật là cao và ngồi lên một cành phong, đôi mắt hân hoan nhìn vào cõi xa xăm kì ảo.
[...] Nếu không, thì hãy vẽ người thầy giáo tiễn An-tư-nai lên tỉnh. Mày còn nhớ khi ông cất tiếng gọi An-tư-nai lần cuối cùng! Hãy vẽ một bức tranh như thế, sao cho bức tranh ấy giống như tiếng gọi của Duy-sen mà đến nay An-tư-nai vẫn còn nghe vẳng lại, sẽ vang dội mãi trong lòng mỗi người.
Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) trình bày cảm nhận của em về nhân vật thầy Duy-sen hoặc An-tư-nai, trong đoạn văn có sử dụng ít nhất 3 phó từ.
Nhận biết phó từ
Phó từ được phân chia thành hai nhóm:
• Phó từ đi kèm danh từ: Phó từ làm thành tố phụ trước cho danh từ và bổ sung ý nghĩa về số lượng của sự vật. Đó là các từ: những, các, mọi, mỗi, từng,...
Ví dụ: Những bức tranh ấy đẹp lắm.
Phó từ những trước danh từ bức tranh chỉ số lượng.
• Phó từ đi kèm động từ, tính từ: Phó từ làm thành tố phụ trước hoặc sau cho động từ, tính từ, bổ sung ý nghĩa liên quan đến hoạt động, trạng thái, đặc điểm nêu ở động từ, tính từ (quan hệ thời gian, sự tiếp diễn tương tự, sự phủ định, sự cầu khiến, mức độ, kết quả,...).
Ví dụ:
(1) Hãy nhìn tôi đây!
Phó từ hãy trước động từ nhìn chỉ sự cầu khiến, mệnh lệnh.
(2) Em thông minh lắm.
Phó từ lắm sau tính từ thông minh chỉ mức độ.
VĂN BẢN 3 ĐỌC VĂN BẢN Quê hương TẾ HANH Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới: Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông. Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng, Dân tra
VĂN BẢN 3
ĐỌC VĂN BẢN
Quê hương
TẾ HANH
Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông.
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng,
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá:
Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã(1)
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang(2).
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió...
Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe(3) về.
“Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”,
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng.
Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm;
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.
Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!
(Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội, 2006, tr. 167)
(1) Tuấn mã: con ngựa khoẻ, đẹp.
(2) Trường giang: sông dài.
(3) Ghe: thuyền gỗ có mũi.
Viết Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học Trong các bài học vừa qua, em đã được “làm quen” với nhiều nhân vật văn học thú vị. Đó
Viết
Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học
Trong các bài học vừa qua, em đã được “làm quen” với nhiều nhân vật văn học thú vị. Đó là các bạn nhỏ với tâm hồn trong sáng, tinh tế, nhân hậu như Mên, Mon (Bầy chim chia sẻ), An, Cò (Đi lấy mật),... và cả những người cha (Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ), người thầy (Người thầy đầu tiên),... hết lòng yêu thương con trẻ. Chắc hẳn, còn có một số nhân vật mà em từng “gặp gỡ” qua những tác phẩm truyện đã đọc khác. Phần Viết của bài học này sẽ hướng dẫn em cách viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học.
Yêu cầu đối với bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học: Giới thiệu được nhân vật trong tác phẩm văn học. Chỉ ra được đặc điểm của nhân v
Yêu cầu đối với bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học:
Giới thiệu được nhân vật trong tác phẩm văn học.
Chỉ ra được đặc điểm của nhân vật dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm.
Nhận xét được nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn.
Nêu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật.
Phân tích bài viết tham khảo Con mèo tuyệt vời nhất thế giới!
Con mèo ấy tên là Gióc-ba, một nhân vật trong tác phẩm Chuyện con mèo dạy hải âu bay của nhà văn Giới thiệu nhân vật. Lu-i Xe-pun-ve-da. Trong thiên đồng thoại nổi tiếng thế giới này, tác giả đã sáng tạo thành công nhiều nhân vật là loài vật: Đại Tá, Bốn Biển, Anh-xtanh, Mét-thiu,… Nhưng với tôi, Gióc-ba luôn là nhân vật đáng yêu và thú vị nhất. Nhân vật Gióc-ba bắt đầu xuất hiện từ chương 2 và lập tức gây chú ý với dáng vẻ bề ngoài rất khác biệt: Chỉ ra đặc điểm của nhân "Con mèo mun to đùng, mập ú", bộ lông đen óng như vật dựa trên các bằng
chứng trong tác phẩm.
than, "đen từ đầu tới chân, trừ một túm lông trắng dưới cằm". Ngay trong "màn" giới thiệu, đặc điểm ngoại hình này đã được tác giả nhắc lại tới mười lần, khiến người đọc dễ có ấn tượng về một chú mèo lười béo ú, xấu xí và với nhiều "con người" thì mèo đen còn "mang tới điềm xấu".
Ấn tượng ban đầu ấy cứ tan biến dần, dù ngoại hình của Gióc-ba không hề thay đổi, lúc nào cũng là con mèo mun mập ú, to đùng, đen như cục nhựa đường. Cuộc gặp gỡ bất ngờ và những lời hứa với hải âu mẹ Ken-ga; hành trình nuôi dưỡng hải âu con Lắc-ki đã trở thành "cơ hội" để Gióc-ba bộc lộ những nét tính cách đẹp đẽ, quý giá. Đó là sự quả quyết, dũng mãnh khi Gióc-ba trừng trị hai tên mèo hoang láo xược và lũ chuột gian xảo; khi Gióc-ba sẵn sàng tấn công cả con đười ươi to xác, độc ác để bảo vệ Lắc-ki. Những lúc ấy, Gióc-ba nhanh như chim cắt, bộ lông đen tuyền xù lên, đôi mắt màu vàng sáng quắc, bộ vuốt sắc nhọn trở thành vũ khí lợi hại. Đó là lòng tự trọng khi Gióc-ba vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để thực hiện tất cả những lời hứa của mình: không ăn quả trứng, ấp trứng, nuôi lớn hải âu con và dạy cho nó biết bay! Đặc biệt, qua cách miêu tả của nhà văn, Gióc-ba hiện lên như một
con người có trái tim nhân hậu và tâm hồn sâu sắc. Gióc-ba hết lòng cứu giúp Ken-ga; kiên nhẫn ấp trứng vì xót thương hải âu mẹ bất hạnh. Chú mèo mun to đùng, m
con người có trái tim nhân hậu và tâm hồn sâu sắc. Gióc-ba hết lòng cứu giúp Ken-ga; kiên nhẫn ấp trứng vì xót thương hải âu mẹ bất hạnh. Chú mèo mun to đùng, mập ú chăm sóc hải âu con chu đáo như một người mẹ: tìm kiếm thức ăn, mớm mồi; trông nom, dỗ dành, bảo vệ; tôn trọng mọi cảm xúc, mong muốn của con,… Rất muốn thực hiện lời hứa dạy Lắc-ki bay nhưng Gióc-ba không hề thúc giục mà kiên nhẫn chờ đợi đến lúc hải âu con sẵn sàng. Không chỉ thế, Gióc-ba chấp nhận "liều chết" phá bỏ cấm kị của loài mèo để giúp Lắc-ki được sống cuộc đời của chính mình. Dù biết khi bay được, Lắc-ki sẽ không còn ở cùng bầy mèo nữa, Gióc-ba vẫn nỗ lực phi thường để hải âu con có được niềm hạnh phúc tung cánh giữa bầu trời. Mười bảy lần Lắc-ki thất bại, Gióc-ba vẫn tin tưởng, động viên: "Con sẽ bay. Cả bầu trời kia thuộc về con!". Để rồi khi Lắc-ki bay vút vào khoảng không bao la, con mèo mun to đùng ngồi lặng, dõi theo mãi "cho tới lúc nó không biết những giọt nước mưa hay nước mắt đã phủ mờ đôi mắt". Mèo Gióc-ba đã dành cho hải âu Lắc-ki tình yêu thương vô hạn. Nhân vật Gióc-ba được Lu-i Xe-pun-ve-da khắc hoạ qua các chi tiết miêu tả ngoại hình, lời nói, cử chỉ, Nhận xét nghệ thuật hành động, cảm xúc, suy nghĩ và qua mối quan hệ với xây dựng nhân vật của những nhân vật khác (cậu chủ nhỏ, các bác mèo thông nhà văn. thái, Lắc-ki, thi sĩ,…). Nghệ thuật nhân hoá tài tình khiến Gióc-ba hiện lên rất sống động, mang tính cách con người mà vẫn không mất đi những đặc điểm của một chú mèo đáng yêu. Tác giả đã sáng tạo nhiều chi tiết có giá trị biểu hiện rất đặc sắc như: Gióc-ba ấp trứng bằng thân hình mập ú; bắt ruồi mớm cho hải âu con và dùng răng tha nó chạy khỏi nơi nguy hiểm; trò chuyện với thi sĩ bằng nhiều thứ tiếng;… Lối kể chuyện vừa giàu cảm xúc vừa hài hước, tươi vui cũng tạo nên sức hấp dẫn rất lớn. Ví dụ, chi tiết miêu tả tâm trạng Gióc-ba khi nghe thấy hải âu con chiêm chiếp gọi mình bằng "má": "Nó biết là lông của mình đen óng như than, nhưng dường như nỗi xúc động và xấu hổ đã khiến nó ngượng hồng lựng cả người" đã diễn tả được niềm yêu thương, cảm động và cả tình cảnh "trớ trêu" của chú mèo mun to đùng. Sáng tạo nhân vật Gióc-ba, nhà văn còn mượn "tiếng chim lời thú" để gửi gắm nhiều bài học dành cho con Nêu ý nghĩa của hình tượng người: sự trân trọng lời hứa; sức mạnh kì diệu của tình nhân vật. yêu thương; tinh thần bảo vệ kẻ yếu; sống can đảm, giàu khát vọng: "Chỉ những kẻ thực sự dám thì mới có thể bay!". Trong đó, bài học sâu sắc và xúc động hơn cả là biết tôn trọng sự khác biệt và học cách yêu thương những gì "không giống chúng ta". Bởi vì: "Thật dễ dàng để chấp nhận và yêu thương một kẻ nào đó giống mình, nhưng để yêu thương ai đó khác mình thực sự rất khó khăn".
Tình yêu lớn lao và đáng tự hào ấy được thể hiện ngay trong hình ảnh: "con mèo dịu dàng liếm đầu con hải âu và con chim duỗi một cánh vắt ngang lưng con mèo". V
Tình yêu lớn lao và đáng tự hào ấy được thể hiện ngay trong hình ảnh: "con mèo dịu dàng liếm đầu con hải âu và con chim duỗi một cánh vắt ngang lưng con mèo". Vị trí đặc biệt của Gióc-ba đã được khẳng định ngay trong nhan đề tác phẩm Chuyện con mèo dạy hải âu bay. Chú mèo mun to đùng, mập ú đã mang lại cho thiên truyện vẻ đẹp hồn nhiên, tươi tắn, trí tuệ. Gióc-ba tử tế, hào hiệp, cao thượng của bến cảng Hăm-bơ (Hamburg) hoàn toàn xứng đáng với lời ca ngợi của "cô con gái" hải âu: "Má là con mèo tuyệt vời nhất thế giới"!
(Nhóm biên soạn)
Thực hành viết theo các bước 1 TRƯỚC KHI VIẾT
Mục đích viết
a. Lựa chọn nhân vật trong một tác phẩm văn học Thuyết phục người đọc đồng tình Lựa chọn nhân vật em yêu thích trong một tác với ý kiến của em về một nhân vật phẩm văn học đã học hoặc đã đọc. Em có thể liệt văn học. kê danh sách nhân vật yêu thích và lựa chọn nhân vật em ấn tượng nhất. Người đọc
b. Tìm ý Thầy cô, bạn bè và những người quan tâm đến tác phẩm, nhân vật Để tìm ý cho bài viết, em cần tìm hiểu và lựa văn học.
chọn các chi tiết liên quan đến nhân vật và đưa ra những suy luận về đặc điểm nhân vật đó.
Khi tìm hiểu và lựa chọn các chi tiết liên quan đến nhân vật, em cần chú ý: + Lời người kể chuyện nhận xét trực tiếp về nhân vật. Ví dụ: Nhân vật thầy Đuy-sen được người kể chuyện giới thiệu là một người có tấm lòng nhân từ và ý nghĩ tốt lành.
Chắc chắn tất cả đám học sinh chúng tôi đứa nào cũng yêu mến thầy vì tấm lòng nhân từ, vì những ý nghĩ tốt lành, vì những ước mơ của thầy về tương lai chúng tôi. (Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp, Người thầy đầu tiên) + Đặc điểm nhân vật được nhà văn thể hiện gián tiếp qua: Các chi tiết miêu tả ngoại hình nhân vật (thân hình, gương mặt, ánh mắt, làn da, mái tóc, trang phục,…). Các chi tiết này cũng có thể hé lộ tính cách của nhân vật.
Ví dụ: Nhân vật Dế Mèn tỏ ra rất tự tin và tự hào về ngoại hình của mình. Chẳng bao lâu, tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng. […] Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ, soi gương được và rất ưa nhìn. (Tô Hoài, Dế Mèn phiêu lưu kí )
Các chi tiết miêu tả hành động: những cử chỉ, việc làm thể hiện cách ứng xử của nhân vật với bản thân và thế giới xung quanh. Ví dụ: Nhân vật người bố rất tinh
Các chi tiết miêu tả hành động: những cử chỉ, việc làm thể hiện cách ứng xử của nhân vật với bản thân và thế giới xung quanh. Ví dụ: Nhân vật người bố rất tinh tế, biết trân trọng những món quà người khác dành tặng cho mình, thể hiện qua hành động ăn những trái ổi mà Tí mang cho. Thằng Tí hay đem cho bố tôi những trái ổi. Nó trèo cây giỏi lắm, nhà nó có một vườn ổi. Những trái ổi to được nó lựa để dành cho bố đều có bịch ni lông bọc lại đàng hoàng. Những trái ổi như thế bao giờ cũng vừa to vừa mềm, cắn vào rất đã. Bố tôi ít khi nào ăn ổi, nhưng vì nó, bố ăn. (Nguyễn Ngọc Thuần, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ) Ngôn ngữ của nhân vật: lời nói của nhân vật (đối thoại, độc thoại). Ví dụ: Lời nói của thầy Đuy-sen cho thấy thầy là người quan tâm đến các em nhỏ và muốn các em được tới trường. Chúng tôi ngồi cạnh những bao ki-giắc thẹn thò nhìn nhau, Đuy-sen hiểu rằng chúng tôi im lặng vì bẽn lẽn nên nháy mắt động viên: - Những cái bao kia to hơn cả người các em đấy. Các em ghé vào đây xem là hay lắm, các em chả sẽ học tập ở đây là gì? Còn trường của các em thì có thể nói là đã xong đến nơi rồi. Thầy vừa đắp lò sưởi ở góc nhà và bắc cả ống khói trên mái, các em thử nhìn xem! (Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp, Người thầy đầu tiên) Thế giới nội tâm: những cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật. Ví dụ: Những cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật "tôi" về khu vườn giúp người đọc hình dung đây là một cậu bé có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm, yêu thiên nhiên. Tôi hiểu, khu vườn là món quà bất tận của tôi. Mỗi bông hoa là một món quà nhỏ, một vườn hoa là món quà lớn. (Nguyễn Ngọc Thuần, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ) Mối quan hệ với các nhân vật khác: thái độ, lời nói, hành động của nhân vật với các nhân vật khác trong tác phẩm. Ví dụ: Lời nói của nhân vật "tôi" với bố đã giúp người đọc cảm nhận được tình yêu thương của em dành cho bố. Tôi nhắm mắt và chạm tay rồi gọi tên từng món quà. Tôi chạm phải bố. Tôi la lên: - A! Món quà của tui đây rồi. Ôi cái món quà này bự quá! (Nguyễn Ngọc Thuần, Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ) - Để xác định được đặc điểm nhân vật, hãy kết nối thông tin về nhân vật trong tác phẩm với hiểu biết và trải nghiệm của em bằng cách đặt ra những câu hỏi: + Nhà văn đã miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ của nhân vật như thế nào? Trong cuộc sống, những người có đặc điểm như vậy thường có tính cách như thế nào?
Nhà văn miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật như thế nào? Những người có cảm xúc, suy nghĩ như vậy thường có đặc điểm gì? + Nhà văn đã viết gì về mối quan hệ c
Nhà văn miêu tả thế giới nội tâm của nhân vật như thế nào? Những người có cảm xúc, suy nghĩ như vậy thường có đặc điểm gì? + Nhà văn đã viết gì về mối quan hệ của nhân vật với các nhân vật khác trong tác phẩm? Trong cuộc sống, những người có các mối quan hệ như vậy thường có tính cách như thế nào? Em hãy thực hành tìm ý cho bài văn phân tích đặc điểm của một nhân vật (tự chọn) trong văn bản Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ hoặc Người thầy đầu tiên bằng việc hoàn thành bảng dưới đây (làm vào vở):
Hồ sơ nhân vật: ...
Cách miêu tả nhân vật Chi tiết trong tác phẩm Suy luận của em về nhân vật
Ngoại hình Hành động Ngôn ngữ Nội tâm Mối quan hệ với các nhân vật khác Lời người kể chuyện nhận xét trực tiếp về nhân vật
c. Lập dàn ý
Hãy sắp xếp các thông tin và ý tưởng của phần tìm ý thành một dàn ý. Khi lập dàn ý, em cần tập trung vào một số đặc điểm nổi bật của nhân vật.
Dàn ý
Mở bài: Giới thiệu tác phẩm văn học và nhân vật; nêu khái quát ấn tượng về nhân vật. - Thân bài: Phân tích đặc điểm của nhân vật (chỉ ra đặc điểm của nhân vật dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm) và nhận xét, đánh giá nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn. + Ý 1 + Ý 2 + Ý 3 + … - Kết bài: Nêu ấn tượng và đánh giá về nhân vật.
2. VIẾT BÀI Khi viết bài, em cần lưu ý: – Để những nhận xét về nhân vật thuyết phục và có giá trị, cần dựa trên những sự việc, chi tiết liên quan đến nhân vật t
2. VIẾT BÀI
Khi viết bài, em cần lưu ý:
– Để những nhận xét về nhân vật thuyết phục và có giá trị, cần dựa trên những sự việc, chi tiết liên quan đến nhân vật trong tác phẩm.
– Cần nhìn nhận, phân tích nhân vật từ nhiều góc độ, trong một chỉnh thể trọn vẹn để có những nhận xét, đánh giá toàn diện, thuyết phục.
– Phân tích nhân vật một cách cụ thể, chi tiết. Không nên nhận xét, đánh giá về nhân vật một cách chung chung. Cần đưa ra các bằng chứng trong tác phẩm để làm căn cứ cho những nhận xét, suy luận về đặc điểm nhân vật.
3. CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Rà soát, chỉnh sửa bài viết của em theo những gợi ý trong bảng sau:
Yêu cầu, Gợi ý chỉnh sửa
Giới thiệu được nhân vật trong tác phẩm văn học., Nếu chưa giới thiệu được nhân vật, hãy viết một vài câu giới thiệu nhân vật em sẽ phân tích.
Chỉ ra được đặc điểm của nhân vật dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm., Gạch dưới những nhận xét, đánh giá của em về nhân vật. Nếu chưa đầy đủ, cần bổ sung. Vẽ đường lượn dưới các bằng chứng được trích dẫn từ tác phẩm. Nếu chưa có hoặc chưa thuyết phục thì cần bổ sung.
Nhận xét, đánh giá được nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn., Đánh dấu những câu văn nhận xét, đánh giá về nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nếu chưa có hoặc chưa đủ thì cần viết thêm.
Nêu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật., Đánh dấu câu văn nêu ý nghĩa của hình tượng nhân vật. Nếu chưa có, hãy viết một vài câu nêu ý nghĩa của hình tượng nhân vật.
Bảo đảm yêu cầu về chính tả và diễn đạt., Rà soát lỗi chính tả và diễn đạt (dùng từ, đặt câu, liên kết câu, liên kết đoạn,...). Chỉnh sửa nếu phát hiện lỗi.
Nói và nghe Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ một nhân vật văn học) Nhân vật trong tác phẩm văn học rất phong phú, đa dạng (con người, loà
Nói và nghe
Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ một nhân vật văn học)
Nhân vật trong tác phẩm văn học rất phong phú, đa dạng (con người, loài vật, đồ vật, cây cối,...), nhưng đều được nhà văn sáng tạo nên để gửi gắm tình cảm và suy ngẫm về cuộc sống, qua đó tác động đến tình cảm và nhận thức của người đọc. Với em, vấn đề đời sống nào gợi ra từ một nhân vật văn học trong tác phẩm đã đọc được coi là gần gũi và thú vị nhất? Hãy trao đổi cùng các bạn ý kiến của em về vấn đề này.
1 TRƯỚC KHI NÓI
a. Chuẩn bị nội dung nói
– Lựa chọn một vấn đề đời sống có ý nghĩa được gợi ra từ một nhân vật văn học trong tác phẩm mà em đã đọc.
Tham khảo một số đề tài sau:
Các vấn đề được gợi ra từ nhân vật mèo Gióc-ba (Chuyện con mèo dạy hải âu bay): sự trân trọng lời hứa, sức mạnh kì diệu của tình yêu thương, niềm tin vào cuộc sống, vẻ đẹp của lòng can đảm, tôn trọng sự khác biệt,...
Các vấn đề được gợi ra từ nhân vật Mèn, Mon (Bầy chim chia sẻ); An, Cò (Đi lấy mật); nhân vật “tôi”, người cha (Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ): tình yêu thiên nhiên, trân trọng sự sống, tình yêu thương loài vật,...
Ngoài những đề tài gợi ý trên, em cũng có thể tự tìm thêm một vấn đề đời sống khác được gợi ra từ một nhân vật văn học mà em yêu thích. Những vấn đề này có thể được thể hiện qua những chi tiết cụ thể như một câu nói, một hành vi ứng xử, một suy nghĩ của nhân vật trong truyện.
– Thu thập tư liệu cho nội dung trình bày:
Tìm ý tưởng cho bài trình bày từ chính những chi tiết trong văn bản truyện được chọn.
Tìm thêm thông tin liên quan đến vấn đề đời sống em muốn trình bày từ sách báo hoặc các phương tiện nghe nhìn để có được cái nhìn toàn diện hơn về đề tài muốn trao đổi.
– Lập dàn ý cho bài nói. Ghi ngắn gọn ra giấy một số ý quan trọng không thể bỏ qua khi trình bày như: vấn đề đời sống được gợi ra từ một nhân vật văn học, ý kiến của em về vấn đề đó, bài học rút ra từ vấn đề bàn luận.
Mục đích nói
Thuyết phục người nghe về ý kiến của em trước một vấn đề đời sống (được gợi ra từ một nhân vật văn học).
Người nghe
Thầy cô, bạn bè và những người quan tâm đến vấn đề em trình bày.
Ví dụ: Sự trân trọng lời hứa được gợi ra từ nhân vật mèo Gióc-ba (Chuyện con mèo dạy hải âu bay). Em có thể tìm ý cho nội dung trao đổi bằng cách đặt và trả lời
Ví dụ: Sự trân trọng lời hứa được gợi ra từ nhân vật mèo Gióc-ba (Chuyện con mèo dạy hải âu bay). Em có thể tìm ý cho nội dung trao đổi bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi như:
Nhân vật mèo Gióc-ba đã gợi ra vấn đề về sự trân trọng lời hứa như thế nào? (Câu chuyện mở ra với tình huống vô cùng xúc động: Chú mèo Gióc-ba tình cờ chứng kiến cái chết của chim hải âu mẹ đáng thương. Gióc-ba đã hứa với hải âu mẹ rằng sẽ không ăn quả trứng, chăm lo cho quả trứng đến khi chim non ra đời và dạy hải âu con bay. Bằng tình thương yêu lớn lao và lòng vị tha, Gióc-ba đã nỗ lực thực hiện được tất cả những lời hứa với hải âu mẹ.)
Trân trọng lời hứa là gì? Tại sao cần phải trân trọng lời hứa? (Việc giữ lời hứa thể hiện trách nhiệm, uy tín, lòng tự trọng của mỗi người; sự tôn trọng đối với người khác. Người giữ lời hứa sẽ được mọi người tin tưởng… Em có thể lấy bằng chứng từ chính trải nghiệm của mình hoặc từ sách báo về ý nghĩa của việc trân trọng lời hứa trong cuộc sống.)
Bài học em rút ra từ câu chuyện trân trọng lời hứa của mèo Gióc-ba là gì? - Dự kiến các nội dung người nghe có thể trao đổi để chuẩn bị phản hồi.
b. Tập luyện
Để có bài nói tốt, em cần tập luyện trước khi trình bày trước lớp. + Tập nói một mình để nắm chắc nội dung trình bày. Nếu có thể, hãy tập luyện với người nghe cụ thể để tự tin hơn khi nói trước nhiều người. Mặt khác, người nghe sẽ trao đổi, góp ý cho em để em rút kinh nghiệm và hoàn thiện bài nói.
Quản lí thời gian khi nói để bảo đảm thời gian khi trình bày chính thức. - Cần nắm rõ các tiêu chí đánh giá bài nói. Hiểu được việc trình bày của mình được người nghe đánh giá như thế nào sẽ giúp em tập luyện tốt hơn. Bài nói của em có thể được đánh giá trên một số yêu cầu như:
Giới thiệu được vấn đề đời sống được gợi ra từ một nhân vật văn học. + Thể hiện ý kiến của người nói về vấn đề. + Đưa ra được các lí lẽ và bằng chứng thuyết phục. + Nói rõ và truyền cảm. + Sử dụng phù hợp các yếu tố phi ngôn ngữ (điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mắt,...). + Mở đầu và kết thúc bài nói hợp lí. Có thể tạo sự chú ý với người nghe bằng cách mở đầu theo cách riêng của em như kể một câu chuyện ngắn, dẫn một câu nói nổi tiếng, nêu một kết quả khảo sát hay nghiên cứu,…
2 TRÌNH BÀY BÀI NÓI
Với tư cách người nói, em cần lưu ý: - Lần lượt trình bày các ý theo nội dung đã chuẩn bị.
Củng cố, mở rộng Hãy kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và ghi lại một chi tiết mà em cho là tiêu biểu, đáng nhớ nhất về từng nhân vật trong các văn bản Vừa nhắm mắt v
Củng cố, mở rộng
Hãy kẻ bảng vào vở theo mẫu sau và ghi lại một chi tiết mà em cho là tiêu biểu, đáng nhớ nhất về từng nhân vật trong các văn bản Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Người thầy đầu tiên. Giải thích ngắn gọn lí do lựa chọn.
Văn bản, Nhân vật, Chi tiết tiêu biểu, Lí do lựa chọn
Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Nhân vật “tôi”
Nhân vật người bố
Người thầy đầu tiên, Nhân vật thầy Duy-sen
Nhân vật An-tư-nai
Thực hành đọc Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau: Đề tài và ngôi kể. Những cảm xúc, suy nghĩ về mẹ của nhân vật Hồng khi phải xa cách và kh
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
Đề tài và ngôi kể.
Những cảm xúc, suy nghĩ về mẹ của nhân vật Hồng khi phải xa cách và khi được gặp mẹ.
Nhân vật người cô qua suy nghĩ của nhân vật Hồng.
Bài học cuộc sống được gợi ra từ câu chuyện.
Trong lòng mẹ
Trích Những ngày thơ ấu⁽¹⁾, NGUYỄN HỒNG
[...] Gần đến ngày giỗ đầu thầy⁽²⁾ tôi, mẹ tôi ở Thanh Hoá vẫn chưa về. Trong đó nghe đâu mẹ tôi đi bán bóng đèn và những phiên chợ chính còn bán cả vàng hương nữa. Tôi nói “nghe đâu” vì tôi thấy người ta nhắn tin rằng mẹ và em tôi xoay ra sống bằng cách đó.
⁽¹⁾ Những ngày thơ ấu là tác phẩm mang tính tự truyện của Nguyễn Hồng. Tác phẩm gồm 9 chương, kể về thời thơ ấu bất hạnh của nhân vật Hồng: cha mất sớm, mẹ đi xứ khác kiếm sống, bé Hồng phải sống nhờ những người họ hàng không có tình yêu thương. Mặc dù luôn phải nghe những lời gièm pha đầy ác ý của họ hàng; phải chịu đựng cuộc sống cô đơn, tủi nhục, Hồng vẫn luôn mong nhớ, yêu thương người mẹ của mình. Đoạn trích Trong lòng mẹ là chương 4 của tác phẩm.
⁽²⁾ Thầy: từ dùng để gọi bố ở một số địa phương thời xưa.
Một hôm, cô tôi gọi tôi đến bên, cười hỏi: - Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mợ mày không? Tưởng đến vẻ mặt rầu rầu và sự hiền từ của mẹ tôi, và nghĩ đ
Một hôm, cô tôi gọi tôi đến bên, cười hỏi: - Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hoá chơi với mợ mày không? Tưởng đến vẻ mặt rầu rầu và sự hiền từ của mẹ tôi, và nghĩ đến cảnh thiếu thốn một tình thương yêu ủ ấp từng phen làm tôi rớt nước mắt, tôi toan trả lời có. Nhưng, nhận ra những ý nghĩa cay độc trong giọng nói và trên nét mặt khi cười rất kịch của cô tôi kia, tôi cúi đầu không đáp. Vì tôi biết rõ, nhắc đến mẹ tôi, cô tôi chỉ có ý gieo rắc vào đầu óc tôi những hoài nghi để tôi khinh miệt và ruồng rẫy mẹ tôi, một người đàn bà đã bị cái tội là goá chồng, nợ nần cùng túng quá, phải bỏ con cái đi tha hương cầu thực(1). Nhưng đời nào tình thương yêu và lòng kính mến mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến… Mặc dầu non một năm ròng mẹ tôi không gửi cho tôi lấy một lá thư, nhắn người thăm tôi lấy một lời và gửi cho tôi lấy một đồng quà.
Tôi cũng đã cười đáp lại cô tôi: - Không! Cháu không muốn vào. Cuối năm thế nào mợ cháu cũng về. Cô tôi hỏi luôn, giọng vẫn ngọt: - Sao lại không vào? Mợ mày phát tài lắm, có như dạo trước đâu? Rồi hai con mắt long lanh của cô tôi chằm chặp đưa nhìn tôi. Tôi lại im lặng, cúi đầu xuống đất; lòng tôi càng thắt lại, khoé mắt tôi đã cay cay. Cô tôi liền vỗ vai tôi cười mà nói rằng:
Mày dại quá, cứ vào đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào mà bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và thăm em bé chứ.
Nước mắt tôi đã ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hoà đầm đìa ở cằm và ở cổ. Hai tiếng "em bé" mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, thật rõ, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ý cô tôi muốn. Nhưng không phải vì thấy mẹ tôi chưa đoạn tang thầy tôi mà đã chửa đẻ với người khác mà tôi có những cảm giác đau đớn ấy. Chỉ vì tôi thương mẹ tôi và căm tức sao mẹ tôi lại vì sợ hãi những thành kiến tàn ác mà xa lìa anh em tôi, để sinh nở một cách giấu giếm [...]
Tôi cười dài trong tiếng khóc, hỏi cô tôi: - Sao cô biết mợ con có con? Cô tôi vẫn cứ tươi cười kể các chuyện cho tôi nghe. Có một bà họ nội xa vào trong ấy cân gạo về bán. Bà ta một hôm đi qua chợ thấy mẹ tôi ngồi cho con bú ở một bên rổ bóng đèn. Mẹ tôi ăn vận rách rưới, mặt mày xanh bủng, người gầy rạc đi, thấy thế bà ta thương tình toan gọi hỏi xem sao thì mẹ tôi vội quay đi, lấy nón che…
(1) Tha hương cầu thực: một biến thể của tha phương cầu thực, chỉ việc đi làm ăn, kiếm sống ở nơi xa lạ.
Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục(1) đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi
Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục(1) đã đày đoạ mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thuỷ tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn, mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi.
Cô tôi bỗng đổi giọng, lại vỗ vai tôi, nhìn vào mặt tôi, nghiêm nghị: - Vậy mày hỏi cô Thông - tên người đàn bà họ nội xa kia - chỗ ở của mợ mày, rồi đánh giấy cho mợ mày, bảo dù sao cũng phải về. Trước sau cũng một lần xấu, chả nhẽ bán xới(2) mãi được sao?
Tỏ sự ngậm ngùi thương xót thầy tôi, cô tôi chập chừng nói tiếp: - Mấy lại rằm tháng Tám này là giỗ đầu cậu mày, mợ mày về dù sao cũng đỡ tủi cho cậu mày, và mày cũng còn phải có họ, có hàng, người ta hỏi đến chứ? Nhưng đến ngày giỗ thầy tôi, tôi không viết thư gọi mẹ tôi cũng về. Mẹ tôi về một mình đem rất nhiều quà bánh cho tôi và em Quế tôi. Chiều hôm đó, tan buổi học ở trường ra, tôi chợt thoáng thấy một bóng người ngồi trên xe kéo giống giống mẹ tôi. Tôi liền đuổi theo, gọi bối rối:
Mợ ơi! Mợ ơi! Mợ ơi!… Nếu người quay lại ấy là người khác thì thật là một trò cười tức bụng cho lũ bạn tôi chúng nó khua guốc inh ỏi và nô đùa ầm ĩ trên hè. Và cái lầm đó không những làm tôi thẹn mà còn tủi cực nữa, khác gì cái ảo ảnh của một dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc. Xe chạy chậm chậm… Mẹ tôi cầm nón vẫy tôi, vài giây sau, tôi đuổi kịp. Tôi thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi, và, khi trèo lên xe, tôi ríu cả chân lại. Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi hỏi, thì tôi oà lên khóc rồi cứ thế nức nở. Mẹ tôi cũng sụt sùi theo:
Con nín đi! Mợ đã về với các con rồi mà.
Mẹ tôi lấy vạt áo nâu thấm nước
mắt cho tôi rồi xốc nách tôi lên xe. Đến bấy giờ tôi mới kịp nhận ra mẹ tôi không còm cõi xơ xác quá như cô tôi nhắc lại lời người họ nội của tôi nói. Gương mặt mẹ tôi vẫn tươi sáng với đôi mắt trong, và nước da mịn làm nổi bật màu hồng của hai gò má. Hay tại sự sung sướng bỗng được trông nhìn
(1) Cổ tục: tục lệ cũ. (2) Bán xới: bỏ quê hương, xứ sở mà đi.
và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc? Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi th
và ôm ấp cái hình hài máu mủ của mình mà mẹ tôi lại tươi đẹp như thuở còn sung túc? Tôi ngồi trên đệm xe, đùi áp đùi mẹ tôi, đầu ngả vào cánh tay mẹ tôi, tôi thấy những cảm giác ấm áp đã bao lâu mất đi bỗng lại mon man khắp da thịt. Hơi quần áo mẹ tôi và những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn nhai trầu phả ra lúc đó thơm tho lạ thường.
Phải bé lại và lăn vào lòng một người mẹ, áp mặt vào bầu sữa nóng của người mẹ, để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng. Từ ngã tư đầu trường học về đến nhà, tôi không còn nhớ mẹ tôi đã hỏi tôi và tôi đã trả lời mẹ tôi những câu gì. Trong những phút rạo rực ấy, cái câu nói của cô tôi lại nhắc lại:
– Mày đại quá! Vào Thanh Hoá đi, tao chạy cho tiền tàu. Vào bắt mợ mày may vá sắm sửa cho và bế em bé chứ.
Nhưng bên tai ù ù của tôi, câu nói ấy bị chìm ngay đi, tôi không mảy may nghĩ ngợi gì nữa...
(Tuyển tập Nguyễn Hồng, tập hai, Phan Cự Đệ sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu, NXB Văn học, Hà Nội, 1997, tr. 214 – 217)
Trang 88
Trang 89
VĂN BẢN 1 TRƯỚC KHI ĐỌC Mùa xuân trong cảm nhận của em có gì đáng nhớ? Hãy đọc một vài đoạn thơ mà em yêu thích viết về mùa xuân. ĐỌC VĂN BẢN Mùa xuân nho nhỏ T
VĂN BẢN 1
TRƯỚC KHI ĐỌC
Mùa xuân trong cảm nhận của em có gì đáng nhớ?
Hãy đọc một vài đoạn thơ mà em yêu thích viết về mùa xuân.
ĐỌC VĂN BẢN
Mùa xuân nho nhỏ
THANH HẢI
Mọc giữa dòng sông xanh
Một bông hoa tím biếc
Ơi, con chim chiền chiên⁽¹⁾
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
Hình dung
Những màu sắc, âm thanh được gợi lên trong khổ thơ.
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy bên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
Tất cả như hối hả
Tất cả như xôn xao...
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
Hình dung
Vẻ đẹp mùa xuân qua hình ảnh "lộc".
⁽¹⁾ Chiền chiên: còn có tên là sơn ca, một loài chim nhỏ hơn chim sẻ, thường ở ruộng, bãi quang đãng, khi hót thường bay vút lên cao.
Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến., Liên tưởng Hình ảnh con chim, cành hoa, nốt trầm, mùa xuân nho nhỏ. Một mùa
Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến., Liên tưởng Hình ảnh con chim, cành hoa, nốt trầm, mùa xuân nho nhỏ.
Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. Mùa xuân - ta xin hát Câu Nam ai, Nam bình(1) Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền(2) đất Huế. (Nguyễn Đức Nam (Chủ biên), Thơ NXB Giáo dục,, Việt Nam 1945 - 1985, 1987, tr. 317 - 318)
SAU KHI ĐỌC
Thanh Hải (1930 - 1980) quê ở thành phố Huế. thời kì đất nước còn bị chia cắt, ông đã viết nhiều bài thơ hiện tình yêu quê hương, khát vọng thống nhất đất nước. tác của Thanh Hải được tập hợp trong các tập thơ: đồng chí trung kiên (1962), Huế mùa xuân (tập 1 - tập 2 - 1975), Dấu võng Trường Sơn (1977), Mưa đất này (1982), Thơ Thanh Hải (1982),… Thơ ông được mến rộng rãi một phần quan trọng nhờ giọng điệu mộc chân thành và hình thức giản dị, giàu tính dân tộc. Mùa xuân nho nhỏ có thể xem là bài thơ tiêu biểu của Thanh Hải, được viết vào tháng 11 năm 1980, khi thơ nằm trên giường bệnh, một tháng trước khi qua đời., Trong thể Sáng Những 1970, xuân yêu mạc, nhất nhà
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Trong khổ thơ đầu, nhà thơ miêu tả mùa xuân qua những hình ảnh nào? Những
hình ảnh đó gợi cho em cảm nhận gì về mùa xuân?
2. Cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân được thể hiện như thế nào qua
những dòng thơ: Ơi, con chim chiền chiện/Hót chi mà vang trời/ Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay tôi hứng?
(1) Nam ai, Nam bình: hai điệu ca Huế nổi tiếng. Điệu Nam ai giai điệu buồn thương, ai oán còn điệu Nam bình thì du dương, man mác buồn. (2) Phách tiền: phách là nhạc khí dân tộc, thường làm bằng đoạn tre cứng, dùng để gõ nhịp cho lời ca, đàn tranh, đàn tam thập lục,... Phách tiền là phách có đính thêm cọc tiền đồng.
Thực hành tiếng Việt NGỮ CẢNH VÀ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ TRONG NGỮ CẢNH 1 Giải thích nghĩa của các từ in đậm trong những dòng thơ sau: a. Mùa xuân người cầm súng Lộc g
Thực hành tiếng Việt
NGỮ CẢNH VÀ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ TRONG NGỮ CẢNH
1 Giải thích nghĩa của các từ in đậm trong những dòng thơ sau:
a. Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy bên lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ.
b. Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
c. Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa.
Nhận biết nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh
Đọc hai dòng thơ sau, chú ý nghĩa của từ thơm:
Thị thơm thì giấu người thơm
Chăm làm thì được áo cơm cửa nhà.
(Lâm Thị Mỹ Dạ, Chuyện cổ nước mình)
Khi đọc (nghe) chỉ một từ thơm thôi thì ta không thể biết được người viết (nói) muốn dùng nghĩa nào của từ này. Thế nhưng, từng nghĩa một của từ thơm sẽ được xác định nếu ta đặt nó trong ngữ cảnh, xem xét trong sự kết hợp với các từ bên cạnh. Từ thơm trong thị thơm có nghĩa là có mùi hương dễ chịu còn từ thơm trong người thơm lại mang nghĩa là phẩm chất tốt đẹp, thơm thảo, được mọi người yêu mến, ca ngợi.
Gò Me (trích, Hoàng Tố Nguyên) 2. Từ giọt trong đoạn thơ sau có nhiều cách hiểu khác nhau. Người thì cho là giọt sương, người hiểu là giọt mưa xuân và có người
Gò Me (trích, Hoàng Tố Nguyên)
2. Từ giọt trong đoạn thơ sau có nhiều cách hiểu khác nhau. Người thì cho là giọt sương, người hiểu là giọt mưa xuân và có người lại giải thích là “giọt âm thanh” tiếng chim. Theo em, trong ngữ cảnh này, có thể chọn cách hiểu nào? Vì sao?
Ôi, con chim chiền chiện
Hót chi mà vang trời
Từng giọt long lanh rơi
Tôi đưa tay tôi hứng.
BIỆN PHÁP TU TỪ
3. Theo em, trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, biện pháp tu từ nào có vị trí nổi bật nhất? Hãy cho biết tác dụng của việc sử dụng biện pháp tu từ đó.
VĂN BẢN 2
TRƯỚC KHI ĐỌC
Em biết những bài thơ nào viết về miền đất Nam Bộ? Hãy đọc cho cả lớp nghe một đoạn thơ mà em yêu thích.
Chia sẻ những điều em biết về vẻ đẹp của miền đất này.
ĐỌC VĂN BẢN
Gò Me (1)
Trích, HOÀNG TỐ NGUYÊN(2)
Quê tôi đó: mặt trông ra bể
Đóm hải đăng tắt, loé đêm đêm
Con đê cát đỏ cỏ viền
Leng keng nhạc ngựa ngược lên chợ Gò.
Ruộng vây quanh, bốn mùa gió mát
Lúa nàng keo(3) chói rực mặt trời
Ao làng trăng tắm, mây bơi
Nước trong như nước mắt người tôi yêu
Hình dung
Ánh sáng, âm thanh và không gian miền quê Gò Me.
(1) Gò Me: một địa danh thuộc tỉnh Đồng Tháp.
(2) Hoàng Tố Nguyên (1929 – 1975) quê ở Gò Công, Tiền Giang (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp). Thơ Hoàng Tố Nguyên đậm chất Nam Bộ, thể hiện tình yêu và lòng nhớ thương quê hương da diết của một người con Nam Bộ đang sống trên đất Bắc. Một số tập thơ tiêu biểu của ông: Từ nhớ đến thương (1950), Đất nước (1956), Gò Me (1957), Quê chung (1962), Gửi chiến trường chống Mỹ (1966),...
(3) Lúa nàng keo: một giống lúa cổ truyền thơm ngon đặc biệt, được người dân miền Tây Nam Bộ trồng và gìn giữ từ hàng trăm năm.
Quê tôi sớm sớm chiều chiều Lao xao vườn mía Mái lá khoan thai thở làn khói nhẹ Những chị, những em má núng đồng tiền(1) Nọc cấy(2), tay tròn, nghiêng nón làm d
Quê tôi sớm sớm chiều chiều Lao xao vườn mía Mái lá khoan thai thở làn khói nhẹ Những chị, những em má núng đồng tiền(1) Nọc cấy(2), tay tròn, nghiêng nón làm duyên
Hình dung
Những chi tiết miêu tả các cô gái Gò Me.
Véo von điệu hát cổ truyền (Tre thôi khúc khích, mây chìm lắng nghe): "- Hò... ơ... Trai Biên Hoà luỵ(3) gái Gò Me Không vì sắc lịch(4), mà chỉ vì mê giọng hò…" Ôi, thuở ấu thơ Cắt cỏ, chăn bò Gối đầu lên áo Nằm dưới hàng me, nghe tre thổi sáo Lòng nghe theo bướm, theo chim Hình dung
Me non cong vắt lưỡi liềm
Những chi tiết miêu tả
Lá xanh như dải lụa mềm lửng lơ. thiên nhiên Gò Me. […] Tôi nằm trên võng mẹ đưa Có chim cu gáy giữa trưa hanh nồng Tiếng ai vút đầu bông lúa chín Gió dìu vương xao xuyến bờ tre:
(1) Núng đồng tiền (như lúm đồng tiền): chỗ hơi lõm thường hiện ra ở má, tạo nên nét duyên dáng, đáng yêu trên khuôn mặt. (2) Nọc cấy: dụng cụ lao động được làm bằng gỗ, có đầu nhọn, dùng để chọc lỗ xuống đất và gieo mầm lúa vào lỗ. (3) Luỵ: kiên nhẫn chiều theo ý người khác để đạt được mục đích mình mong muốn. (4) Sắc lịch: nhan sắc và sự thanh lịch (nghĩa trong văn bản).
Thực hành tiếng Việt NGHĨA CỦA TỪ NGỮ Giải thích nghĩa của từ thở được dùng trong dòng thơ Mái lá khoan thai thở làn khói nhẹ. Chỉ ra sự khác biệt về nghĩa của
Thực hành tiếng Việt
NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
Giải thích nghĩa của từ thở được dùng trong dòng thơ Mái lá khoan thai thở làn khói nhẹ. Chỉ ra sự khác biệt về nghĩa của từ thở trong ngữ cảnh này với từ thở trong câu: Em bé thở đều đều khi ngủ say.
Tìm các từ láy trong bài thơ. Chọn một từ để giải thích nghĩa và nêu tác dụng của việc dùng từ láy đó.
DẤU CÂU
Cho biết công dụng của dấu ngoặc đơn và dấu ngoặc kép trong bài thơ Gò Me.
(1) Trã: nồi đất miệng rộng và nông, thường dùng để kho, nấu thức ăn.
VĂN BẢN 3 ĐỌC VĂN BẢN Đường núi Nguyễn Đình Thi Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm Ngày ngất sương mây Lối mòn không dấu chân Gió nổi Đâu đây tiếng suối rì rào Ô
VĂN BẢN 3
ĐỌC VĂN BẢN
Đường núi
Nguyễn Đình Thi
Chiều nhạt nhạt về nơi nào xa lắm
Ngày ngất sương mây
Lối mòn không dấu chân
Gió nổi
Đâu đây tiếng suối rì rào
Ôi những vạt ruộng vàng
Chiều nay rung rinh lúa ngả
Dải áo chàm bay múa
Tiếng ai hát trên nương
Bờ tre đang reo ánh lửa
Mái nhà sàn tỏa khói xanh
Hơu gào xa văng vẳng
Một mảnh trăng dốc ngã chập chờn
Bước chân bóng động nghiêng bờ núi.
1948
Bài thơ Đường núi của Nguyễn Đình Thi
VŨ QUẦN PHƯƠNG(1)
Bài thơ như bức tranh chấm phá vài nét chiều rừng tiết kiệm cả nét lẫn màu ấy lại thấy nổi rõ lên lòng yêu đất đai thôn bản say đắm của người viết. Có chữ nào nói sự say đắm của lòng người đâu. Không nói nhưng ta nghe được trong nhịp điệu của câu thơ, trong cái nhìn ngất ngây với sương mây, rì rào với tiếng suối. Và đây hãy lắng nghe cả hình ảnh lẫn âm điệu câu thơ. Trong hình ảnh có tiếng reo vui lặng thầm:
Ôi những vạt ruộng vàng
Chiều nay rung rinh lúa ngả
Dải áo chàm bay múa
Tiếng ai hát trên nương
(1) Vũ Quần Phương sinh năm 1940, quê ở Nam Định (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Ông là nhà thơ, nhà phê bình văn học. Các tác phẩm chính: Hoa trong cây (1977), Vầng trăng trong xe bò (1988), Vết thời gian (1996), Bình thơ (2012),...
Ruộng lúa rung rinh chiều, dải áo chàm bay múa, và tiếng hát vang xa… Tác giả không reo thành lời, nhưng cảnh sắc reo trong mắt anh. Âm điệu câu thơ là âm điệu
Ruộng lúa rung rinh chiều, dải áo chàm bay múa, và tiếng hát vang xa… Tác giả không reo thành lời, nhưng cảnh sắc reo trong mắt anh. Âm điệu câu thơ là âm điệu của nội tâm, vần bị bỏ rơi. Chỗ nào tâm tình lắng lại thì âm điệu câu thơ lắng lại, chơi vơi, thanh nhẹ. Câu thơ 5 chữ hay 6 chữ không phải do vần điệu thể loại quy định mà do tâm tình tác giả. Thử lưu ý hai câu 6 xen giữa các câu thơ 5 chữ:
Bờ tre đang reo ánh lửa Mái nhà sàn toả khói xanh Đấy là hình ảnh làm ấm
lòng tác giả nhất. Độ dài câu thơ có tác dụng như một sự ngưng đọng, sự lắng nghe từ trong kí ức người những ánh lửa bếp chiều, những tia khói xanh trên mái lá. Hai câu thơ kết dài tới 7 âm tiết như một sự ngân nga của tâm trí.
Cảnh trong bài thơ này chỉ được vẽ trong vài nét có tính cách gợi hơn là tả. Có khi hai ba cảnh trên các bình diện Đường lên biên giới, khác nhau hiện trong một câu tranh bột màu của Quang Dũng thơ. Tốc độ chuyển cảnh rất nhanh. Người đọc không thấy mạch liền của cảnh nhưng lại có mạch liền của cảm xúc. Nội dung của bài thơ nằm cả ở bên ngoài các dòng chữ. Nếu tóm tắt bài thơ chỉ thấy một buổi chiều vùng núi, có lối mòn, có bản nhỏ, khói bếp, gió nổi trăng lên, áo chàm, tiếng hát, cánh đồng,… cái làm chúng ta xúc động lại là cái từ trường cảm xúc thu hút, sắp xếp các hình ảnh đó với nhau. Ấy là tình cảm yêu say đắm đồng đất núi rừng làng mạc nước non mình. Ấy là ánh nhìn rọi vào đâu cũng thấy rung rinh, xao xuyến, bay múa, ca hát. Cái tài của Nguyễn Đình Thi ở bài thơ này là tạo được một luồng không khí thân yêu trong trẻo run rẩy phủ lấy phong cảnh. Phong cảnh bỗng mang vị tâm hồn của tác giả. Đường vắng mà lòng vui. Đi một mình mà lòng như ca hát.
(Nhiều tác giả, Thơ hay có lời bình 100 bài, Vân Long tuyển chọn, NXB Thanh niên, Hà Nội, 2001, tr. 79 - 81)
Viết Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc Có nhiều con người, sự việc xung quanh để lại cho ta những tình cảm, ấn tượng sâu sắc. Tình cảm đó cứ lớn d
Viết
Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc
Có nhiều con người, sự việc xung quanh để lại cho ta những tình cảm, ấn tượng sâu sắc. Tình cảm đó cứ lớn dần trong ta, làm cho ta sống sâu sắc hơn. Trong bài học này, em sẽ được luyện tập phát triển kĩ năng viết bài văn biểu cảm bày tỏ tình cảm, suy nghĩ của mình về những con người hoặc sự việc như vậy.
Yêu cầu đối với bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc:
Giới thiệu được đối tượng biểu cảm (con người hoặc sự việc) và nêu được ấn tượng ban đầu về đối tượng đó.
Nêu được những đặc điểm nổi bật khiến người, sự việc đó để lại tình cảm, ấn tượng sâu đậm trong em.
Thể hiện được tình cảm, suy nghĩ đối với người hoặc sự việc được nói đến.
Sử dụng ngôn ngữ sinh động, giàu cảm xúc.
Phân tích bài viết tham khảo Người phụ nữ hết lòng làm thiện nguyện Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Tương thân tương ái, lá
Phân tích bài viết tham khảo Người phụ nữ hết lòng làm thiện nguyện
Bầu ơi thương lấy bí cùng Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn. Tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách là một Giới thiệu đối tượng. truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay. Em đã được biết nhiều tấm gương về lòng nhân hậu, về những con người đã thể hiện được lối sống tình nghĩa đậm đà. Trong số đó, em không thể quên bà Nguyễn Thị Nhung ở Hà Nội - người phụ nữ hết lòng làm thiện nguyện. Lần đầu tiên được đọc bài viết về bà in Bày tỏ tình cảm, ấn tượng trên mục Người Việt tử tế của báo Lao động, em đã thực sự ban đầu về đối tượng. xúc động trước nhân cách cao đẹp ấy. Bà Nhung hiện đang sống tại một căn nhà nhỏ trên phố Văn Miếu và hằng ngày, người phụ nữ 57 tuổi ấy vẫn tần Nêu các đặc điểm nổi
bật của đối tượng và tình
tảo với việc bán hàng ở chợ. Mặc dù điều kiện sống cũng cảm, ấn tượng sâu đậm không dư dả gì nhưng bà vẫn luôn cố hết sức mình để chia của người viết về những sẻ, đem lại niềm vui cho những mảnh đời cơ cực bởi bà đặc điểm đó. luôn tâm niệm: "Với tôi, cuộc sống phải biết sẻ chia, cho đi thì mới thật sự ý nghĩa và đáng để sống". Suốt 30 năm qua, bà Nhung đã mở rộng vòng tay cưu mang, nuôi dưỡng và dạy dỗ những đứa trẻ có hoàn cảnh khó khăn. Trong số 13 người con được bà nhận nuôi, có hai người bị tự kỉ. Thế nhưng, bằng tấm lòng yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc hết mực của mình, bà đã dần dần giúp cả hai đứa con có một cuộc sống như bao người bình thường. Họ vẫn ngày ngày theo bà buôn bán làm ăn. Với những người con đó, bà là một người mẹ tuyệt vời, người mẹ không có công sinh nhưng có công dưỡng, người đã mang lại hạnh phúc, niềm vui cho cuộc đời họ. Ngoài việc nhận nuôi những đứa trẻ bất hạnh, bà Nhung còn nhiệt tình tham gia các hoạt động thiện nguyện khác để giúp ích cho đời. Tuy tuổi đã cao nhưng bà không quản ngại khó khăn, lặn lội đến những vùng sâu, vùng xa trao quà cho người dân miền núi. Bà đã tham gia nhóm thiện nguyện "Mùa thu và những người bạn" để giúp đỡ những bệnh nhân nghèo, bất hạnh ở các bệnh viện Hà Nội. Hằng tháng, bà quyên góp gạo để nhóm nấu cháo phát cho bệnh nhân. Vào mỗi dịp cuối tuần, bà thường dậy từ 3 giờ sáng để chuẩn bị những suất cháo đem tới bệnh viện. Nhìn nụ cười rạng rỡ trên Sử dụng ngôn ngữ khuôn mặt phúc hậu của bà khi tận tay trao những suất sinh động, giàu cảm xúc. cháo cho bệnh nhân, có lẽ không ai không cảm thấy ấm áp và xúc động.
Bài 10. Tên bài Em rất cảm phục và kính trọng bà – người phụ nữ tuy không thân quen nhưng với em lại rất đỗi gần gũi, ấm áp. Với những việc làm có ý nghĩa đối v
Bài 10. Tên bài
Em rất cảm phục và kính trọng bà – người phụ nữ tuy không thân quen nhưng với em lại rất đỗi gần gũi, ấm áp. Với những việc làm có ý nghĩa đối với cộng đồng, bà Nguyễn Thị Nhung đã góp phần làm cho xã hội ngày càng trở nên tốt đẹp, nhân văn hơn. Và bà đã vinh dự được nhận danh hiệu Người tốt, việc tốt do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội trao tặng. Nhưng có lẽ phần thưởng lớn nhất đối với bà chính là tình cảm yêu mến, quý trọng của mọi người. Nhiều người gọi bà là “bà tiên giữa đời thường”.
(Bài làm của học sinh)
Khẳng định lại tình cảm, suy nghĩ của người viết đối với đối tượng.
Thực hành viết theo các bước
1 TRƯỚC KHI VIẾT
a. Lựa chọn đề tài
Lựa chọn đối tượng biểu cảm là con người hoặc sự việc để lại cho em những tình cảm, ấn tượng sâu sắc.
Người đó có thể là người thân trong gia đình, bạn bè, hàng xóm, người làm việc ở trường hoặc người mà em biết qua sách báo.
Sự việc đó có thể xảy ra với bản thân em hoặc em là người chứng kiến hay được biết qua sách báo.
Mục đích viết
Bày tỏ tình cảm, suy nghĩ của em đối với đối tượng được nói tới và khơi gợi sự đồng cảm, chia sẻ của người đọc.
Người đọc
Thầy cô, bạn bè và những người quan tâm tới tình cảm, suy nghĩ mà em bày tỏ trong bài văn.
b. Tìm ý
Sau khi lựa chọn được người hoặc sự việc để bày tỏ tình cảm, suy nghĩ, hãy tìm ý cho bài viết bằng cách trả lời các câu hỏi sau:
– Người đó là ai? Sự việc đó là gì?
– Người hoặc sự việc đó có những đặc điểm nào nổi bật?
– Em có ấn tượng, suy nghĩ gì đối với người hoặc sự việc đó?
– Chi tiết nào gắn với người hoặc sự việc đó khiến em không thể quên?
c. Lập dàn ý
Hãy sắp xếp các ý mà em tìm được thành một dàn ý. Dưới đây là một gợi ý:
Dàn ý
– Mở bài: + Giới thiệu người hoặc sự việc mà em muốn bày tỏ tình cảm, suy nghĩ. + Bày tỏ tình cảm, ấn tượng ban đầu của em về người hoặc sự việc đó.
Trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng – Thân bài: Trình bày tình cảm, suy nghĩ về những đặc điểm nổi bật của người hoặc sự việc. Nêu ấn
Trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng
– Thân bài:
Trình bày tình cảm, suy nghĩ về những đặc điểm nổi bật của người hoặc sự việc.
Nêu ấn tượng về người hoặc sự việc đó.
– Kết bài: Khẳng định lại tình cảm, suy nghĩ của em đối với người hoặc sự việc được nói tới.
2. VIẾT BÀI
Chú ý bám sát dàn ý. Trong quá trình viết, em cần lưu ý:
– Nêu được những đặc điểm nổi bật khiến người hoặc sự việc để lại ấn tượng, cảm xúc sâu đậm cho mình.
– Ngôn ngữ bài viết cần sinh động, giàu cảm xúc; vận dụng các biện pháp tu từ như so sánh, điệp ngữ,... để tăng sự hấp dẫn cho bài viết.
3. CHỈNH SỬA BÀI VIẾT
Sau khi hoàn thành, hãy rà soát bài văn theo những yêu cầu ở cột trái và gợi ý chỉnh sửa ở cột phải.
Yêu cầu, Gợi ý chỉnh sửa
Giới thiệu được người hoặc sự việc mà em muốn bộc lộ tình cảm, suy nghĩ., Nếu chưa có, hãy bổ sung thông tin cho lời giới thiệu để người đọc có được hình dung ban đầu về người hoặc sự việc.
Nêu được đặc điểm nổi bật của người hoặc sự việc để lại ấn tượng, cảm xúc sâu đậm cho em., Nếu chưa có hoặc chưa đủ, hãy bổ sung nội dung để người đọc hiểu rõ những đặc điểm nổi bật của người hoặc sự việc đã để lại ấn tượng sâu đậm trong em.
Thể hiện được tình cảm, suy nghĩ của em đối với người hoặc sự việc đó. Chú ý sử dụng ngôn ngữ sinh động, giàu cảm xúc., Đánh dấu những từ ngữ, câu văn thể hiện tình cảm, suy nghĩ về người hoặc sự việc được nói tới. Nếu chưa có hoặc chưa đủ, cần bổ sung.
Bảo đảm yêu cầu về chính tả và diễn đạt., Rà soát lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu,... và chỉnh sửa nếu phát hiện lỗi.
Nói và nghe
Trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng
Trong phần Viết ở trên, em đã có dịp chia sẻ tình cảm, suy nghĩ về một con người hoặc sự việc. Chắc hẳn, con người hoặc sự việc mà em lựa chọn để viết đã có tác động đến cuộc sống của nhiều người, để lại cho em những ấn tượng sâu sắc. Trong phần này,
em sẽ thực hành trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng. Đây cũng là vấn đề được xã hội quan tâm và có những quan niệm khác nhau. Với tư c
em sẽ thực hành trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng. Đây cũng là vấn đề được xã hội quan tâm và có những quan niệm khác nhau. Với tư cách người nói, em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về vấn đề được bàn sao cho lan toả được tới người nghe. Với tư cách người nghe, em hãy chú ý lắng nghe, tôn trọng người nói, ghi nhận những suy nghĩ của người nói.
1. TRƯỚC KHI NÓI
a. Chuẩn bị nội dung nói
– Viết ra giấy các ý chính của bài nói thành dạng dàn ý. Có thể tham khảo một số gợi ý sau:
Giới thiệu khái quát suy nghĩ của em về bản chất và vai trò của những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng.
Chỉ ra được những hoạt động thiện nguyện tiêu biểu: đóng góp tiền của, tham gia hoạt động cứu trợ,... Đối tượng được giúp đỡ có thể là người gặp nạn vì thiên tai hay dịch bệnh, người già không nơi nương tựa, người khuyết tật, trẻ mồ côi,...
Nhấn mạnh một số ý nghĩa quan trọng của hoạt động thiện nguyện: giúp cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn có cuộc sống tốt đẹp hơn; lan toả nghĩa cử cao đẹp tới cộng đồng, góp phần làm cho xã hội ngày càng trở nên nhân văn; thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta;...
– Đánh dấu những chỗ cần nhấn mạnh, những từ ngữ then chốt, những câu quan trọng mà khi trình bày không thể bỏ qua, như:
Câu giới thiệu khái quát suy nghĩ của em về ý nghĩa quan trọng của hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng.
Những từ ngữ thể hiện suy nghĩ của em trước những hành động, việc làm cụ thể của các cá nhân, tổ chức, cộng đồng,...
Những câu nhấn mạnh ý nghĩa nhân văn của các hoạt động thiện nguyện.
– Chuẩn bị tranh ảnh, đoạn phim ngắn, bài hát,... liên quan đến các hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng (nếu có).
b. Tập luyện
Để nói tốt, em cần tập luyện trước khi trình bày trên lớp. Em có thể tập luyện trước bạn bè, người thân, lắng nghe góp ý của họ để rút kinh nghiệm nhằm hoàn thiện bài nói. Em cũng có thể đứng trước gương và tập nói một mình.
Mục đích nói
Chia sẻ với người nghe ý kiến của em về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng nhằm tác động đến suy nghĩ, cảm xúc và hành động của người nghe.
Người nghe
Thầy cô, bạn bè, người thân và những người quan tâm đến vấn đề em nói.
2. TRÌNH BÀY BÀI NÓI
Khi trình bày, em cần lưu ý:
– Đi vào trọng tâm vấn đề là trình bày, chia sẻ với người nghe suy nghĩ của em về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng. Các ý trong bài nói cần được trình bày mạch lạc, sáng rõ.
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG Kẻ bảng vào vở theo mẫu và điền thông tin ngắn gọn về các văn bản theo gợi dẫn: Mùa xuân nho nhỏ, Gò Me Tình cảm, cảm xúc của tác giả Biện pháp
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
Kẻ bảng vào vở theo mẫu và điền thông tin ngắn gọn về các văn bản theo gợi dẫn:
Mùa xuân nho nhỏ, Gò Me
Tình cảm, cảm xúc của tác giả
Biện pháp tu từ nổi bật
Hình ảnh đặc sắc
Tìm đọc thêm một số bài thơ viết về đất nước Việt Nam. Nhận xét về nét độc đáo của một bài thơ mà em yêu thích (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ,...).
Thực hành đọc Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau: Ngôn ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ. Vẻ đẹp riêng của vùng
Thực hành đọc
Khi đọc văn bản dưới đây, em cần chú ý những vấn đề sau:
Ngôn ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ.
Vẻ đẹp riêng của vùng đất biên cương trong cảm nhận của nhà thơ.
Tình cảm với quê hương, đất nước mà bài thơ gợi lên trong em.
Chiều biên giới
LÒ NGÂN SỦN⁽¹⁾
Chiều biên giới em ơi
Có nơi nào xanh hơn
Như tiếng chim hót gọi
Như chồi non cỏ biếc
Như rừng cây của lá
Như tình yêu đôi ta.
Chiều biên giới em ơi
Có nơi nào cao hơn
Như đầu sông đầu suối
Như đầu mây đầu gió
Như quê ta ngọn núi
Như đất trời biên cương.
Chiều biên giới em ơi
Có nơi nào đẹp hơn
Khi mùa hoa đào nở
Khi mùa sở ra cây
Lúa lượn bậc thang mây
Mùi toả ngát hương bay.
Chiều biên giới em ơi
Rừng chăng dây điện sáng
Ta nghe tiếng máy gọi
Như nghe tiếng cuộc đời
Lòng ta thắm mê say
Trên nông trường lộng gió
Rộng như trời mênh mông.
Chiều biên giới em ơi
Đôi ta cùng chiến hào
Gần nhau thêm bền chí
Tình yêu là vũ khí
Giữ đất trời quê hương.
Chiều biên giới em ơi
Nghe con sông chảy xiết
Nghe con suối thác đổ
Hồn ta như ngọn gió
Thổi giữa trời quê hương.
Hoàng Liên Sơn, 1980
(Tuyển tập thơ Lò Ngân Sủn, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2013, tr. 55 – 56)
⁽¹⁾ Lò Ngân Sủn (1945 – 2013) quê ở Lào Cai. Thơ Lò Ngân Sủn trong sáng, mộc mạc, giản dị, thể hiện một tâm hồn tinh tế, tha thiết yêu thương. Ông để lại nhiều tập thơ, trong đó có một số tập tiêu biểu như: Chiều biên giới (1989), Những người con của núi (1990), Đám cưới (1992), Dòng sông mây (1995), Lếu nương (1996), Bữa tình yêu (2005),...
Trang 105
Trang 106
VĂN BẢN 1 TRƯỚC KHI ĐỌC Em biết những bài hát hay bức tranh, bức ảnh nào về mùa xuân? Hãy chia sẻ cùng các bạn. Em thích nhất điều gì ở mùa xuân? ĐỌC VĂN BẢN Th
VĂN BẢN 1
TRƯỚC KHI ĐỌC
Em biết những bài hát hay bức tranh, bức ảnh nào về mùa xuân? Hãy chia sẻ cùng các bạn.
Em thích nhất điều gì ở mùa xuân?
ĐỌC VĂN BẢN
Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt
Trích, VŨ BẰNG
Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng Giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non(1) đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cầm được trai thương gái, ai cầm được mẹ yêu con, ai cầm được cô gái còn son(2) nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.
Kết nối
Có phải “ai cũng chuộng mùa xuân” không?
Ơi ơi người em gái xoã tóc bên cửa sổ! Em yêu mùa xuân có phải vì nghe thấy rạo rực nhựa sống trong cành mai, gốc đào, chồi mận ở ngoài vườn? Chàng trai kia yêu mùa xuân, phải chăng là tại lúc đôi mùa giao tiễn nhau, chàng tưởng như nghe thấy đồi núi chuyển mình, sông hồ rung động trong cuộc đổi thay thường xuyên của cuộc đời? Mà người thiếu phụ nọ ở chân trời góc biển yêu mùa xuân có phải là vì đấy là mùa xanh lên hi vọng được trở về nơi bến đợi sông chờ để ngâm lại khúc bạc đầu với người ra đi chưa biết ngày nào trở lại?
Hình dung
Những loài cây sắp trổ lá đơm hoa vào mùa xuân.
Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần(3) và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải là vì thế.
Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu(4), gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình(5) của cô gái đẹp như thơ mộng…
Hình dung
Không gian đặc trưng của mùa xuân ở miền Bắc.
(1) Non: núi (thường xuất hiện trong các từ ghép: núi non, non sông, non nước,...).
(2) Còn son: còn trẻ, chưa có con cái.
(3) Đôi mày ai như trăng mới in ngần: đôi lông mày cong, đẹp như vầng trăng non đầu tháng, lấy ý từ câu thơ của Nguyễn Du trong Truyện Kiều: Mày ai trăng mới in ngần.
(4) Mưa riêu riêu: mưa phùn, hạt nhỏ, đều, kéo dài.
(5) Huê tình: tình yêu trai gái.
Người yêu cảnh, vào những lúc đất trời mang mang(1) như vậy, khoác một cái áo lông, […] mở cửa đi ra ngoài tự nhiên thấy một cái thú giang hồ(2) êm ái như nhung
Người yêu cảnh, vào những lúc đất trời mang mang(1) như vậy, khoác một cái áo lông, […] mở cửa đi ra ngoài tự nhiên thấy một cái thú giang hồ(2) êm ái như nhung và không cần uống rượu mạnh cũng nghe như lòng mình say sưa một cái gì đó - có lẽ là sự sống! […] Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi nó làm cho người ta muốn phát điên lên như thế đấy. Ngồi yên không Chợ hoa đào, chịu được. Nhựa sống ở trong người, tranh lụa của Lương Xuân Nhị
căng lên như máu cũng căng lên trong lộc(3) của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ tí ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương(4) đứng cạnh., Theo dõi Chú ý những cảm giác của tác giả trong mùa xuân.
Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như hơn trong những ngày đông tháng giá. Lúc ấy, đường sá cái rét ngọt ngào, chớ không còn tê buốt căm căm nữa. Y như những con vật nằm thu hình một nơi trốn rét ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng "sống" lại và thèm ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại Nhang trầm, đèn nến, và nhất là bầu không khí gia kính dưới nhường, trước những bàn thờ Phật, bàn thờ cho lòng anh ấm lạ ấm lùng, tuy miệng chẳng nói ra nhưng có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng(5), cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh không còn lầy lội nữa mà thấy nắng ấm trở về thì lại bò khát yêu thương thực sự. Ra cũng thấy yêu thương nữa. đình đoàn tụ êm đềm, trên Thánh, bàn thờ Tổ tiên làm trong lòng thì cảm như mở hội liên hoan.
Đẹp quá đi, mùa xuân ơi - mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng Giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhuỵ vẫn, Hình dung Bức tranh mùa xuân tuyệt đẹp thời điểm sau rằm tháng Giêng.
còn phong(6), cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu một mùi hương man mác., Giêng, nhưng trái lại lại nức
(1) Mang mang: mơ hồ, mờ ảo, không phân định các đối tượng một cách rõ ràng (nghĩa trong văn bản). (2) Giang hồ: sông hồ; đây chỉ sở thích du ngoạn nay đây mai đó một cách tự do, phóng túng. (3) Lộc: sừng non mới nhú của hươu, nai. (4) Uyên ương: loài chim sống ở vùng nước, con đực và con cái luôn cặp kè bên nhau; đây chỉ đôi lứa gắn bó. (5) Ra ràng: (chim non) vừa mới đủ lông đủ cánh, bắt đầu bay ra khỏi tổ; đây được dùng để chỉ con bướm mới ra khỏi kén. (6) Nhuỵ vẫn còn phong: nhuỵ hoa vẫn còn chụm lại, chưa tách nở ra.
Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm(1), mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dà
Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm(1), mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ở trên trời, mình cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột. Ấy là lúc thịt mỡ dưa hành đã hết, người ta bắt đầu trở về bữa cơm giản dị có cà om với thịt thăn điểm những lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn mát như quạt vào lòng. Cánh màn điều(2) treo ở trước bàn thờ ông vải(3) đã hạ xuống từ hôm "hoá vàng"(4) và các trò vui ngày Tết cũng tạm thời kết thúc để nhường chỗ cho cuộc sống êm đềm thường nhật. […] Đêm xanh biêng biếc, tuy có mưa dây, nhưng nhìn lên thấy rõ từng cánh sếu bay. Về khuya, trời vẫn Hình dung rét một cách tình tứ nên thơ: mặc dầu vẫn phải đắp chăn Khung cảnh đêm trăng bông, nhưng ban ngày không cần phải mặc áo ấm như hồi tháng Giêng. cuối Chạp. […] Cuối tháng Giêng có những đêm không mưa, trời sáng lung linh như ngọc, chỉ chừng mười giờ tối thì trăng mọc cao lên đỉnh đầu.
(Vũ Bằng, Thương nhớ Mười Hai, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1999, tr. 5 - 12)
SAU KHI ĐỌC
Vũ Bằng (1913 - 1984) sinh ra ở Hà Nội. Ông là nhà văn,
nhà báo, có sở trường về truyện ngắn, tuỳ bút, bút kí. Tuỳ bút Vũ Bằng giàu chất trữ tình và chất thơ, hướng vào biểu hiện thế giới nội tâm phong phú. Văn Vũ Bằng tràn đầy cảm xúc, biểu thị những cảm giác tinh tế. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Miếng ngon Hà Nội (1960), Món lạ miền Nam (1969), Thương nhớ Mười Hai (1972),… Thương nhớ Mười Hai được viết trong thời gian Vũ Bằng
sống ở miền Nam, xa cách quê hương miền Bắc. Niềm
thương nhớ quê hương, gia đình da diết được thể hiện qua sự hồi tưởng về cảnh sắc thiên nhiên, phố xá, cuộc sống hằng ngày mang vẻ đẹp và bản sắc văn hoá của Hà Nội. Thương nhớ Mười Hai có 13 bài tuỳ bút, gồm 12 bài viết về các tháng trong năm và một bài về Tết. Bài Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt là bài đầu tiên của tập tuỳ bút.
(1) Nồm: trạng thái thời tiết ấm và ẩm ướt ở miền Bắc vào quãng cuối đông đầu xuân. (2) Màn điều: tấm vải đỏ che trước bàn thờ. (3) Ông vải: tổ tiên. (4) Hoá vàng: đốt vàng mã. Theo tục lệ, ngày hoá vàng là ngày kết thúc việc cúng lễ dịp Tết. Những đồ vàng mã thờ dịp Tết được đem đốt.
Thực hành tiếng Việt DẤU CÂU 1 Đọc hai câu văn sau và thực hiện những yêu cầu bên dưới: a. Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xu
Thực hành tiếng Việt
DẤU CÂU
1 Đọc hai câu văn sau và thực hiện những yêu cầu bên dưới:
a. Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng...
b. Đẹp quá đi, mùa xuân ơi – mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến.
(1) Nêu công dụng của dấu gạch ngang trong các câu văn trên.
(2) Theo em, nếu không có các cụm từ được tách ra bởi dấu gạch ngang thì nội dung của những câu văn trên sẽ thay đổi như thế nào?
BIỆN PHÁP TU TỪ
2 Chỉ ra biện pháp tu từ so sánh trong các câu sau. Cho biết điểm tương đồng giữa các đối tượng được so sánh với nhau trong mỗi trường hợp và nêu ý nghĩa của sự tương đồng đó:
a. Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải là vì thế.
Chuyện cơm hến (Hoàng Phủ Ngọc Tường) b. Cuối tháng Giêng có những đêm không mưa, trời sáng lung linh như ngọc, chỉ chừng mười giờ tối thì trăng mọc cao lên đỉn
Chuyện cơm hến (Hoàng Phủ Ngọc Tường)
b. Cuối tháng Giêng có những đêm không mưa, trời sáng lung linh như ngọc, chỉ chừng mười giờ tối thì trăng mọc cao lên đỉnh đầu.
3 Hãy chỉ ra biện pháp tu từ được dùng trong các câu văn sau và nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó:
a. Chàng trai kia yêu mùa xuân, phải chăng là tại lúc đôi mùa giao tiễn nhau, chàng tưởng như nghe thấy đồi núi chuyển mình, sông hồ rung động trong cuộc đổi thay thường xuyên của cuộc đời?
b. Trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa.
4 Đọc câu văn sau và thực hiện các yêu cầu:
Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con, ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.
a. Chỉ ra biện pháp tu từ ở những cụm từ in đậm trong câu văn trên.
b. Biện pháp tu từ đó còn được thể hiện ở những từ ngữ nào khác trong câu?
c. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ đó.
5 Hãy nêu tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong câu văn sau và cho biết cách so sánh trong câu này có gì khác so với cách so sánh trong những câu văn ở bài tập 2:
Nhựa sống ở trong người căng lên như máu cũng căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ tí ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh.
VĂN BẢN 2
TRƯỚC KHI ĐỌC
Mỗi vùng miền trên thế giới đều có những nét riêng trong phong cách ẩm thực. Hãy chia sẻ hiểu biết của em về vấn đề này.
Nếu được yêu cầu giới thiệu về một món ăn đặc sản ở quê em, em sẽ chọn món nào?
ĐỌC VĂN BẢN
Chuyện cơm hến
HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG
Người Huế ăn giống như học bài học cuộc đời, phải nếm đủ vị mặn, Lạt⁽¹⁾, chua, cay, ngọt, bùi, không chê vị nào; lại còn tỏ ra thích thú với hai vị mà thiên hạ đều sợ, là cay và đắng. [...] Người Huế thích dùng mướp đắng lúc
Theo dõi
Chú ý nét riêng trong khẩu vị của người Huế.
⁽¹⁾ Lạt: nhạt.
còn xanh; nấu canh phải duống(1) nồi nước sôi xuống để thả mướp vào mới đảm bảo là đắng, lại còn bóp mướp sống làm món nộm, đắng một cách tuyệt vời! Có hôm tàu
còn xanh; nấu canh phải duống(1) nồi nước sôi xuống để thả mướp vào mới đảm bảo là đắng, lại còn bóp mướp sống làm món nộm, đắng một cách tuyệt vời! Có hôm tàu dừng ở ga Lăng Cô, thấy nấm tràm(2) bán rẻ như cho không tôi bèn hí hửng mua luôn một rổ làm quà cho chú bạn tôi ở Đà Nẵng, gọi là đặc sản xứ Huế. Cháo nấm tràm nấu ra ngon đến thế, nhưng chỉ có đám dân Huế sì sụp vừa húp vừa khen, còn bạn nhậu người Quảng đều né hết, vì đắng không chịu nổi. Hoá ra chỉ cách nhau cái đèo Hải Vân thôi mà cách ăn uống của người Huế lạ đời đến thế!
Cồn Hến, ảnh của Lê Huy Hoàng Hải
Nhưng lạ nhất là thói ăn cay, đến nỗi chính tôi cũng không hiểu sao mình lại ăn cay "tài" đến như vậy. Người Suy luận Huế có đủ cung bậc ngôn ngữ để diễn tả vị cay, bao gồm Tác giả là người vùng nào?
Chi tiết nào cho thấy điều đó?
hết mọi giác quan, càng nói càng "sướng miệng": cay phỏng miệng, cay xé lưỡi, cay điếc mũi, cay chảy nước mắt, cay toát mồ hôi, cay điếc tai, cay điếc óc,…[…] Có thể nói rằng người Huế bắt đầu thực đơn hằng ngày bằng một tô bún bò "cay dễ sợ", tiếp theo là một ngày cay "túi mắt túi mũi" để kết thúc với tiếng rao "Ai ăn chè?", một chén ngọt lịm trước khi ngủ. Tôi xin giới thiệu một ngày "Hạnh phúc trời hành" của dân Huế tui, bắt đầu bằng món cơm hến(3). Những món ăn Huế như bún bò, cháo lòng,… bây giờ trở thành phổ biến khắp nơi (dù đã mất đi bản chất cay của nó) chỉ món cơm hến này là không nơi nào có. Hà Nội, Sài Gòn cũng có vài ba quán Huế có cả cơm hến, tôi đã thử xem, đều toàn là nghêu(4) xắt(5) nhỏ, đâu phải là hến. Vậy thì cơm hến là gì? Trước hết, nói về cơm. Người Việt mình ăn cơm kiểu nào cũng phải nóng, duy chỉ cơm hến nhất thiết phải là cơm nguội. Hình như người Huế muốn bày tỏ
(1) Duống: đưa xuống (trong câu này có nghĩa là bắc nồi nước sôi xuống rồi mới thả mướp đắng vào). (2) Nấm tràm: loại nấm mọc từ cây tràm, có nhiều ở vùng Thừa Thiên Huế, có vị đắng. (3) Hến: động vật thân mềm, có hai mảnh vỏ, sống ở vùng nước lợ hoặc nước ngọt. (4) Nghêu: động vật thân mềm, có hai mảnh vỏ, thường sống ở vùng nước mặn ven biển. (5) Xắt: thái.
một quan niệm rằng trên đời chẳng có một vật gì đáng phải bỏ đi, nên bày ra món cá lẹp(1) kẹp rau mưng(2), và món cơm nguội với những con hến nhỏ lăn tăn làm số
một quan niệm rằng trên đời chẳng có một vật gì đáng phải bỏ đi, nên bày ra món cá lẹp(1) kẹp rau mưng(2), và món cơm nguội với những con hến nhỏ lăn tăn làm sốt ruột người chế biến món ăn, gọi là cơm hến. Sau này ở Huế người ta còn bày thêm món bún hến, dùng bún thay cơm nguội. Tôi rất ghét những lối cải tiến tạp nham như vậy. Bún đã có bún bò, ai có giang sơn ấy, việc gì phải cướp bản quyền sáng chế của người khác. Vả lại, người Huế (Huế xưa, không phải bây giờ) rất kiên định trong "lập trường ăn uống" của mình. Tôi nghĩ rằng trong vấn đề khẩu vị, tính bảo thủ là một yếu tố văn hoá hết sức quan Theo dõi trọng, để bảo toàn di sản. Với tôi, một món ăn đặc sản cũng Chú ý câu văn nêu ý kiến giống như một di tích văn hoá, cứ phải giống y như ngày riêng của tác giả về món ăn
đặc sản.
xưa, và mọi ý đồ cải tiến đều mang tính phá phách, chỉ tạo nên những "đồ giả"!
Xin tiếp tục chuyện cơm hến. Hến ở Huế ngon nhất là hến cồn, do đó cái cồn nổi chiếm vị trí "Tả Thanh Long(3)" rất mực quan trọng trong Dịch lí(4) của kiến trúc kinh thành, dân chỉ gọi nôm na là Cồn Hến. Đáy sông quanh cồn có một lớp bùn sâu, là môi sinh màu mỡ của loài hến. Điều lạ là con hến, dù không có tay chân, nhưng khi thời tiết thay đổi làm dòng nước chảy mạnh có thể lặn sâu xuống đáy bùn để khỏi bị nước cuốn đi. Dân cồn làm nghề xúc hến mỗi năm đều có lễ cúng hến vào tháng Bảy, trên những con đò cờ xí rộn ràng, tiếng trống vang lừng, người ta luộc hến xong đem ra sông đãi trong những chiếc rổ lớn, tách vỏ, lấy riêng mặt hến(5) đem đong chén bán cho những người làm cơm hến. Mặt hến này là vị chủ của cơm hến, xào kèm theo bún tàu (miến), măng khô và thịt heo thái chỉ. Món thứ ba trong Theo dõi cơm hến là rau sống. Chỉ một nhúm thôi, nhưng rau sống Chú ý các nguyên liệu làm
cơm hến.
này làm bằng thân chuối hoặc bắp chuối xắt mỏng như sợi tơ, trộn lẫn với môn bạc hà(6), khế và rau thơm thái nhỏ, giá chần (trụng(7) sơ qua nước sôi), có khi còn điểm thêm những cánh bông vạn thọ vàng, nhìn tươi mắt và có thêm mùi thơm riêng.
Nước luộc hến được rút ra từ chiếc nồi bung bốc khói nghi ngút, bằng chiếc gáo làm bằng sọ dừa xinh xắn, cho vào một cái tô đã gồm đủ cơm nguội, hến xào, rau sống và được gia thêm đủ vị đồ màu. Nước hến có giã thêm gừng màu trắng đùng đục. Vâng, mê nhất cái màu đùng đục ấy, ăn cơm hến mà chê nước đục là... dại!
(1) Cá lẹp: loài cá nhỏ, thân mỏng, xương mềm, thịt nhão vì nhiều mỡ, sống ở vùng nước mặn hoặc nước lợ ven biển.
(2) Rau mưng: lá non của cây lộc vừng, có vị hơi chát, đắng, thoảng chút chua, thường được người dân miền Trung hái ăn kèm với cá lẹp nướng. (3) Tả thanh long: rồng xanh ở bên trái. Theo quan niệm phong thuỷ xưa, thế đất nhấp nhô phía bên trái của nhà ở hay cung điện (từ phía trong nhìn ra) là thế tả thanh long, rất được chú ý trong việc chọn đất xây dựng. (4) Dịch lí: bộ môn nghiên cứu về nguyên tắc biến đổi của vạn vật, vũ trụ theo cái nhìn bao quát nhất. (5) Mặt hến: ruột hến hay toàn bộ phần thân bên trong lớp vỏ cứng của con hến. (6) Môn bạc hà: có nơi gọi là (cây) dọc mùng. (7) Trụng: nhúng.
Bộ đồ màu của cơm hến là nhiêu khê(1) nhất thiên hạ. Đây là bản liệt kê các món gia vị mà tôi từng quan sát được ở một gánh cơm hến, chắc có thể coi là "lí tưởn
Bộ đồ màu của cơm hến là nhiêu khê(1) nhất thiên hạ. Đây là bản liệt kê các món gia vị mà tôi từng quan sát được ở một gánh cơm hến, chắc có thể coi là "lí tưởng", như sau:
Ớt tương
Ớt màu, ớt dầm nước mắm
Ruốc(2) sống
Bánh tráng nướng bóp vụn
Muối rang
Hạt đậu phụng(3) rang mỡ, giã hơi thô thô
Mè(4) rang
Da heo rang giòn
Mỡ và tóp mỡ
Vị tinh(5). Tất cả được đựng trong những thẫu(6), những vịm(7) bày trên một cái trẹc(8), o(9) bán cơm hến lấy ra bằng những chiếc gáo mù u(10) nhỏ xíu, bàn tay thoăn thoắt mỗi thứ một ít… Hương vị bát ngát suốt đời người của tô cơm hến là mùi ruốc thơm dậy tận óc, và vị cay đến trào nước mắt. Người "máu" cơm hến vẫn chưa vừa lòng với vị cay sẵn có, còn đòi thêm một trái ớt tươi để cắn kêu cái rốp! Nước mắt đầm đìa, mồ hôi ròng ròng nhỏ giọt vào tô cơm thế mà cứ sì sụp, xuýt xoa kêu "ngon, ngon"; đi xa nhớ lại thèm đứt sợi tóc, ở nước ngoài về bay ra Huế để ăn cho được một tô cơm hến lấy làm hả hê, thế đấy, chao ôi là Huế! Tôi nhớ lần ấy, chiều mưa râm ri cỡ tháng Mười một, tôi ngồi ăn cơm hến ở nhà Bửu Ý ở đường Hàng Me. Tôi vừa đi Tây về, suốt hai tuần ở cung Đại hội các nhà văn, bữa ăn nào cũng toàn thịt, bơ, phó mát,… đến nỗi tôi thất kinh(11), nhiều ngày chỉ mang một mớ trái cây về phòng ăn trừ bữa. Nhiều tuần lễ không có một hột cơm
(1) Nhiêu khê: lôi thôi, phức tạp (trong văn bản này chỉ sự cầu kì, cần nhiều thứ nguyên liệu để làm ra bát cơm hến). (2) Ruốc: loài giáp xác, họ tôm, sống ở vùng nước lợ hoặc nước mặn (trong văn bản này, từ ruốc chỉ loại mắm làm từ con ruốc). (3) Đậu phụng: lạc, một loài cây thuộc họ đậu, hạt thường có màu hồng nhạt, giàu chất đạm, chất béo. (4) Mè: vừng, một loài cây có hạt nhỏ, màu đen hoặc nâu vàng, giàu chất đạm, chất béo. (5) Vị tinh: bột ngọt. (6) Thẫu: (thẩu, do cách phát âm mà thành thẫu) dụng cụ đựng đồ ăn có miệng to gần bằng hoặc bằng thân, làm bằng nhựa, sành sứ, thuỷ tinh,… (7) Vịm: (thường gọi là liễn) đồ bằng sành sứ có nắp đậy, dùng để đựng thức ăn. (8) Trẹc: cái mẹt, đồ đan kín bằng tre nứa, lòng nông, hình dáng và kích thước hơi giống cái mâm. (9) O: cô. (10) Gáo mù u: gáo làm bằng vỏ quả mù u, giống gáo dừa nhưng nhỏ hơn. (11) Thất kinh: sợ đến mức mất tinh thần.
trong bụng, nghe tiếng rao cơm hến tôi thấy xúc động tận chân răng. Đây là lần đầu tiên tôi ăn một tô cơm hến "bằng tất cả tâm hồn". Thấy chị bán hàng phải cho
trong bụng, nghe tiếng rao cơm hến tôi thấy xúc động tận chân răng. Đây là lần đầu tiên tôi ăn một tô cơm hến "bằng tất cả tâm hồn". Thấy chị bán hàng phải cho quá nhiều thứ trong một bát cơm nhỏ, công phu thế mà chỉ bán có năm trăm đồng bạc, tôi lấy làm ái ngại hỏi chị: - Lời lãi bao nhiêu mà chị phải kĩ đến thế. Chỉ cần ba bốn thứ, vừa vừa thôi, có đỡ mất công không?
Chị nhìn tôi với đôi mắt giận dỗi khác lạ: - Nói như cậu thì… còn chi là Huế! Chị gánh hàng đi, dáng gầy mỏng manh, chiếc áo dài đen cũ kĩ, chiếc nón cời(1) và tiếng rao lanh lảnh. Hồi nãy tôi đã đếm và biết gánh cơm trên vai chị có tất cả mười bốn vị. Bây giờ tôi mới Theo dõi phát hiện thêm vị thứ mười lăm, là lửa. Vâng, một bếp Chú ý vị thứ mười lăm của lửa chắt chiu, ấp ủ đi trong mưa suốt mùa đông, bền bỉ cơm hến. theo bước chân người…
(Hoàng Phủ Ngọc Tường, Huế - Di tích và con người, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2001, tr. 44 - 50)
SAU KHI ĐỌC
Hoàng Phủ Ngọc Tường (1937 - 2023) quê ở Quảng Trị, sống và làm việc nhiều năm ở Huế. Sáng tác của ông toát lên cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp đất nước và con người trên khắp mọi miền Tổ quốc, đặc biệt là Huế. Trong mảng tản văn, nhà văn thể hiện vốn văn hoá sâu rộng, cách tiếp cận đời sống độc đáo, tâm hồn nhạy cảm, ngòi bút tài hoa, cái tôi công dân giàu trách nhiệm với xã hội. Một số tác phẩm chính của Hoàng Phủ Ngọc Tường: Rất nhiều ánh lửa (1979), Ai đã đặt tên cho dòng sông? (1986), Huế - Di tích và con người (2001), Miền cỏ thơm (2007),…
TRẢ LỜI CÂU HỎI
1. Những chi tiết nào cho thấy cơm hến là món ăn bình dân?
2. Món cơm hến cho thấy đặc điểm gì trong phong cách ăn uống của người Huế?
3. Chuyện cơm hến có phải chỉ đơn giản là văn bản giới thiệu một món ăn không?
Tác giả bàn tới những điều gì xung quanh món cơm hến?
(1) Nón cời: nón cũ.
Thực hành tiếng Việt TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG 1 Trong câu văn sau, những từ ngữ nào có thể được xem là từ ngữ địa phương? Vì sao? Tất cả được đựng trong những thẩu, nh
Thực hành tiếng Việt
TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG
1 Trong câu văn sau, những từ ngữ nào có thể được xem là từ ngữ địa phương? Vì sao?
Tất cả được đựng trong những thẩu, những vựm bày trên một cái trẹc, o bán cơm hến lấy ra bằng những chiếc gáo mù u nhỏ xíu, bàn tay thoăn thoắt mỗi thứ một ít...
2 Liệt kê một số từ ngữ địa phương được dùng trong văn bản Chuyện cơm hến. Những từ ngữ đó có nghĩa tương đương với những từ ngữ nào được dùng ở địa phương em hoặc trong từ ngữ toàn dân?
3 Cho biết tác dụng của việc dùng từ ngữ địa phương của Huế trong Chuyện cơm hến.
4 Nêu một số từ ngữ địa phương chỉ sự vật (người, cây cối, con vật, đồ vật,...) ở các vùng miền mà em biết và tìm từ ngữ toàn dân tương ứng.
Nhận biết từ ngữ địa phương
Mỗi vùng miền có một số từ ngữ riêng biệt, thường gọi là từ ngữ địa phương. Những từ ngữ đó phát sinh từ những nét riêng về điều kiện tự nhiên, đặc điểm tâm lí và phong tục tập quán của cư dân địa phương. Từ ngữ địa phương thể hiện tính đa dạng trong ngôn ngữ của một cộng đồng.
Khác với từ ngữ toàn dân, từ ngữ địa phương thường chỉ được dùng ở một vùng, miền nhất định.
Ví dụ về từ ngữ địa phương:
Địa phương, Từ ngữ địa phương, Từ ngữ toàn dân (tương ứng)
Miền Bắc, u, mẹ
Miền Trung, mô, đâu
Miền Nam, tía, bố
Trong tác phẩm văn học, từ ngữ địa phương có thể được dùng nhằm tạo sắc thái địa phương cho câu chuyện, nhân vật,... Trong các văn bản khoa học, hành chính,... không được dùng từ ngữ địa phương (trừ khi có lí do đặc biệt). Trong giao tiếp thông thường, chỉ nên dùng từ ngữ địa phương khi trò chuyện thân mật với những người nói cùng phương ngữ với mình.
VĂN BẢN 3 ĐỌC VĂN BẢN Hội lồng tồng TRẦN QUỐC VƯỢNG – LÊ VĂN HẢO – DƯƠNG TẤT TỪ Vùng Việt Bắc(1) mở hội lồng tồng từ sau tết Nguyên đán đến tết Thanh minh. Lồng
VĂN BẢN 3
ĐỌC VĂN BẢN
Hội lồng tồng
TRẦN QUỐC VƯỢNG – LÊ VĂN HẢO – DƯƠNG TẤT TỪ
Vùng Việt Bắc(1) mở hội lồng tồng từ sau tết Nguyên đán đến tết Thanh minh. Lồng tồng tiếng Tày – Nùng có nghĩa là “xuống đồng”. Thần thành hoàng của đồng bào Tày – Nùng cũng tức là thần nông. Đình thành hoàng thờ những nhân vật ngày xưa đã có công khai phá ruộng nương, xây dựng và bảo vệ bản mường. Có nhiều truyền thuyết khác nhau về hội lồng tồng ở từng địa phương.
[...] Trong những ngày hội lồng tồng cầu mùa, vui xuân, dân làng mang cỗ đến cúng thần nông. Hội lồng tồng cũng là dịp trưng bày những sản phẩm nông nghiệp của dân làng như gà thiến béo, lợn quay, các thứ bánh trái,... Sản phẩm được trình bày sao cho thật đẹp mắt. Sau khi cúng tế, người ta ăn cỗ với thịt gà, thịt lợn, bánh chưng hay bánh lá ngải, xôi nhuộm lá cẩm, uống rượu nếp, rượu mác mật,... Trong những trò chơi dân gian làm cho hội lồng tồng rộn rịp có đánh vật, kéo co, thì bắn, đua thuyền, biểu diễn võ dân tộc,... nhưng hấp dẫn nhất là tung còn, múa sư tử và “lượn(2) lồng tồng”.
Ném còn, ảnh của Lê Thanh Cường
(1) Việt Bắc: vùng đồi núi phía bắc nước ta, gồm các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang ngày nay.
(2) Lượn: lối hát đối đáp giữa trai và gái của dân tộc Tày.
Trò chơi ném còn có dụng cụ chính là một chiếc còn. Đó là một túi vải màu hình vuông, mỗi cạnh khoảng 10 cm, trong đổ cát, đuôi dài hơn 1 m bằng vải ngũ sắc. Gi
Trò chơi ném còn có dụng cụ chính là một chiếc còn. Đó là một túi vải màu hình vuông, mỗi cạnh khoảng 10 cm, trong đổ cát, đuôi dài hơn 1 m bằng vải ngũ sắc. Giữa đồng người ta dựng một cây mai cao vút, đóng giá như kiểu cột cờ để có thể dựng lên hạ xuống được. Trên đỉnh chót người ta uốn ngọn cây mai thành một vòng tròn, dán giấy trắng, trong có điểm hồng tâm. Thanh niên gái trai chia làm hai bên thi nhau nhằm chiếc vòng giấy ấy mà tung còn. Người nào nhanh tay bắt được còn của đối phương tung đến mới được ném. Người ném trúng thủng vòng giấy thì được thưởng, nếu ném thủng hồng tâm thì được giải thưởng to hơn. Ném trúng rồi, người ta hạ cột vá lại vòng giấy và cuộc vui tiếp tục. Múa sư tử được đồng bào Tày - Nùng, nhất là thanh niên ưa thích vì nó phù hợp với tinh thần thượng võ vốn có của họ. Múa sư tử là dịp rèn luyện thân thể, giúp cho thanh niên có được một vài môn võ nghệ để tự vệ, chống giặc cướp, giặc ngoại xâm khi cần. Múa sư tử thực chất là một điệu múa võ. Các miếng võ được biểu diễn rõ nhất trong màn múa sư tử đùa nghịch vờn nhau với đười ươi và hai khỉ. Đười ươi và khỉ tìm đủ mọi cách để trêu chọc sư tử. Con thú dữ lúc phát khùng lên nhe răng ra định ngoạm đầu đười ươi và khỉ, nhưng lũ này dùng đủ miếng võ để né tránh một cách tài tình. Trong hội lồng tồng, theo tục lệ, con sư tử nào đến trước giữ vai trò đàn anh, có quyền chủ trì các buổi biểu diễn; con đến sau phải đeo vào cằm con đến trước một miếng vải đỏ gọi là "quả hồng" để thừa nhận quyền đàn anh. Trường hợp tranh chấp người ta tổ chức một cuộc đấu miếng giữa hai con sư tử. Con nào quật ngã đối phương sẽ được nhận vai trò đàn anh; trường hợp này mỗi bên đều chọn một tay quyền thuật giỏi, một thầy dạy võ, để múa sư tử đọ tài với đối phương(1). Nhân dịp hội lồng tồng, thanh niên gái trai tụ họp thành những đám hát lượn, hát đối đáp những bài "lượn lồng tồng" để cầu mùa màng, chúc mừng dân làng được mọi sự may mắn tốt lành, ca ngợi cái đẹp của thiên nhiên, của mùa xuân, của tình yêu, của cuộc sống lao động.
Mở đầu cho buổi hát lượn là những lời đón chào xuân:
Mở bài khai khẩu ước chào xuân Nghe tiếng nhà người đầy ái ân Nghe tiếng nhà người đầy xuân sắc Sĩ tử xin chào kết cố nhân! Để cầu mùa và chúc mừng nhau, gái trai hát:
(1) Tham khảo từ tài liệu của Lã Văn Lô, Hội múa sư tử của đồng bào Tày, Nùng, tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 6,
Năm mới tới mùa màng sung túc Không một người khổ cực gian nan Trai gái được an nhàn thanh thoả Chăm lo việc cấy lúa chăn tằm… Buổi hát lượn trong hội lồng tồng
Năm mới tới mùa màng sung túc Không một người khổ cực gian nan Trai gái được an nhàn thanh thoả Chăm lo việc cấy lúa chăn tằm… Buổi hát lượn trong hội lồng tồng thường có hai phần. Phần "lượn tuồng" gồm những bài hát cổ điển mà gái trai phải học thuộc lòng để hát kể cho nhau nghe về những cảnh đẹp của quê hương mường bản, những câu chuyện mượn trong cổ tích, truyền thuyết, những cảnh sinh hoạt sản xuất trong bốn mùa, mười hai tháng,… Những bài hát đó giúp họ khơi gợi và gửi gắm tình yêu. […] Sau phần "lượn tuồng" là phần "lượn sương". "Lượn sương" thường sáng tác tại chỗ theo cảm hứng để gái trai đặt vấn đề yêu đương và trực tiếp thổ lộ tình cảm với nhau:
Thương hoa sói nhớ hoa nhài Hoa sói người duyên lắm sắc tài Ước sao ngắt vài bông về cắm vườn cảnh nhà ta Để đi sớm về trưa ngắm bóng ai… Mùa xuân là mùa của tuổi trẻ, của tình yêu, của ca hát. Gái trai trẩy hội lồng tồng, hát lượn lồng tồng nhiệt tình ca ngợi mùa xuân, thiết tha yêu mến mùa xuân, luyến tiếc xuân, sợ mùa xuân và tuổi trẻ qua nhanh. […] Ở nhiều địa phương cuộc hát lượn lồng tồng giữa gái trai có thể kéo dài đến bốn năm đêm liền mà vốn thơ ca và tình cảm vẫn chưa cạn. Lượn, tiếng nói của tình yêu, tiếng lòng của ngày hội xuân, lành mạnh, trong sáng, đầy sức sống, vang vọng sôi nổi mà êm đềm dưới trời xuân Việt Bắc.
(Theo Trần Quốc Vượng - Lê Văn Hảo - Dương Tất Từ, Mùa xuân và phong tục Việt Nam, NXB Văn hoá, Hà Nội, 1976, tr. 167 - 173)
SAU KHI ĐỌC
TRẢ LỜI CÂU HỎI
Tóm tắt các ý chính của văn bản Hội lồng tồng bằng sơ đồ (chú ý thời gian tổ chức,
địa điểm tổ chức, vùng miền có lễ hội, phần cúng tế - lễ, phần vui chơi - hội).
Sản vật cúng tế trong hội lồng tồng có liên quan gì với tục mở hội xuống đồng và tục
thờ thành hoàng - thần nông?
3. Văn bản miêu tả những hoạt động nào của cư dân trong phần hội? Những hoạt động
đó biểu thị những phẩm chất và khả năng nào của con người?
4. Người dân gửi gắm mong ước gì khi tổ chức hội lồng tồng?
Viết văn bản tường trình Viết văn bản tường trình Tường trình là một loại văn bản thông tin được dùng rất phổ biến trong đời sống. Nhiều khi chúng ta phải viết,
Viết văn bản tường trình
Viết văn bản tường trình
Tường trình là một loại văn bản thông tin được dùng rất phổ biến trong đời sống. Nhiều khi chúng ta phải viết, đọc hay xử lí các văn bản tường trình về một vụ việc nào đó, nhằm giải quyết kịp thời, đúng đắn những vấn đề đáng tiếc nảy sinh. Do vậy, biết cách viết văn bản tường trình đúng thể thức là điều mà mọi người đều phải quan tâm.
Thể thức của văn bản tường trình:
Phía trên cùng văn bản ghi quốc hiệu và tiêu ngữ (chính giữa dòng).
Tiếp đó, ghi địa điểm và thời gian viết tường trình (góc bên phải).
Tên văn bản tường trình ghi chính giữa. Dòng trên ghi ba chữ BẢN TƯỜNG TRÌNH (chữ in hoa), dòng dưới ghi: Về việc...
Dưới tên văn bản, ghi tên người hoặc cơ quan nhận bản tường trình sau cụm từ Kính gửi.
Nêu thông tin về người viết tường trình (họ và tên; chức danh; chức vụ; đơn vị học tập, công tác;...), có thể bắt đầu bằng cụm từ Tôi tên là... hoặc Tôi là...
Ghi nội dung chính: thuật lại vụ việc với đầy đủ thông tin về thời gian, địa điểm, những người có liên quan, nguyên nhân, diễn biến, hậu quả, người chịu trách nhiệm.
Ghi lời cam đoan về sự khách quan, trung thực của nội dung tường trình cùng lời hứa hoặc đề nghị đối với người (cơ quan) xử lí vụ việc.
Sau cùng, người viết tường trình kí và ghi đầy đủ họ, tên.
Lưu ý: Nếu bản tường trình được viết tay, chú ý chừa lề hợp lí; không viết sát mép giấy bên trái, bên phải; không để phần trên trang giấy có khoảng trống quá rộng. Nếu bản tường trình được đánh máy, cần dùng khổ giấy A4; phông chữ tiếng Việt Times New Roman; cỡ chữ thường là 13 – 14; lề trang cách mép trên và mép dưới 20 – 25 mm, cách mép trái 30 – 35 mm, cách mép phải 15 – 20 mm,...
Phân tích bản tường trình tham khảo CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Hà Nội, ngày 22 tháng 9 năm 2020 BẢN TƯỜNG TRÌNH Về việc vi p
Phân tích bản tường trình tham khảo
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 22 tháng 9 năm 2020
BẢN TƯỜNG TRÌNH
Về việc vi phạm nội quy nơi tham quan
Kính gửi: Cô Lâm Thanh H., giáo viên chủ nhiệm lớp 7C
Em là Trương Khánh Ng., học sinh lớp 7C, Trường THCS Nguyễn Du, xin phép tường trình với cô một việc như sau:
Sáng 22 tháng 9 năm 2020, lớp 7C tổ chức đi tham quan Bảo tàng Dân tộc học. Em đã tham gia buổi tham quan cùng với lớp. Quy định của bảo tàng là không được sờ vào hiện vật. Nhưng do em muốn có một bức ảnh chụp bên bộ quần áo dân tộc Dao nên đã bước qua dây chắn vào khu vực cấm và sờ tay vào hiện vật, làm hỏng một chi tiết trên trang phục. Nhân viên bảo vệ đã phát hiện và lập biên bản. Điều này đã gây ảnh hưởng đến buổi tham quan của lớp.
Em xin cam đoan điều vừa tường trình là đúng sự thật. Em mong được các cô bác ở bảo tàng, nhà trường, cô giáo và các bạn tha lỗi. Em xin hứa không bao giờ tái phạm và sẽ luôn chấp hành nghiêm mọi nội quy, quy định nơi công cộng.
Người viết tường trình
(Kí tên)
Trương Khánh Ng.
Quốc hiệu và tiêu ngữ.
Địa điểm và thời gian viết bản tường trình.
Tên văn bản tường trình.
Người hoặc cơ quan nhận bản tường trình.
Tên người viết tường trình.
Nội dung tường trình (thời gian, địa điểm xảy ra vụ việc, nguyên nhân, hậu quả, người chịu trách nhiệm).
Cam đoan và cam kết.
Kí tên hoàn tất bản tường trình.
Thực hành viết theo các bước 1. TRƯỚC KHI VIẾT – Nếu định tường trình về một vụ việc có thật trong đời sống mà bản thân em có liên quan, cần hình dung lại mọi c
Thực hành viết theo các bước
1. TRƯỚC KHI VIẾT
– Nếu định tường trình về một vụ việc có thật trong đời sống mà bản thân em có liên quan, cần hình dung lại mọi chuyện đã xảy ra theo những gì em biết và còn nhớ rõ.
– Nếu vụ việc được tường trình chỉ mang tính chất giả định, trước hết em hãy chú ý đến tư cách tường trình của bản thân, thông qua việc tự đặt các câu hỏi: Em là người đại diện hay chỉ tường trình với tư cách cá nhân? Em khởi xướng, tham gia vụ việc hay chỉ là người làm chứng? Không thể viết tường trình khi chưa xác định rõ mối liên quan trực tiếp của em đối với vụ việc.
– Để xác định được những thông tin cụ thể cho bản tường trình, em có thể nghĩ đến những vụ việc như: mất xe đạp nơi gửi xe của trường; làm hư hại đồ dùng học tập của bạn khiến bạn không hoàn thành công việc được giao; khởi xướng một cuộc dã ngoại với sự tham gia của nhiều bạn trong lớp khi chưa xin phép gia đình, thầy, cô chủ nhiệm và nhà trường; chứng kiến một vụ bắt nạt trong trường học;...
Mục đích viết
Cung cấp thông tin một cách trung thực về vụ việc mà mình có liên quan.
Người đọc
Người yêu cầu làm bản tường trình, người có thẩm quyền xem xét, giải quyết và những người quan tâm đến vụ việc.
2. VIẾT BẢN TƯỜNG TRÌNH
– Viết phần mở đầu theo đúng thể thức. Chú ý chừa khoảng cách rộng hơn giữa dòng ghi địa điểm, ngày tháng làm bản tường trình với những thông tin ngay phía trên và tiếp dưới đó.
– Tên văn bản tường trình phải thể hiện được nội dung khái quát nhất của vụ việc. Khi viết dòng này, cũng chú ý chừa khoảng cách trên, dưới hợp lí như khi viết dòng ghi địa điểm, thời gian làm bản tường trình ở trên.
– Đề tên người hoặc cơ quan nhận bản tường trình.
– Xưng danh với đầy đủ họ tên.
– Trình bày vụ việc ngắn gọn nhưng rõ ràng, đảm bảo có đủ các thông tin về thời gian, địa điểm, người liên quan, nguyên nhân, diễn biến và hậu quả để lại. Đặc biệt, cần nói rõ tư cách, trách nhiệm của em trong vụ việc.
– Nêu cam kết về tính trung thực của nội dung tường trình. Mẫu câu thường dùng: Tôi xin cam đoan nội dung trình bày trên là trung thực; Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về điều mình đã viết;...
– Nêu lời hứa hoặc lời đề nghị.
– Kí và ghi đầy đủ họ tên ở phần dưới cùng, lệch góc phải trang giấy.
3. CHỈNH SỬA BẢN TƯỜNG TRÌNH Dựa vào phần Thể thức của văn bản tường trình để tự rà soát và chỉnh sửa: Nội dung rà soát, Hướng chỉnh sửa Tên văn bản đã phản ánh
3. CHỈNH SỬA BẢN TƯỜNG TRÌNH
Dựa vào phần Thể thức của văn bản tường trình để tự rà soát và chỉnh sửa:
Nội dung rà soát, Hướng chỉnh sửa
Tên văn bản đã phản ánh đúng nội dung chính được tường trình chưa?, Nếu chưa thì phải sửa lại cho phù hợp.
Sự việc tường trình đã đầy đủ, cụ thể chưa?, Nếu thấy chi tiết nào thừa thì lược bỏ, chi tiết nào thiếu thì bổ sung. Cần sắp xếp các chi tiết theo một trình tự hợp lí.
Tư cách, vai trò của bản thân trong vụ việc đã được xác định rõ ràng chưa?, Nếu chưa, cần sửa lại để làm rõ: bản thân là người gây hậu quả hay chịu hậu quả, là người phải chịu trách nhiệm hay chỉ là người làm chứng.
Có chỗ nào diễn đạt như văn nói không?, Loại bỏ những từ địa phương, những từ mang tính chất khẩu ngữ, những tiếng lóng (nếu có).
Hình thức bản tường trình đã được trình bày đúng quy cách chưa?, Chỉnh sửa theo thể thức của văn bản tường trình đã giới thiệu và bản tường trình tham khảo ở trên.
Trang 124
Trang 125
Củng cố, mở rộng Kẻ bảng vào vở theo mẫu và điền các thông tin về hai văn bản Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt và Chuyện cơm hến: Tháng Giêng, mơ về trăng
Củng cố, mở rộng
Kẻ bảng vào vở theo mẫu và điền các thông tin về hai văn bản Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt và Chuyện cơm hến:
Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt, Chuyện cơm hến
Thể loại
Những hình ảnh nổi bật
Đặc điểm lời văn
Cảm xúc, suy nghĩ của tác giả
Tìm đọc một số tuỳ bút và tản văn viết về các đề tài cảnh sắc, ẩm thực. Chọn trong số đó một tác phẩm mà em thích nhất và trả lời các câu hỏi sau:
a. Tác phẩm viết về vùng miền hay món ăn cụ thể nào?
b. Tác giả biểu lộ tình cảm, cảm xúc gì?
c. Những từ ngữ nào diễn tả tình cảm, cảm xúc của tác giả làm em xúc động?
d. Em thấy chi tiết nào thú vị nhất?
Tìm đọc một số văn bản viết về những nét văn hoá truyền thống ở các vùng miền trên đất nước Việt Nam hoặc nước ngoài.
Trang 127
Trang 128
Trang 129
Trang 130
Trang 131
Trang 132
Trang 133
Trang 134
Trang 135
Trang 136
Trang 137
Trang 138
Trang 139
Trang 140
cover-last