SGV - Ngữ văn 7 - Tập 1
0/0
minus
100%
plus
Ghi chú
setting
share
Nền
Đọc offline

Lưu sách trên máy

Đang kiểm tra...

list Mục lục
list Mục lục
Bầu trời tuổi thơ
Tri thức về truyện ngắn và tiểu thuyết
Văn bản: Bầy chim chìa vôi
Thực hành tiếng Việt từ văn bản Bầy chim chìa vôi
Văn bản: Đi lấy mật
Thực hành tiếng Việt từ văn bản Đi lấy mật
Văn bản: Ngàn sao làm việc
Viết: Tóm tắt văn bản theo những yêu cầu khác nhau về độ dài
Nói và nghe: Trao đổi về một vấn đề mà em quan tâm
Củng cố, mở rộng
Khúc nhạc tâm hồn
Tri thức về thơ bốn chữ, năm chữ
Văn bản: Đồng dao mùa xuân
Thực hành tiếng Việt từ văn bản Đồng dao mùa xuân
Văn bản: Gặp lá cơm nếp
Văn bản: Trở gió
Thực hành tiếng Việt (Nghĩa của từ ngữ. Biện pháp tu từ)
Viết: Tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
Viết: Viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
Nói và nghe: Trình bày suy nghĩ về một vấn đề đời sống (được rút ra từ tác phẩm văn học đã đọc)
Củng cố, mở rộng
Cội nguồn yêu thương
Tri thức ngữ văn
Văn bản: Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ
Thực hành tiếng Việt: Số từ
Văn bản: Người thầy đầu tiên
Thực hành tiếng Việt: Phó từ
Văn bản: Quê hương
Viết: Viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học
Nói và nghe: Trình bày ý kiến về một vấn đề đời sống (được gợi ra từ một nhân vật văn học)
Củng cố, mở rộng
Thực hành đọc: Trong lòng mẹ
Giai điệu đất nước
Tri thức về thơ
Văn bản: Mùa xuân nho nhỏ
Thực hành tiếng Việt: Ngữ cảnh và nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh - Biện pháp tu từ
Văn bản: Gò Me
Thực hành tiếng Việt: Nghĩa của từ ngữ - Dấu câu - Biện pháp tu từ
Viết: Viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc
Củng cố, mở rộng
Nói và nghe: Trình bày ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng
Văn bản: Bài thơ Đường núi của Nguyễn Đình Thi
Màu sắc trăm miền
Tri thức về tản văn và tùy bút
Văn bản: Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt
Văn bản Chuyện cơm hến
Thực hành tiếng Việt: Dấu gạch ngang - Biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, điệp ngữ
Văn bản: Hội lồng tồng
Thực hành tiếng Việt: Từ ngữ địa phương
Viết văn bản tường trình
Củng cố, mở rộng
ÔN TẬP CUỐI HỌC KÌ I
Ôn tập kiến thức
Luyện tập tổng hợp
Học liệu
Đang xem trang 0 Học liệu dưới đây tương ứng với nội dung bạn đang đọc
empty Không có học liệu bổ trợ
cover-first
page-1
Trang 1
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
Trang 6
Trang 7
Trang 8
Trang 9
Trang 10
Trang 11
Trang 12
Trang 13
Trang 14
Trang 15
Trang 16
Trang 17
Trang 18
Trang 19
Trang 20
Trang 21
Trang 22
Trang 23
Trang 24
Trang 25
Trang 26
Trang 27
Trang 28
Trang 29
Trang 30
Trang 31
Trang 32
Trang 33
Trang 34
Trang 35
Trang 36
Trang 37
Trang 38
Trang 39
Trang 40
VĂN BẢN 1. BẦY CHIM CHÌA VÔI (Nguyễn Quang Thiều) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS xác định được đề tài và người kể chuyện ngôi thứ ba; phân biệt được lời ngườ
VĂN BẢN 1. BẦY CHIM CHÌA VÔI
(Nguyễn Quang Thiều)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS xác định được đề tài và người kể chuyện ngôi thứ ba; phân biệt được lời người kể chuyện và lời nhân vật, nhận biết được các chi tiết miêu tả hai nhân vật Mèn, Mon (cử chỉ, hành động, ngôn ngữ đối thoại, cảm xúc, suy nghĩ).
– HS biết tìm và phân tích các chi tiết tiêu biểu để khái quát tính cách nhân vật và cảm nhận về chủ đề của truyện.
– HS biết kết nối VB với trải nghiệm cá nhân; từ đó bồi đắp cho mình cảm xúc thẩm mĩ, tình yêu thiên nhiên, lòng trân trọng sự sống.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– GV có thể mời một số HS chia sẻ về một trải nghiệm vui, hạnh phúc của bản thân; từ đó nhấn mạnh vẻ đẹp của bầu trời tuổi thơ; giá trị của cách nhìn, cách cảm nhận thế giới qua con mắt trẻ thơ.
– GV cần tạo không khí cởi mở, vui vẻ giúp HS có cảm hứng chia sẻ và biết lắng nghe những trải nghiệm để tạo tâm thế cho việc đọc hiểu VB Bầy chim chìa vôi.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– HS cần được khuyến khích đọc VB, tóm tắt cốt truyện trước khi đến lớp. Trên lớp, GV đọc mẫu đoạn đầu, cho HS đọc thầm, chỉ đọc thành tiếng một số đoạn (Ví dụ: một đoạn đối thoại của Mèn và Mon, đoạn miêu tả cảnh bầy chim chìa vôi non bay lên và cảm xúc của hai nhân vật,...).
– Khi đọc VB Bầy chim chìa vôi, các chiến lược cần sử dụng là: theo dõi, dự đoán, hình dung, đối chiếu. GV hướng dẫn HS tận dụng hệ thống các thẻ chỉ dẫn chiến lược đọc để nắm được các chi tiết, sự kiện chính, nội dung cốt truyện và hình thành cảm nhận chung về nhân vật. Các câu chỉ dẫn, gợi mở sẽ giúp HS thực hiện tốt hoạt động đọc và chuẩn bị “nguyên liệu” cho hoạt động khám phá VB. Ví dụ, ba chỉ dẫn theo dõi ở trang 11 và trang 12 giúp HS nắm được nội dung cuộc trò chuyện giữa Mèn và Mon, nhận biết được chi tiết về bầy chim chìa vôi làm tổ và đẻ trứng ngoài bãi cát giữa sông.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản GV hướng dẫn HS tự đọc phần giới thiệu về tác giả, tác phẩm; xác định vị trí của VB. Khi tổ chức hoạt động dạy - học, có thể kết hợ
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV hướng dẫn HS tự đọc phần giới thiệu về tác giả, tác phẩm; xác định vị trí của VB. Khi tổ chức hoạt động dạy - học, có thể kết hợp các câu hỏi nhưng cần bám sát yêu cầu cần đạt và bảo đảm trình tự tư duy.
Câu hỏi 1
Câu hỏi 1 yêu cầu HS xác định đề tài và nhận biết ngôi kể của truyện Bầy chim chìa vôi. Với yêu cầu xác định đề tài, GV hướng dẫn HS dựa vào một số tiêu chí đã nêu ở phần Tri thức ngữ văn; gợi ý cho HS bằng các câu hỏi:
Truyện kể về nhân vật nào? - Nội dung câu chuyện xoay quanh sự kiện chính nào?
Câu hỏi 2
Câu hỏi 2 yêu cầu HS phân biệt lời người kể chuyện và lời nhân vật, nắm được những
"dấu hiệu" để nhận biết ngôn ngữ đối thoại của nhân vật. Ví dụ, với ba câu văn: - Gì đấy? Mày không ngủ à? - Thằng Mên hỏi lại, giọng nó ráo hoảnh như đã thức dậy từ lâu lắm rồi, căn cứ để xác định lời người kể chuyện và lời nhân vật không chỉ là hình thức trình bày (dấu gạch ngang) mà còn là nội dung của lời văn.
Câu hỏi 3
GV hướng dẫn HS đọc lại phần (1) của VB, chú ý các chi tiết trong ngôn ngữ đối thoại để xác định nguyên nhân khiến hai anh em Mên và Mon lo lắng khi thấy mưa to và nước dâng cao ngoài bãi sông: Có lẽ sắp ngập mất bãi cát rồi; Em sợ những con chim chìa vôi non bị chết đuối mất; Thế anh bảo chúng nó có bơi được không?;…
Câu hỏi 4
Câu hỏi 4 giúp HS nhận biết chi tiết tiêu biểu và biết dựa vào các chi tiết để khái quát tính cách nhân vật. GV hướng dẫn HS đọc và tóm tắt nội dung cuộc trò chuyện của Mon với Mên ở phần (2). Câu chuyện của Mon có nhiều chi tiết: Bố kéo chũm được một con cá măng và một con cá bống rất đẹp; Mon lấy trộm con cá bống thả ra cống sông; nước sông dâng cao làm ngập cả cái hốc cắm sào đò,… Nhưng chi tiết quan trọng nhất, trở đi trở lại vẫn là nỗi lo lắng cho bầy chim chìa vôi: Tổ chim có bị ngập không? Bầy chim non có bị chết không? Cần phải tìm cách nào để cứu chúng? - GV hướng dẫn HS dựa vào các chi tiết tiêu biểu đã nêu để khái quát tính cách của nhân vật Mon: Một cậu bé có tâm hồn trong sáng, nhân hậu, biết yêu thương loài vật, trân trọng sự sống.
Câu hỏi 5
Mục đích của câu hỏi 5 vẫn là giúp HS nhận biết và phân tích các chi tiết tiêu biểu để khái quát đặc điểm tính cách của nhân vật. GV yêu cầu HS tự đọc lại phần (3), liệt kê một số chi tiết miêu tả cử chỉ, hành động, lời nói của nhân vật Mên: Chứ còn sao. - Lúc này giọng thằng Mên tỏ vẻ rất người lớn. - Nào xuống đò được rồi đấy; Phải kéo về bến chứ, không thì chết. Bây giờ tao kéo còn mày đẩy; Thằng Mên quấn cái dây buộc đò vào người nó và gò lưng kéo;…
- GV hướng dẫn HS dựa vào các chi tiết đã nêu để khái quát tính cách nhân vật Mên. Có thể hướng dẫn bằng các câu hỏi gợi ý: Khi Mon lo lắng, sợ hãi thì Mên có m
- GV hướng dẫn HS dựa vào các chi tiết đã nêu để khái quát tính cách nhân vật Mên. Có thể hướng dẫn bằng các câu hỏi gợi ý: Khi Mon lo lắng, sợ hãi thì Mên có mất bình tĩnh không? Mên có bảo vệ được Mon và giữ được con đò không?
Câu hỏi 6
Câu hỏi 6 yêu cầu HS nhận biết và phân tích chi tiết tiêu biểu có khả năng gây ấn tượng sâu sắc với người đọc. GV có thể tổ chức cho HS làm việc theo nhóm, mời đại diện nhóm trình bày. Câu hỏi mở nên cần khuyến khích HS tự do lựa chọn chi tiết và thể hiện được cảm nhận riêng. Ví dụ:
Chi tiết miêu tả cảnh tượng như huyền thoại: những cánh chim bé bỏng và ướt át đột ngột bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay lên. Chi tiết này gây ấn tượng nhờ sự tương phản của hai hình ảnh cánh chim bé bỏng - dòng nước khổng lồ và cảm xúc ngỡ ngàng, vui sướng của hai anh em Mên, Mon khi thấy bầy chim chìa vôi non không bị chết đuối mặc dù dải cát nơi chúng làm tổ đã chìm trong dòng nước lũ.
Chi tiết miêu tả khoảnh khắc bầy chim chìa vôi non cất cánh: Nếu bầy chim con cất cánh sớm hơn, chúng sẽ bị rơi xuống dòng nước trên đường từ bãi cát vào bờ. Và nếu chúng cất cánh chậm một giây thôi, chúng sẽ bị dòng nước cuốn chìm. Chi tiết này giúp người đọc cảm nhận được sự kì diệu của thế giới tự nhiên và sự sống.
Chi tiết có sức gợi hình ảnh và cảm xúc: một con chim chìa vôi non đột nhiên rơi xuống như một chiếc lá; con chim mẹ xoè rộng đôi cánh, kêu lên - che chở, khích lệ chim con và khi đôi chân mảnh dẻ, run rẩy của chú chim vừa chạm đến mặt sông thì đôi cánh của nó đập một nhịp quyết định, tấm thân bé bỏng của con chim vụt bứt ra khỏi dòng nước và bay lên cao hơn lần cất cánh đầu tiên ở bãi cát.
Chi tiết miêu tả bầy chim non: Chúng đậu xuống bên lùm dứa dại bờ sông sau chuyến bay đầu tiên và cũng là chuyến bay quan trọng […] kì vĩ nhất trong đời chúng. Đây là chi tiết thể hiện sức sống mãnh liệt của thiên nhiên. GV có thể mở rộng: gợi liên tưởng đến vẻ đẹp của lòng dũng cảm; của những khoảnh khắc con người vượt qua gian nan, thử thách để trưởng thành…
Câu hỏi 7
Câu hỏi 7 kết nối VB với trải nghiệm của HS, bồi đắp khả năng cảm thụ, tạo điều kiện cho HS hình thành, rèn luyện kĩ năng phân tích, nhận xét, đánh giá chi tiết, sự kiện trong truyện kể. Chi tiết miêu tả Mên và Mon đều không biết vì sao mình khóc đã thể hiện được vẻ đẹp hồn nhiên, thơ ngây, trong sáng của hai nhân vật… GV có thể tổ chức cho HS làm việc nhóm, chọn một nhóm trình bày, các nhóm khác nêu nhận xét, bổ sung. Gợi ý câu trả lời:
Mên và Mon đã rất lo lắng cho bầy chim chìa vôi non, sợ chúng bị chết đuối khi bãi sông bị ngập hết. Nửa đêm hai anh em thức dậy, nghe tiếng mưa to cũng chỉ nói với nhau về bầy chim chìa vôi, rủ nhau bơi thuyền đi cứu chúng. Lúc bình minh, Mên và Mon hồi hộp theo dõi từng cánh chim non bay lên khỏi dòng nước lũ. Cho nên, khi thấy tất cả những con chim chìa vôi đều bay được vào bờ, hai anh em đã khóc vì vui sướng, hạnh phúc.
Thực hành tiếng Việt (mở rộng trạng ngữ của câu bằng cụm từ, từ láy) MỞ RỘNG TRẠNG NGỮ CỦA CÂU BẰNG CỤM TỪ, TỪ LÁY 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS củng cố kiế
Thực hành tiếng Việt (mở rộng trạng ngữ của câu bằng cụm từ, từ láy)
MỞ RỘNG TRẠNG NGỮ CỦA CÂU BẰNG CỤM TỪ, TỪ LÁY
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS củng cố kiến thức về trạng ngữ, nhận biết được thành phần trạng ngữ trong câu.
– HS hiểu được tác dụng của việc mở rộng thành phần trạng ngữ của câu bằng cụm từ.
– HS biết mở rộng thành phần trạng ngữ của câu bằng cụm từ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Củng cố kiến thức đã học và hình thành kiến thức mới
Ở lớp 4, HS đã được học về trạng ngữ với chức năng bổ sung thông tin. Ở lớp 6, HS nhận biết được đầy đủ hơn đặc điểm và chức năng của trạng ngữ. Trong bài học này, HS cần chỉ ra được tác dụng của việc mở rộng thành phần trạng ngữ của câu bằng cụm từ và biết mở rộng thành phần trạng ngữ của câu bằng cụm từ.
GV có thể bắt đầu bài học bằng nhiều cách khác nhau. Ví dụ: Sử dụng phương pháp trò chơi để tổ chức hoạt động mở đầu/ khởi động bài học. Trong trò chơi, HS đặt câu có trạng ngữ là một cụm từ để miêu tả hoạt động ở một hình ảnh có sẵn.
GV yêu cầu HS đọc khung Nhận biết tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ của câu bằng cụm từ trong SHS, trang 17 để hiểu được tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ của câu bằng cụm từ. Ngoài ngữ liệu trong SHS, GV có thể lấy thêm các ví dụ khác để hình thành kiến thức, kĩ năng mới cho HS.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
GV hướng dẫn HS thực hiện bài tập theo yêu cầu: xác định trạng ngữ của câu, so sánh trạng ngữ trong từng cặp câu và từ đó rút ra nhận xét về tác dụng của việc mở rộng trạng ngữ của câu bằng cụm từ.
a. Trạng ngữ suốt từ chiều hôm qua không chỉ cung cấp thông tin về thời gian như trạng ngữ hôm qua mà còn cho thấy quá trình xảy ra sự việc: bắt đầu vào buổi chiều ngày hôm qua và kéo dài.
VĂN BẢN 2. ĐI LẤY MẬT (Trích Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS xác định được đề tài (thiên nhiên, con người phương Nam) và người
VĂN BẢN 2. ĐI LẤY MẬT
(Trích Đất rừng phương Nam, Đoàn Giỏi)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS xác định được đề tài (thiên nhiên, con người phương Nam) và người kể chuyện (ngôi thứ nhất); nhận biết được tính cách của các nhân vật trong đoạn trích Đi lấy mật: tía nuôi, An và Cò.
HS biết lựa chọn, phân tích các chi tiết tiêu biểu để khái quát đặc điểm tính cách của từng nhân vật; nêu được ấn tượng chung về vẻ đẹp của thiên nhiên và con n
HS biết lựa chọn, phân tích các chi tiết tiêu biểu để khái quát đặc điểm tính cách của từng nhân vật; nêu được ấn tượng chung về vẻ đẹp của thiên nhiên và con người trong đoạn trích; hiểu được cách miêu tả tinh tế, sinh động của tác giả.
Bồi đắp cho HS những xúc cảm thẩm mĩ trước thiên nhiên, con người.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV mời một vài HS chia sẻ trải nghiệm trước lớp; nên khuyến khích các em kể về những miền đất đã từng đến thăm. - Ấn tượng về cảnh sắc thiên nhiên, con người và cuộc sống được chia sẻ sẽ tạo cảm hứng giúp HS kết nối vào bài học.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS cần đọc đoạn trích trước khi học bài trên lớp. GV đọc mẫu đoạn văn đầu, dành thời gian cho HS tự đọc; chọn đọc thành tiếng một số đoạn. - Trong khi đọc VB, HS cần được hướng dẫn sử dụng các chiến lược theo dõi, tóm tắt, hình dung. Những chỉ dẫn này sẽ giúp HS nắm được diễn biến câu chuyện (theo dõi, tóm tắt); hình dung được vẻ đẹp phong phú của rừng U Minh,... - GV lưu ý HS tận dụng các thẻ chỉ dẫn trong quá trình đọc, tìm hiểu các từ khó trong phần chú thích và có thể nêu câu hỏi về một số từ ngữ trong VB.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV dành thời gian cho HS tự đọc mục giới thiệu về tác giả, tác phẩm; có thể bổ sung một vài thông tin về Đoàn Giỏi và con người, thiên nhiên phương Nam. VB đọc hiểu được trích từ một chương của tiểu thuyết nên GV khuyến khích các HS đã đọc toàn bộ tác phẩm hoặc đã xem phim Đất phương Nam chia sẻ về cốt truyện, nhân vật hoặc một ấn tượng của bản thân về thiên nhiên, con người, cuộc sống nơi đây,… Khi thiết kế hoạt động dạy - học, GV có thể kết hợp các câu hỏi nhận biết với phân tích, suy luận nhưng luôn chú ý bám sát yêu cầu cần đạt và đảm bảo trình tự tư duy.
Câu hỏi 1
Mục đích của câu hỏi 1 là giúp HS xác định các nhân vật trong đoạn trích và mối quan hệ khá đặc biệt giữa các nhân vật đó (An là con nuôi trong gia đình Cò), tạo điều kiện cho việc tìm hiểu đặc điểm tính cách của từng nhân vật ở các hoạt động tiếp theo.
Câu hỏi 2
Theo trình tự tư duy, HS sẽ đọc VB, tìm các chi tiết miêu tả nhân vật; dựa vào các chi tiết đó để nêu cảm nhận. Câu hỏi 2 đảo lại trình tự đó với mục đích lưu ý HS: khi nêu bất kì
nhận xét nào, đều phải dựa vào những dữ liệu có trong VB. GV có thể thiết kế phiếu học tập, tổ chức cho HS làm việc nhóm. GV có thể tham khảo gợi ý sau: Tía nuô
nhận xét nào, đều phải dựa vào những dữ liệu có trong VB. GV có thể thiết kế phiếu học tập, tổ chức cho HS làm việc nhóm. GV có thể tham khảo gợi ý sau:
Tía nuôi của An là một người lao động dày dạn kinh nghiệm; tính cách mạnh mẽ; giàu lòng nhân hậu, yêu thương con người và thiên nhiên. Những vẻ đẹp đó được thể hiện qua ngoại hình; qua cách ứng xử của ông với cậu bé An, với thiên nhiên. HS có thể nêu một số chi tiết tiêu biểu như:
Hình dáng bên ngoài của tía nuôi An toát lên vẻ đẹp của một người lao động từng trải, can đảm: vóc dáng khoẻ mạnh, vững chãi; cử chỉ mạnh mẽ, dứt khoát,…
Lời nói, cách cư xử của ông với An thể hiện sự quan tâm, tình yêu thương dành cho cậu con nuôi: nghe An thở phía sau ông đã biết cậu bé mệt và cần nghỉ chân; chú tâm chăm lo cho An hơn Cò vì biết An chưa quen đi rừng,…
Ông gác kèo cho ong rừng làm tổ rất giỏi và bảo vệ đàn ong, trân trọng sự sống.
Câu hỏi 3
Câu hỏi 3 kết hợp các thao tác nhận biết, phân tích, đánh giá. GV hướng dẫn HS đọc lại các đoạn văn tả cảnh rừng U Minh; nhận biết lời kể, lời miêu tả của người kể chuyện. GV có thể tham khảo gợi ý sau:
Nhà văn tái hiện cảnh sắc rừng U Minh qua cái nhìn của nhân vật An. Nhân vật An đã quan sát, cảm nhận được vẻ đẹp phong phú, đầy chất thơ của rừng U Minh: buổi bình minh yên tĩnh, trong vắt, mát lành; buổi trưa tràn đầy ánh nắng, ngây ngất hương thơm của hoa tràm, tiếng chim hót líu lo và hàng ngàn con chim vụt bay lên; những loài cây và màu sắc của từng phiến lá, những loài côn trùng bé nhỏ, kì lạ; thế giới đầy bí ẩn của loài ong;...
Những bức tranh thiên nhiên cho thấy An có khả năng quan sát tinh tế, có tâm hồn trong sáng, biết phát hiện, cảm nhận vẻ đẹp của thiên nhiên.
Câu hỏi 4
GV hướng dẫn HS đọc lại VB, tìm các chi tiết miêu tả hình dáng, cử chỉ, lời nói, hành động của nhân vật Cò. Có thể gợi ý:
Cò đi rừng như thế nào (bỡ ngỡ, chậm chạp hay nhanh nhẹn, thành thạo)? - Cò có những hiểu biết gì về sân chim, về rừng U Minh? HS dựa vào những chi tiết đó để xác định: Cò là một cậu bé sinh ra và lớn lên ở vùng đất rừng phương Nam...
Câu hỏi 5
Câu hỏi 5 đảm nhận nhiều yêu cầu cần đạt của bài học: nhận biết, phân tích được các chi tiết tiêu biểu; nhận biết tính cách nhân vật thể hiện qua cử chỉ, hành động, lời thoại, qua cảm xúc, suy nghĩ và mối quan hệ với các nhân vật khác. GV nên dùng phiếu học tập và tổ chức cho HS làm việc nhóm ở câu hỏi này. Có thể sử dụng một số câu hỏi gợi ý:
An cảm nhận như thế nào về tía nuôi, má nuôi, về Cò? (Vì chiến tranh, An bị lạc gia đình, được tía má Cò nhận làm con nuôi và được họ yêu thương, bao bọc như co
An cảm nhận như thế nào về tía nuôi, má nuôi, về Cò? (Vì chiến tranh, An bị lạc gia đình, được tía má Cò nhận làm con nuôi và được họ yêu thương, bao bọc như con đẻ. An cảm nhận được tình thương của tía và má dành cho mình: Quả là tôi đã mệt thật. Tía nuôi tôi chỉ nghe tôi thở đằng sau lưng ông thôi mà biết…; Má nuôi tôi vò đầu tôi, cười rất hiền lành;… Vì vậy, An rất yêu quý tía, má nuôi, luôn nghĩ về họ với tình cảm gần gũi, thân thuộc, ấm áp. Với Cò, cũng có lúc An cảm thấy "ghen tị" vì Cò đi rừng thành thạo và biết rất nhiều về rừng U Minh. Nhưng nỗi giận hờn trẻ con chỉ thoáng qua và An luôn ngạc nhiên, ngưỡng mộ sự nhanh nhẹn và hiểu biết về rừng U Minh của Cò.)
- Qua cái nhìn của An, thiên nhiên rừng U Minh hiện lên như thế nào? (HS có thể sử
dụng kết quả ở câu hỏi 3.)
- An đã có những suy nghĩ gì khi nghe má nuôi kể về cách "ăn ong" của người dân U
Minh? (GV hướng dẫn HS đọc lại đoạn văn so sánh cách "thuần hoá" ong rừng của nhiều
dân tộc trên thế giới, để thấy cách "ăn ong" rất độc đáo của người dân vùng U Minh. Những suy nghĩ, liên tưởng ấy cho thấy An là cậu bé thông minh, ham hiểu biết.)
Đại diện các nhóm trình bày, các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
Câu hỏi 6
Câu hỏi 6 thực hiện yêu cầu cần đạt: "nêu được ấn tượng chung về VB" của bài 1. Bầu trời tuổi thơ. GV hướng dẫn HS dựa vào tính cách của các nhân vật và vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên để nêu ấn tượng. Nên khuyến khích HS trình bày cảm nhận của cá nhân. Có thể tham khảo gợi ý sau: - Ấn tượng về con người phương Nam: vừa gần gũi, bình dị, hồn nhiên, nhân hậu vừa mạnh mẽ, phóng khoáng,…
Ấn tượng về rừng phương Nam: kì thú, đầy chất thơ, giàu có, hoang sơ,... GV có thể mời một vài HS trình bày cảm nhận; phân tích, bổ sung và nêu nhận xét.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
HS tự chọn một chi tiết trong VB làm đề tài cho hoạt động viết: có thể chọn chi tiết miêu tả thiên nhiên rừng U Minh (không khí trong rừng, một loài cây, loài vật,…); hoặc chi tiết khắc hoạ tính cách nhân vật (ngoại hình, cử chỉ, lời nói, suy nghĩ,…). - GV hướng dẫn HS triển khai ý cho đoạn văn (nêu chi tiết mình lựa chọn, trình bày cảm nhận về chi tiết) và viết. GV có thể hướng dẫn HS qua việc phân tích mẫu một chi tiết. Ví dụ chi tiết miêu tả dáng vẻ bề ngoài của An: Tôi đã chen vào giữa, quảy tòn ten một cái gùi bé mà má nuôi tôi đã bơi xuồng đi mượn của nhà ai ngoài xóm bìa rừng từ chiều hôm qua; trong khi Cò đội cái thúng to tướng, trong thúng đựng một vò nước, mấy gói cơm nắm… Chi tiết này cho thấy An được gia đình Cò rất yêu thương và cậu cảm nhận được tình yêu thương ấy. Má nuôi ra tận ngoài xóm bìa rừng mượn cái gùi nhỏ để An có món đồ mang đi rừng vừa với sức mình.
Thực hành tiếng Việt (mở rộng thành phần chính của câu bằng cụm từ) MỞ RỘNG THÀNH PHẦN CHÍNH CỦA CÂU BẰNG CỤM TỪ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS củng cố kiến th
Thực hành tiếng Việt (mở rộng thành phần chính của câu bằng cụm từ)
MỞ RỘNG THÀNH PHẦN CHÍNH CỦA CÂU BẰNG CỤM TỪ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS củng cố kiến thức về mở rộng thành phần chính của câu bằng cụm từ.
HS hiểu được tác dụng của việc mở rộng thành phần chính của câu bằng cụm từ.
HS biết mở rộng thành phần chính của câu bằng cụm từ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Củng cố kiến thức đã học
GV có thể củng cố kiến thức đã học cho HS bằng nhiều cách khác nhau. Ví dụ: GV yêu cầu HS nhắc lại các loại cụm từ đã học ở lớp 6, lấy ví dụ một câu có chủ ngữ và vị ngữ là một cụm từ.
GV và HS phân tích một vài câu mà HS đưa ra.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
GV hướng dẫn HS thực hiện bài tập theo yêu cầu: chỉ ra tác dụng của việc sử dụng các câu mở rộng thành phần vị ngữ. Nhờ việc sử dụng các câu mở rộng thành phần vị ngữ, nhà văn Đoàn Giỏi đã miêu tả được vẻ đẹp của buổi trưa trong rừng U Minh. Vẻ đẹp của khu rừng được cảm nhận bằng nhiều giác quan: tiếng chim hót líu lo, hương thơm ngầy ngật của hoa tràm trong nắng, mấy con kì nhông nằm phơi lưng trên gốc cây và các màu sắc sinh động, luôn biến đổi trên lưng kì nhông. Nhờ sử dụng các câu văn với thành phần vị ngữ được mở rộng, đoạn văn rất giàu chất thơ.
Bài tập 2
Bài tập giúp HS nhận biết được tác dụng của việc mở rộng thành phần chủ ngữ của câu bằng cụm từ. Bài tập đặt ra yêu cầu đối với HS: thử rút gọn các cụm từ và nhận xét về sự thay đổi nghĩa của câu sau khi chủ ngữ được rút gọn. GV hướng dẫn HS rút gọn theo nguyên tắc: chủ ngữ sau khi được rút gọn cần ngắn hơn chủ ngữ ban đầu nhưng vẫn đủ để người đọc hiểu được nghĩa của câu.
a. Có thể rút gọn thành phần chủ ngữ thành Tiếng lá rơi,... Nếu rút gọn thành Tiếng lá rơi, câu sẽ không còn ý nghĩa chỉ sự phiếm định (một) và thời gian (lúc này).
b. Có thể rút gọn thành phần chủ ngữ thành Phút yên tĩnh. Nếu rút gọn như vậy, câu sẽ mất đi ý nghĩa miêu tả, hạn định (của rừng ban mai).
VĂN BẢN 3. NGÀN SAO LÀM VIỆC (Võ Quảng) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – VB 3 kết nối với hai VB đọc chính ở mạch chủ đề Bầu trời tuổi thơ. Đọc hiểu bài thơ Ngàn
VĂN BẢN 3. NGÀN SAO LÀM VIỆC
(Võ Quảng)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– VB 3 kết nối với hai VB đọc chính ở mạch chủ đề Bầu trời tuổi thơ. Đọc hiểu bài thơ Ngàn sao làm việc, HS sẽ cảm nhận được vẻ đẹp của khung cảnh êm đềm và nhịp sống bình yên nơi đồng quê, của vũ trụ bao la mà vẫn gần gũi, thân thuộc, vui nhộn. Bài thơ sẽ góp phần giúp các em hình thành, phát triển năng lực thẩm mĩ, trí tưởng tượng và tình yêu thiên nhiên.
– Bài thơ Ngàn sao làm việc cũng là ngữ liệu để HS luyện tập các kĩ năng đọc hiểu VB thơ đã được hình thành từ các lớp trước.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Bài thơ là VB đọc kết nối về chủ đề nên SHS không thiết kế hoạt động khởi động. GV có thể cho HS khởi động bằng việc chia sẻ trải nghiệm của mình: một vẻ đẹp của bầu trời trong buổi hoàng hôn, trong đêm hoặc một cảnh đẹp đồng quê mà các em yêu thích.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– GV yêu cầu HS đọc VB trước khi đến lớp, khuyến khích học thuộc lòng bài thơ.
– GV chỉ định một vài HS đọc diễn cảm bài thơ trước lớp.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản GV cho HS tự đọc mục giới thiệu về nhà thơ Võ Quảng. GV có thể cho HS chia sẻ cảm nhận, ấn tượng về một tác phẩm của Võ Quảng đã họ
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS tự đọc mục giới thiệu về nhà thơ Võ Quảng. GV có thể cho HS chia sẻ cảm nhận, ấn tượng về một tác phẩm của Võ Quảng đã học ở Tiểu học hoặc tự đọc; hoặc gợi ý các em xác định đề tài, tìm bố cục của bài thơ.
Khi thiết kế hoạt động dạy - học, GV cần bám sát mục tiêu của hệ thống câu hỏi sau khi đọc.
Câu hỏi 1
GV hướng dẫn HS tìm các chi tiết để nhận biết thời gian, không gian: bóng chiều, đồng quê đang xanh thẫm, trở tối mò, trời yên tĩnh, ngàn sao,… Từ những chi tiết đó, HS xác định được không gian và thời gian: cánh đồng quê vào buổi chiều thanh bình và yên tĩnh.
Tuỳ đối tượng HS, GV có thể mở rộng câu hỏi để các em nắm bắt được nghệ thuật tả
cảnh, sức gợi hình của từ ngữ.
Câu hỏi 2
- Câu hỏi số 2 giúp HS bước đầu nhận biết được nhân vật trữ tình trong bài thơ và tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện trong hai khổ thơ đầu. GV hướng dẫn HS dựa vào một số chi tiết, hình ảnh (Trâu tôi đã ăn no; Trâu tôi đi đủng đỉnh/ Như bước giữa ngàn sao…) để tìm câu trả lời; có thể sử dụng câu hỏi gợi ý: Nhân vật "tôi" đang làm gì? Công việc ấy thường là của người lớn hay trẻ em? Nhân vật "tôi" có tâm trạng vui, có cảm giác thư thái, bình yên hay buồn bã, vội vàng, lo lắng?.
- Gợi ý câu trả lời: Nhân vật "tôi" là một bạn nhỏ sống ở làng quê. Tâm trạng của nhân vật "tôi" vui tươi, hạnh phúc (dắt trâu về nhà trong khung cảnh êm đềm, thơ mộng của đồng quê: bóng chiều toả, trời trở tối, người và trâu đi giữa trời đêm như bước giữa ngàn sao…).
Câu hỏi 3 - GV hướng dẫn HS đọc kĩ bài thơ, tìm và phân tích một số chi tiết tiêu biểu để nêu ấn tượng
chung về khung cảnh bầu trời đêm: dải Ngân Hà; các chòm sao Thần Nông, Đại Hùng; sao Hôm;…
- Gợi ý câu trả lời: Ấn tượng chung về bầu trời đêm: khung cảnh rộng lớn, mênh mông
và không khí tươi vui, rộn rã. Ngàn sao toả sáng, những chòm sao hiện lên sống động như những con người đang mải miết, cần mẫn, hăng say trong công việc lao động thường ngày,…
Câu hỏi 4
Câu hỏi 4 kết hợp các yêu cầu nhận biết, phân tích, giúp HS nắm bắt được những nét đặc sắc nghệ thuật của bài thơ qua bốn khổ thơ cuối. GV hướng dẫn HS vận dụng hiểu biết về biện pháp tu từ so sánh, sử dụng chiến lược hình dung và phân tích để thực hiện các yêu cầu trên. GV có thể tổ chức cho HS làm việc nhóm, dùng phiếu học tập với một số câu hỏi gợi ý.
VIẾT TÓM TẮT VĂN BẢN THEO NHỮNG YÊU CẦU KHÁC NHAU VỀ ĐỘ DÀI 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS biết tóm tắt một VB theo những yêu cầu khác nhau về độ dài, đảm bảo
VIẾT
TÓM TẮT VĂN BẢN THEO NHỮNG YÊU CẦU KHÁC NHAU VỀ ĐỘ DÀI
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS biết tóm tắt một VB theo những yêu cầu khác nhau về độ dài, đảm bảo được nội dung chính của VB.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với văn bản tóm tắt
– Phản ánh đúng nội dung của VB gốc: Đây là yêu cầu quan trọng của việc tóm tắt VB. Trong VB tóm tắt, người tóm tắt không đưa vào những thông tin vốn không có trong VB gốc hoặc những đánh giá, nhận xét chủ quan của mình về VB gốc.
– Trình bày được những ý chính, những điểm quan trọng của VB gốc: Yêu cầu này có nghĩa là VB tóm tắt cần thâu tóm được những nội dung không thể lược bỏ của VB gốc.
– Sử dụng các từ ngữ quan trọng của VB gốc: Trong bất kì VB nào cũng xuất hiện những từ ngữ mà ta thường gọi là "từ khoá". Đây là những từ ngữ then chốt, mang hàm lượng thông tin cao, thường xuất hiện nhiều lần trong VB. Vì thế, khi tóm tắt VB, cần chú ý sử dụng những "từ khoá" này.
– Đáp ứng được những yêu cầu khác nhau về độ dài: VB tóm tắt phải là VB có dung lượng nhỏ hơn (ngắn hơn) VB gốc. Dung lượng của VB tóm tắt luôn được quy định chặt chẽ bởi mục đích, cách thức, hoàn cảnh tóm tắt,...
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài GV có thể giới thiệu kiểu bài tóm tắt VB bằng nhiều cách. Chẳng hạn: GV yêu cầu HS chia sẻ: E
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV có thể giới thiệu kiểu bài tóm tắt VB bằng nhiều cách. Chẳng hạn: GV yêu cầu HS chia sẻ: Em đã bao giờ tóm tắt một VB chưa? Hãy kể lại mục đích của việc tóm tắt VB và tình huống sử dụng VB tóm tắt đó. Từ đó, GV dẫn dắt vào bài học.
Hoạt động 2 Tìm hiểu các yêu cầu đối với văn bản tóm tắt
GV có thể mời HS trình bày các yêu cầu đối với VB tóm tắt (đã được thể hiện trong SHS, trang 27). GV yêu cầu HS nêu điều em còn chưa rõ về yêu cầu đối với VB tóm tắt.
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài tóm tắt tham khảo
GV giới thiệu: SHS có hai VB tóm tắt truyền thuyết Sơn Tinh, Thuỷ Tinh mà các em
đã được học ở lớp 6.
GV hướng dẫn HS thảo luận các yêu cầu đối với VB tóm tắt được thể hiện trong VB 1 và VB 2. GV có thể sử dụng các câu hỏi/ nhiệm vụ như sau:
VB tóm tắt có phản ánh trung thành nội dung của VB gốc không? (Hai VB tóm tắt đều phản ánh trung thành nội dung của VB gốc. Trong hai VB tóm tắt, người tóm tắt không đưa vào những thông tin vốn không có trong VB gốc hay những đánh giá, nhận xét chủ quan về các sự việc trong câu chuyện.)
VB tóm tắt có trình bày được những ý chính, những điểm quan trọng của VB gốc không? (Hai VB tóm tắt đã trình bày được những ý chính, những điểm quan trọng của VB gốc.)
Nêu một số từ ngữ quan trọng của VB gốc được thể hiện trong VB tóm tắt. (Một số từ ngữ quan trọng trong VB gốc được thể hiện trong VB tóm tắt như: Hùng Vương thứ mười tám, Mị Nương, Sơn Tinh - chúa miền non cao, Thuỷ Tinh - chúa miền nước thẳm, cầu hôn, lễ vật, nổi giận, thua,…)
Nhận xét về độ dài của VB tóm tắt 1 và 2. (VB 1 có dung lượng 4 câu, VB 2 có dung lượng 12 câu. VB 2 đã miêu tả sự việc kĩ hơn so với VB 1.)
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
GV ra đề bài cụ thể cho HS thực hiện, chẳng hạn: Viết đoạn văn (khoảng 8 - 10 câu) tóm tắt văn bản Bầy chim chìa vôi. GV hướng dẫn HS phân tích yêu cầu của đề bài (gạch dưới các từ ngữ quan trọng trong đề bài) để xác định nhiệm vụ viết. GV lưu ý HS khi viết cần có ý thức bám sát mục đích viết và đối tượng người đọc mà bài viết hướng tới.
GV hướng dẫn HS viết VB tóm tắt theo các bước như trong SHS. GV có thể hướng dẫn HS thực hành tóm tắt VB Bầy chim chìa vôi (Nguyễn Quang Thiều) theo các bước đã được gợi ý cụ thể sau:
– Đọc kĩ VB Bầy chim chìa vôi. – Xác định nội dung chính cần tóm tắt: Xác định nội dung cốt lõi của toàn VB: Mên và Mon lo lắng cho bầy chim chìa vôi non, sợ ch
– Đọc kĩ VB Bầy chim chìa vôi.
– Xác định nội dung chính cần tóm tắt:
Xác định nội dung cốt lõi của toàn VB: Mên và Mon lo lắng cho bầy chim chìa vôi non, sợ chúng bị chết đuối khi thấy mưa to và nước dâng cao ngoài bãi sông. Hai anh em đã đi đò ra bãi cát giữa sông để cứu tổ chim sắp bị ngập nước và xúc động khi chứng kiến cảnh đàn chim bé bỏng bứt khỏi dòng nước khổng lồ bay lên.
Xác định các phần và tìm ý chính của từng phần trong VB:
Phần (1), Phần (2), Phần (3)
Khoảng hai giờ sáng, trời mưa to, hai anh em Mên và Mon không thể ngủ được vì sợ những con chim chìa vôi ở bãi sông bị chết đuối., →, Hai anh em Mên và Mon vẫn lo rằng tổ chim chìa vôi sẽ bị ngập, chìm trong dòng nước lớn. Hai anh em nghĩ cách mang tổ chim vào bờ., →, Mên và Mon đi đò ra dải cát giữa sông và xúc động khi chứng kiến cảnh chim bố, chim mẹ dẫn bầy chim non bay lên, bứt khỏi dòng nước khổng lồ.
GV có thể dùng sơ đồ truyện trong SHS, trang 29 để hướng dẫn HS ghi lại ý chính của VB. Khi tóm tắt VB tự sự, cần quan tâm đến bối cảnh, nhân vật và sự việc tiêu biểu.
– Xác định các từ ngữ quan trọng của VB: GV yêu cầu HS nêu các từ ngữ quan trọng của VB. Đó là các từ ngữ: hai anh em Mên và Mon, bầy chim chìa vôi, con đò, bãi cát giữa sông,...
– Xác định yêu cầu về độ dài của VB tóm tắt: GV yêu cầu HS xác định ý lớn và ý nhỏ của VB gốc.
Căn cứ vào yêu cầu về độ dài của VB để lựa chọn ý lớn, ý nhỏ cho VB tóm tắt.
GV lưu ý HS khi tóm tắt VB tự sự, để có VB tóm tắt ngắn gọn, cần chú ý lựa chọn các sự việc chính; còn để VB tóm tắt có dung lượng lớn hơn, cần mở rộng các sự việc bằng những chi tiết tiêu biểu trong VB gốc.
– GV hướng dẫn HS viết VB tóm tắt với một số lưu ý như trong SHS.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu đối với VB tóm tắt và một vài lưu ý khi tóm tắt VB.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả và chỉnh sửa bài viết
a. GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt ở bài tóm tắt của HS. GV phân tích một số điểm tích cực và hạn chế trong bài làm để HS rút kinh nghiệm chung.
NÓI VÀ NGHE TRAO ĐỔI VỀ MỘT VẤN ĐỀ MÀ EM QUAN TÂM 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS trình bày được ý kiến về một vấn đề đời sống mà mình quan tâm. – HS tóm tắt
NÓI VÀ NGHE
TRAO ĐỔI VỀ MỘT VẤN ĐỀ MÀ EM QUAN TÂM
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS trình bày được ý kiến về một vấn đề đời sống mà mình quan tâm.
– HS tóm tắt được các ý chính do người khác trình bày.
– HS biết trao đổi một cách xây dựng, tôn trọng các ý kiến khác biệt.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Chuẩn bị bài nói
GV dành khoảng 5 phút cho HS tự soát lại nội dung bài nói đã chuẩn bị ở nhà (dựa trên hướng dẫn của SHS và những nhiệm vụ được GV giao thực hiện trước đó). GV yêu cầu HS xem lại dàn ý bài nói của mình (đánh dấu ý quan trọng, các từ khoá) và kiểm tra các phương tiện hỗ trợ (nếu có).
Hoạt động 2 Trình bày bài nói
– GV có thể cho HS trình bày theo nhóm trước khi trình bày trước lớp để tất cả HS đều có cơ hội được trao đổi trong tiết học (nhóm đôi hoặc nhóm 3 – 4, mỗi HS được trình bày trong thời gian khoảng 5 phút).
– GV cần phân bố thời gian hợp lí để trong một tiết, có nhiều HS (khoảng 3 em) được trình bày bài nói của mình trước lớp; những HS còn lại sẽ tóm tắt nội dung c
– GV cần phân bố thời gian hợp lí để trong một tiết, có nhiều HS (khoảng 3 em) được trình bày bài nói của mình trước lớp; những HS còn lại sẽ tóm tắt nội dung của bài trình bày và dự kiến một số vấn đề sẽ trao đổi, thảo luận với người nói.
– GV lưu ý HS cần tận dụng các lợi thế của giao tiếp trực tiếp bằng lời như sử dụng ngữ điệu, cử chỉ, điệu bộ và sự tương tác tích cực với người nghe để tạo nên sức hấp dẫn và thuyết phục cho bài nói.
Hoạt động 3 Trao đổi về bài nói
– GV tổ chức cho HS trao đổi về bài nói theo một số gợi ý trong SHS.
– GV có thể cùng HS xây dựng phiếu đánh giá theo tiêu chí để đánh giá bài nói. Có thể tham khảo phiếu đánh giá bài trao đổi về một vấn đề mà em quan tâm như sau:
PHIẾU ĐÁNH GIÁ THEO TIÊU CHÍ
Nhóm: ……………………
Tiêu chí / Mức độ
1. Thể hiện ý kiến của người nói về một vấn đề mà mình quan tâm
2. Đưa ra được các lí lẽ và bằng chứng
3. Nói rõ ràng, truyền cảm
4. Sử dụng ngôn ngữ cơ thể (cử chỉ, điệu bộ, nét mặt,...) phù hợp
CŨNG CỐ, MỞ RỘNG Cuối tiết học nói và nghe, GV cần hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc. GV yêu cầu HS làm bài
CŨNG CỐ, MỞ RỘNG
Cuối tiết học nói và nghe, GV cần hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc.
GV yêu cầu HS làm bài tập phần Củng cố, mở rộng vào Vở thực hành Ngữ văn 7 hoặc vở bài tập.
Bài tập 1
GV hướng dẫn HS vận dụng Tri thức ngữ văn và kết quả của phần Đọc để hoàn thành các cột trong bảng.
STT, Văn bản, Đề tài, Ấn tượng chung về văn bản
1, Bầy chim chìa vôi, Tuổi thơ và thiên nhiên hoặc hai đứa trẻ và bầy chim chìa vôi, Sức sống kì diệu của bầy chim chìa vôi; tâm hồn trong sáng, nhân hậu của hai nhân vật Mên và Mon
2, Đi lấy mật, Tuổi thơ và thiên nhiên hoặc đi lấy mật trong rừng U Minh, Vẻ đẹp phong phú, hoang sơ, bí ẩn của rừng U Minh và tâm hồn trong sáng, tinh tế của nhân vật An
3, Ngàn sao làm việc, Tuổi thơ và thiên nhiên hoặc vẻ đẹp của bầu trời đêm qua con mắt trẻ thơ, Khung cảnh bầu trời đêm trong trẻo, rộn rã, tươi vui và trí tưởng tượng hồn nhiên, phong phú của trẻ thơ
Bài tập 2
Bài tập số 2 củng cố yêu cầu cần đạt: Nêu được những trải nghiệm trong cuộc sống giúp bản thân hiểu thêm về nhân vật, sự việc trong tác phẩm văn học. GV cần khuyến khích HS bày tỏ ý kiến cá nhân.
Bài tập 3
GV có thể thiết kế phiếu học tập, HS sử dụng để hoàn thành bài tập với truyện kể mình lựa chọn.
Trang 58
Trang 59
Trang 60
Trang 61
VĂN BẢN 1. ĐỒNG DAO MÙA XUÂN (Nguyễn Khoa Điềm) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết được các đặc điểm về số tiếng trong mỗi dòng thơ, số dòng trong bài
VĂN BẢN 1. ĐỒNG DAO MÙA XUÂN
(Nguyễn Khoa Điềm)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được các đặc điểm về số tiếng trong mỗi dòng thơ, số dòng trong bài thơ; đặc điểm vần, nhịp của thể thơ bốn chữ qua tìm hiểu bài thơ Đồng dao mùa xuân của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm.
– Nhận biết và nhận xét được nét độc đáo của bài thơ thể hiện ở yếu tố tự sự, yếu tố miêu tả, hình ảnh thơ (người lính trẻ, khung cảnh trận chiến trên rừng Trường Sơn), biện pháp tu từ (nói giảm nói tránh, điệp ngữ,…).
– HS cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước được thể hiện trong bài thơ, biết ơn những người đã góp phần làm nên cuộc sống hôm nay và trân trọng những gì mà các em đang có.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
SHS đặt ra hai yêu cầu trước khi đọc:
– Thứ nhất là yêu cầu huy động tri thức của HS về thể loại. Ở tiểu học, các em đã được học những bài thơ bốn chữ, tuy nhiên, ở bậc học này, các em chưa được hình thành đầy đủ
kiến thức về thể thơ. Vì vậy, ở phần trước khi đọc này, SHS chỉ đặt ra yêu cầu nêu ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong tâm trí khi nghe nói đến cụm từ thơ bốn chữ,
kiến thức về thể thơ. Vì vậy, ở phần trước khi đọc này, SHS chỉ đặt ra yêu cầu nêu ý nghĩ đầu tiên xuất hiện trong tâm trí khi nghe nói đến cụm từ thơ bốn chữ, kể được tên một số bài thơ bốn chữ, chia sẻ cảm nghĩ về một bài thơ bốn chữ mà em yêu thích. GV có thể tổ chức hình thức thi đọc thơ để kích thích hứng thú của HS. - Thứ hai là yêu cầu huy động trải nghiệm thực tế liên quan đến chủ đề. Để thực hiện yêu cầu này, GV có thể tổ chức cho HS làm việc nhóm. Có thể sử dụng một số kĩ thuật dạy học để hỗ trợ, chẳng hạn, kĩ thuật KWLH để tổ chức hoạt động này. GV hướng dẫn HS điền thông tin vào cột K và W ở hoạt động Trước khi đọc. Còn cột L và H sẽ ghi sau khi học xong bài thơ. Gợi ý về biểu đồ KWLH cho bài học:
K (What we, W (What we want
known) (Liệt kê, to learn) (Liệt kê
những điều em đã, những điều em
biết về anh bộ đội) muốn biết thêm về
anh bộ đội)
L (What we learned)
(Liệt kê những điều em đã biết về anh bộ đội sau khi học bài thơ)
H (How can we
learn more) (Các em sẽ tiếp tục tìm hiểu như thế nào về anh bộ đội?)
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS cần được khuyến khích đọc VB trước khi đến lớp. GV đọc mẫu, chú ý thể hiện được nhịp điệu của bài thơ, sau đó yêu cầu một số HS đọc toàn VB. Trước khi HS đọc VB, GV hướng dẫn HS theo dõi số tiếng trong mỗi dòng thơ, cách gieo vần, ngắt nhịp để nắm được những yếu tố đặc trưng của thể thơ bốn chữ. Đồng thời, GV lưu ý HS hình dung được hình ảnh người lính trong "những năm máu lửa" và hình ảnh người lính nằm lại chiến trường xưa trong tưởng tượng của tác giả.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Mục tiêu chính trong phần đọc bài thơ Đồng dao mùa xuân của Nguyễn Khoa Điềm là giúp HS phát triển kĩ năng đọc VB thơ bốn chữ và bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương, đất nước, lòng biết ơn những người đã góp phần làm nên cuộc sống hôm nay. Vì vậy, hệ thống câu hỏi sẽ hướng tới khai thác những đặc điểm của VB thơ cũng như những giá trị nhân văn cao đẹp của tác phẩm. Xuất phát từ mục tiêu đó, SHS xây dựng hệ thống câu hỏi sau khi đọc theo các nhóm: nhóm câu hỏi tập trung hướng dẫn HS nhận biết (câu 1, 2) những đặc điểm hình thức thơ bốn chữ; nhóm câu hỏi phân tích, suy luận (câu 3, 4) khám phá những giá trị nội dung của bài thơ và nhóm câu hỏi đánh giá, vận dụng (câu 5, 6) hướng đến việc làm sáng tỏ thông điệp chính của bài thơ. Hệ thống câu hỏi này nên được sử dụng linh hoạt như tách, ghép, bổ sung những câu hỏi có tính gợi ý, dẫn dắt phù hợp với đối tượng HS, hướng đến mục tiêu giúp HS phát triển kĩ năng đọc một bài thơ thuộc thể bốn chữ. Đây cũng là cách để GV tổ chức cho HS tìm hiểu bài thơ Đồng dao mùa xuân.
GV có thể cấu trúc hoạt động Khám phá văn bản thành các nội dung: 1. Đặc điểm về vần, nhịp, khổ của bài thơ (câu 1, 2); 2. Hình ảnh người lính (câu 3, 4); 3. Tì
GV có thể cấu trúc hoạt động Khám phá văn bản thành các nội dung: 1. Đặc điểm về vần, nhịp, khổ của bài thơ (câu 1, 2); 2. Hình ảnh người lính (câu 3, 4); 3. Tình cảm, cảm xúc đối với người lính (5, 6).
Câu hỏi 1
– Câu hỏi 1 đặt ra yêu cầu tìm hiểu một đặc điểm hình thức của bài thơ bốn chữ. Đó là sự phân chia khổ trong bài. GV có thể gợi ý HS xác định số lượng khổ trong bài, chú ý những khổ thơ có số lượng dòng khác với các khổ khác.
– Bài thơ được chia thành chín khổ. Hầu hết các khổ đều có bốn dòng. Tuy nhiên có hai khổ khác biệt với các khổ còn lại. Khổ một kể lại sự kiện người lính lên đường ra chiến trường, gồm ba dòng thơ, tạo nên một sự lửng lơ, khiến người đọc có tâm trạng chờ đợi được đọc câu chuyện tiếp theo về anh… Khổ hai kể về sự ra đi của người lính chỉ vỏn vẹn trong hai dòng – diễn tả sự hi sinh bất ngờ, đột ngột giữa lúc tuổi xanh, thể hiện tâm trạng đau thương của nhà thơ, đồng thời gợi lên trong người đọc niềm tiếc thương sâu sắc.
Câu hỏi 2
– Câu hỏi 2 đặt ra yêu cầu tìm hiểu những đặc điểm hình thức của bài thơ bốn chữ như số tiếng trong mỗi dòng, cách gieo vần, ngắt nhịp của bài thơ.
GV có thể gợi ý cho HS lập bảng rồi yêu cầu HS hoàn thiện. Bảng này có thể được thiết kế để trình chiếu:
Đặc điểm, Tác dụng
Số tiếng trong mỗi dòng
Cách gieo vần
Ngắt nhịp
– GV có thể tổ chức cho HS thi xác định các đặc điểm của bài thơ: chia lớp thành hai đội, trong khoảng thời gian quy định, mỗi đội cử một thư kí ghi trên bảng câu trả lời của các bạn trong đội. Hết giờ, GV yêu cầu thành viên hai đội tự xác định câu trả lời đúng của đội bạn. GV làm trọng tài kết luận phương án trả lời.
Mỗi dòng thơ có bốn tiếng, rất ngắn gọn, như một nét chạm khắc rất dứt khoát, rất sắc nét, góp phần tạc vào kí ức độc giả hình tượng người lính đã anh dũng hi sinh vì Tổ quốc giữa lúc tuổi đang còn rất trẻ.
Bài thơ sử dụng vần chân ở hầu hết các dòng thơ, ví dụ: lính – bình, lửa – nữa.
Có một người lính
Đi vào núi xanh
Những năm máu lửa.
Một ngày hoà bình
Anh không về nữa.
Trên nền nhịp chẵn (2/2) được hình thành một cách tự nhiên (do tính bình ổn của cảm xúc và thói quen ưa sự nhịp nhàng khi làm thơ của người Việt chi phối), nhà
Trên nền nhịp chẵn (2/2) được hình thành một cách tự nhiên (do tính bình ổn của cảm xúc và thói quen ưa sự nhịp nhàng khi làm thơ của người Việt chi phối), nhà thơ đã dụng công tạo nên các biến tấu linh hoạt. Chẳng hạn, khi đọc năm dòng đầu, người đọc có thể ngắt nhịp cụ thể như sau:
Có / một người lính Đi vào / núi xanh Những năm / máu lửa. Một ngày / hoà bình Anh / không về nữa. Nhịp nền 2/2 khiến bài thơ mang giọng điệu đồng dao. Những biến tấu rất tự nhiên ghi lại chân thực cảm xúc riêng của nhà thơ và truyền được đến độc giả cảm xúc đó. Nhịp 1/3 ở
dòng một đã tách riêng động từ chỉ sự tồn tại có, khắc sâu ấn tượng về sự hiện diện của người lính, đối lập với dòng thơ thứ năm cũng có nhịp 1/3 nhấn mạnh sự không về của anh. Thế tương phản có - không nói lên sự mất mát, gợi cảm xúc tiếc thương, bùi ngùi.
Câu hỏi 3
GV có thể gợi ý bằng cách yêu cầu HS tìm những sự việc chính được tác giả đề cập đến trong bài thơ, dùng lời của mình để kể lại. Để giúp HS tóm tắt những sự việc chính, GV có thể gợi ý các em điền vào ô trống trong sơ đồ trên phiếu học tập rồi trình bày.
Sự việc 1 Sự việc 2 ...
GV cũng có thể đưa ra hệ thống sự việc đã được đảo trật tự, sau đó yêu cầu HS sắp xếp lại theo trật tự đúng. - Gợi ý trả lời: Có một người lính tuổi đời còn rất trẻ, còn mê thả diều như vừa qua tuổi thiếu niên. Theo tiếng gọi của Tổ quốc, anh lên đường ra mặt trận. Trong một trận chiến ác liệt, anh đã anh dũng hi sinh, vĩnh viễn nằm lại dưới những cánh rừng đại ngàn. Những hình ảnh hào hùng mà cũng rất đỗi khiêm nhường, dung dị của anh còn mãi trong tâm trí "nhân gian".
Câu hỏi 4
Câu hỏi này có hai yêu cầu nhận biết và suy luận. - Thứ nhất, HS tìm những chi tiết được nhà thơ sử dụng để khắc hoạ hình ảnh người lính. GV hướng dẫn HS làm việc cá nhân hoặc theo nhóm. GV có thể gợi ý HS vẽ sơ đồ tư duy để ghi lại những chi tiết miêu tả người lính, rồi dựa vào sơ đồ và trình bày.
Anh ngồi lặng lẽ Dưới cậy mai vàng Anh ngồi rực rỡ Màu hoa đại ngàn Mắt như suối biếc Vai đầy núi non... Hình ảnh người lính Ba lô con cóc Tấm áo màu xanh Làn d
Anh ngồi lặng lẽ
Dưới cậy mai vàng
Anh ngồi rực rỡ
Màu hoa đại ngàn
Mắt như suối biếc
Vai đầy núi non...
Hình ảnh người lính
Ba lô con cóc
Tấm áo màu xanh
Làn da sốt rét
Cái cười hiền lành
– Thứ hai, từ những chi tiết vừa tìm được, HS suy luận về đặc điểm người lính. GV yêu cầu HS giải thích vì sao em lại có nhận xét đó.
GV có thể thiết kế phiếu học tập và cho HS làm việc nhóm, cùng nhau thảo luận để rút ra nhận xét chung. Sau đó, GV có thể sử dụng kĩ thuật bể cá, cho một nhóm HS thảo luận, trình bày. Cả lớp quan sát, theo dõi xung quanh và có thể nêu ý kiến nhận xét. Gợi ý sơ đồ tư duy có thể vẽ trên phiếu học tập cho câu hỏi này để HS điền vào ô trống:
Tuổi đời còn rất trẻ
Dũng cảm, kiên cường
Chi tiết miêu tả
Những đặc điểm của người lính
Yêu nước
Giản dị, khiêm nhường, hiền hậu
...
Câu hỏi 5
– Đây là câu hỏi khuyến khích HS nêu cảm nhận riêng, từ đó phát triển năng lực cảm nhận thơ của mỗi cá nhân. Mục đích của câu hỏi này hướng HS tìm hiểu tình cảm, cảm xúc của đồng đội, của nhân dân dành cho những người lính đã hi sinh. GV hướng dẫn HS tìm những câu thơ được nhà thơ sử dụng để bày tỏ tình cảm, cảm xúc. Từ đó, GV yêu cầu HS xác định tình cảm, cảm xúc chứa đựng trong đó.
Bạn bè mang theo: Dòng thơ này nói lên tình cảm của đồng đội dành cho người lính trẻ đã hi sinh. Hình ảnh anh sẽ được bạn bè thương nhớ, lưu giữ, mang theo suốt
Bạn bè mang theo: Dòng thơ này nói lên tình cảm của đồng đội dành cho người lính trẻ đã hi sinh. Hình ảnh anh sẽ được bạn bè thương nhớ, lưu giữ, mang theo suốt cuộc đời. Sự hi sinh của anh đã tiếp thêm cho đồng đội sức mạnh, niềm tin trong những trận chiến tiếp theo.
Dài bao thương nhớ/ Mùa xuân nhân gian: Hai dòng thơ này có thể hiểu theo nhiều cách. Thứ nhất, có thể hiểu đây là nỗi thương nhớ những mùa xuân nhân gian tươi đẹp của người lính đã hi sinh. Thứ hai, cũng có thể hiểu là nỗi nhớ thương những người con anh dũng dài theo năm tháng của nhân gian.
Tình cảm, cảm xúc của nhà thơ được thể hiện trong toàn bộ bài thơ. Đó là niềm thương xót, tự hào, cảm phục, biết ơn những người lính đã hi sinh tuổi xanh, hi sinh cuộc đời cho độc lập dân tộc.
Câu hỏi 6
Câu hỏi 6 tương đối khó nên GV có thể tuỳ vào đối tượng HS mà nêu ra những câu hỏi
gợi ý. Chẳng hạn như: Em hiểu thế nào là đồng dao? Đồng dao có đặc điểm gì nổi bật về thể thơ? Hình ảnh mùa xuân có ý nghĩa gì?… Từ đó, dẫn dắt HS đi đến câu trả lời.
Đồng dao: 1) Là thơ ca dân gian truyền miệng dành cho trẻ em. Đồng dao bao gồm nhiều loại: lời hát trong các trò chơi, bài hát ru em,... Thường gặp nhất là các bài đồng dao gắn với những trò chơi trẻ em. 2) Đồng dao có tính hồn nhiên. Sau này, đồng dao còn được dùng như một khái niệm trừu tượng hơn, gắn với những điều bí ẩn trong cuộc sống mà chỉ có tâm hồn thơ trẻ mới cảm nhận được. 3) Đồng dao thường được làm theo thể bốn chữ, năm chữ.
Mùa xuân: 1) Mùa khởi đầu, tươi đẹp nhất trong một năm. 2) Tuổi trẻ, lứa tuổi đẹp nhất trong cuộc đời mỗi người, tràn đầy sức sống. 3) Vẻ đẹp, sức sống, sức vươn lên của dân tộc, đất nước. 4) Sự vĩnh cửu, trường tồn như mùa xuân của vũ trụ,…
Tên bài thơ Đồng dao mùa xuân có những ý nghĩa sau: khúc đồng dao về tuổi thanh xuân của người lính, về sự bất tử của hình ảnh người lính trẻ. Hình ảnh các anh còn sống mãi trong trái tim nhân dân như mùa xuân trường tồn cùng vũ trụ. Qua đó, nhà thơ ca ngợi những người anh hùng trẻ tuổi, bày tỏ sự ghi nhớ, biết ơn sự hi sinh của các anh. Tác giả sử dụng hình thức của đồng dao để lưu truyền mãi trong những thế hệ sau lời ngợi ca, lòng biết ơn những người lính trẻ đã dâng hiến mùa xuân cuộc đời mình kết thành những mùa xuân vĩnh cửu cho dân tộc, đất nước.
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
Bài tập yêu cầu HS viết đoạn văn nêu cảm nghĩ về hình ảnh người lính trong bài thơ. GV có thể gợi ý cho HS nhớ lại những nét đẹp của người lính được xác định ở câu 4 cũng như tình cảm của đồng đội, nhân dân dành cho anh được nêu ở câu 5. Trên cơ sở đó, HS xác định tình cảm, suy nghĩ của mình về hình ảnh người lính. GV có thể mời một số HS chia sẻ cảm nghĩ trước khi viết đoạn văn.
Chú ý độ dài của đoạn văn khoảng 5 - 7 câu.
Thực hành tiếng Việt (biện pháp tu từ, nghĩa của từ ngữ) BIỆN PHÁP TU TỪ, NGHĨA CỦA TỪ NGỮ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Qua phần Thực hành tiếng Việt, HS cần: –
Thực hành tiếng Việt (biện pháp tu từ, nghĩa của từ ngữ)
BIỆN PHÁP TU TỪ, NGHĨA CỦA TỪ NGỮ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Qua phần Thực hành tiếng Việt, HS cần:
– Nhận biết và nêu được tác dụng của biện pháp tu từ nói giảm nói tránh, biện pháp tu từ điệp ngữ.
– Xác định được nghĩa của một số từ ngữ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
Phần Thực hành tiếng Việt trong tiết học này có liên quan đến kiến thức mới là biện pháp tu từ nói giảm nói tránh. HS cần nhận biết biện pháp tu từ nói giảm nói tránh và nắm được những cách nói giảm nói tránh thông dụng.
– GV có thể tổ chức hoạt động hình thành kiến thức mới cho HS theo hướng quy nạp, yêu cầu HS nhận biết biện pháp tu từ nói giảm nói tránh qua các ví dụ được cung cấp trong khung Nhận biết bên phải trang sách. GV cũng cần giúp HS nắm được những cách nói giảm nói tránh thông dụng trên cơ sở phân tích ngữ liệu được cung cấp ở khung Nhận biết. GV có thể mở rộng, dùng thêm các ngữ liệu mới để giúp HS nắm vững hơn kiến thức trước khi thực hành. Cuối cùng, GV cho HS nhắc lại một số kiến thức cơ bản mà các em vừa tiếp thu được.
– GV cũng có thể tiến hành cho HS tiếp cận kiến thức mới theo hướng diễn dịch, nghĩa là xuất phát từ việc nắm được khái niệm biện pháp tu từ nói giảm nói tránh và những cách nói giảm nói tránh thông dụng rồi dùng ngữ liệu để minh hoạ cho lí thuyết. Tuy nhiên, hướng triển khai này có thể không sinh động bằng hướng quy nạp. GV tuỳ tình hình thực tế mà vận dụng cho phù hợp.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Ở hoạt động 2, GV có thể hướng dẫn HS làm việc cá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm để hoàn thành bài tập. Sau đó, GV yêu cầu cá nhân hoặc đại diện mỗi nhóm chia sẻ bài làm của mình. Các nhóm khác nhận xét, góp ý.
Bài tập 1
– GV gợi ý HS xác định biện pháp tu từ được dùng trong hai dòng thơ. Đó là nói giảm nói tránh. Biện pháp tu từ này thể hiện ở cụm từ không về được dùng với nghĩa “đã hi sinh”, “đã mất”.
– Ở những dòng thơ này, viết về sự hi sinh của người lính nhưng nhà thơ không dùng những từ trực tiếp nói về cái chết để tránh gây cảm giác đau buồn.
Bài tập 2 GV gợi ý HS tìm thêm một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm nói tránh được sử dụng ở các ngữ liệu khác, có thể là trong các VB văn học hoặc trong lờ
Bài tập 2
GV gợi ý HS tìm thêm một số ví dụ về biện pháp tu từ nói giảm nói tránh được sử dụng ở các ngữ liệu khác, có thể là trong các VB văn học hoặc trong lời nói hằng ngày.
GV cũng có thể gợi ý HS dựa vào những cách nói giảm nói tránh thông dụng được gợi ý ở khung Nhận biết để tự tạo các ví dụ mới.
Bài tập 3
Bài tập 3 yêu cầu HS xác định biện pháp tu từ trong những câu văn trích từ VB Bài học đường đời đầu tiên (trích Dế Mèn phiêu lưu kí) mà các em đã học ở lớp 6 và nêu tác dụng. GV có thể gợi ý cho HS nhớ lại ngữ cảnh của câu văn, xác định cụm từ có sử dụng biện pháp tu từ nói giảm nói tránh rồi nêu tác dụng.
Trong câu thứ nhất (lời của Dế Choắt), cụm từ nhắm mắt được dùng để nói về cái chết. Việc dùng cụm từ đó có tác dụng giảm bớt cảm giác đau thương so với câu không dùng nói giảm nói tránh: "Nhưng trước khi chết, tôi khuyên anh…".
Trong câu thứ hai (lời của Dế Choắt), cụm từ nghèo sức được dùng để chỉ sự yếu ớt về thể chất (không có sức để đào một cái hang sâu, an toàn). Việc dùng cụm từ đó có tác dụng làm giảm sắc thái tiêu cực so với câu không dùng nói giảm nói tránh: "… nhưng em yếu ớt quá".
Bài tập 4
GV gợi ý HS tìm những từ ngữ được lặp lại trong toàn bài thơ và suy nghĩ về tác dụng của biện pháp tu từ điệp ngữ. Lưu ý, kiến thức về biện pháp tu từ này HS đã học ở tiểu học. Ở lớp 6, các em đã có cơ hội được ôn lại qua một số bài tập thực hành. Với bài tập này, HS cũng được ôn lại kiến thức cũ theo cách đó.
Gợi ý: + Mở đầu khổ một là dòng thơ Có một người lính. Dòng thơ này tiếp tục xuất hiện ở đầu khổ ba. Biện pháp tu từ điệp ngữ như một lời nhắc nhở người đọc luôn nhớ về anh - một người con từng sống, chiến đấu và đã anh dũng hi sinh. Sự lặp lại dòng thơ Có một người lính tạo ra một thế đối lập với dòng thơ Anh không về nữa khiến người đọc cảm nhận thấm thía hơn những mất mát lớn lao.
Anh không về nữa và anh ngồi (Anh ngồi lặng lẽ, Anh ngồi rực rỡ) được lặp lại hai lần. Điệp ngữ Anh không về nữa đã khắc hoạ trong lòng người đọc về sự ra đi của người lính trẻ, nhấn mạnh nỗi ngậm ngùi, thương tiếc của nhân dân, đồng đội và của nhà thơ dành cho người lính. Việc lặp lại cụm từ anh ngồi khiến hình tượng người lính hiện lên như một bức tượng giữa rừng núi Trường Sơn hùng vĩ. Chiến công, sự hi sinh vì dân, vì nước của người chiến sĩ mãi được ghi tạc trong trái tim mỗi người dân như một tượng đài bất diệt.
Bài tập 5
Gợi ý: Cụm từ núi xanh trong khổ thơ có nghĩa là chiến trường, nơi diễn ra những trận chiến ác liệt. Cụm từ máu lửa được nhà thơ dùng với nghĩa chỉ những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
VĂN BẢN 2. GẶP LÁ CƠM NẾP (Thanh Thảo) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết và nhận xét được những đặc điểm của bài thơ năm chữ thể hiện qua: vần, nhịp,
VĂN BẢN 2. GẶP LÁ CƠM NẾP
(Thanh Thảo)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết và nhận xét được những đặc điểm của bài thơ năm chữ thể hiện qua: vần, nhịp, yếu tố tự sự, yếu tố miêu tả, biện pháp tu từ,...
– HS phân tích, suy luận được những nội dung ý nghĩa của bài thơ: tình cảm gia đình gắn với tình yêu quê hương, đất nước.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Hoạt động khởi động nhằm mục đích huy động hiểu biết, trải nghiệm đã có của HS để kết nối với thể loại và chủ đề của VB đọc. Tuỳ theo đối tượng HS, GV có thể dựa trên gợi ý trong SHS hoặc linh hoạt, sáng tạo tổ chức các hoạt động phù hợp.
Trong SHS, ở bài học này, phần Trước khi đọc gồm hai yêu cầu:
– Thứ nhất, HS huy động hiểu biết, trải nghiệm đã có về những bài thơ năm chữ đã học ở lớp 6. GV có thể yêu cầu một HS kể tên bài thơ năm chữ rồi yêu cầu một HS khác nhận xét. Trong số năm bài thơ được nêu tên, chỉ có Chuyện cổ tích về loài người của Xuân Quỳnh và Bắt nạt của Nguyễn Thế Hoàng Linh thuộc thể thơ năm chữ.
– Yêu cầu 2 huy động trải nghiệm của HS về xôi – một trong những món ăn quen thuộc của người Việt, được nhà thơ nhắc tới như là một chất xúc tác khơi gợi cảm hứng sáng tác
bài thơ. GV có thể dẫn dắt bằng cách hỏi HS đã được thưởng thức món ăn đó chưa. Nếu HS được thưởng thức rồi thì yêu cầu HS chia sẻ cảm nhận về hương vị của món
bài thơ. GV có thể dẫn dắt bằng cách hỏi HS đã được thưởng thức món ăn đó chưa. Nếu HS được thưởng thức rồi thì yêu cầu HS chia sẻ cảm nhận về hương vị của món ăn đó. GV cũng có thể trình chiếu hình ảnh món xôi nếp và lá cây cơm nếp lên màn hình, sau đó yêu cầu HS trao đổi về những gì các em biết về các sự vật được thể hiện trong hình, chú ý khơi gợi để các em nói được những nội dung có thể kết nối với VB đọc.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV nên hướng dẫn HS cách đọc, nhất là ngữ điệu, chú ý những câu cần đọc với ngữ điệu đặc biệt.
Ví dụ: Khi đọc dòng thơ Ôi mùi vị quê hương, GV lưu ý HS ngắt nhịp 1/4, nhấn mạnh vào thán từ Ôi để biểu đạt cảm xúc của nhà thơ dành cho quê hương và người mẹ. - GV đọc mẫu, sau đó nêu và giải thích yêu cầu của việc đọc (giọng đọc, âm lượng, tốc độ). GV yêu cầu một vài HS đọc bài thơ một lượt, nhận xét, điều chỉnh cách đọc, giọng đọc,… - Trong quá trình đọc, GV nhắc HS chú ý các chỉ dẫn theo dõi và hình dung được nêu ở bên phải VB. Những thẻ chỉ dẫn này giống như tín hiệu hướng dẫn HS những điểm cần theo dõi về hình thức bài thơ (số tiếng trong mỗi dòng, vần, nhịp), nội dung bài thơ (tình cảm của người con dành cho mẹ và quê hương); hình dung hình ảnh người mẹ trong kí ức người con. Những hoạt động này giúp HS thực hiện tốt hơn phần trả lời câu hỏi sau khi đọc.
Xa nhà / đã mấy năm Thèm bát xôi / mùa gặt Khói bay ngang / tầm mắt Mùi xôi / sao lạ lùng. Mẹ ở đâu / chiều nay Nhặt lá / về đun bếp Phải / mẹ thổi cơm nếp Mà thơm / suốt đường con. Ôi / mùi vị quê hương Con quên / làm sao được Mẹ già / và đất nước Chia đều / nỗi nhớ thương. Cây nhỏ / rừng Trường Sơn Hiểu lòng / nên thơm mãi…
Hoạt động 3 Khám phá văn bản Hệ thống câu hỏi sau khi đọc nhằm gợi ý cho GV hướng dẫn HS tìm hiểu những phương diện, yếu tố cơ bản về hình thức và nội dung bài
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Hệ thống câu hỏi sau khi đọc nhằm gợi ý cho GV hướng dẫn HS tìm hiểu những phương diện, yếu tố cơ bản về hình thức và nội dung bài thơ. GV có thể chủ động, linh hoạt sử dụng hệ thống câu hỏi này như tách, ghép, đặt thêm câu hỏi dẫn dắt, gợi ý,... phù hợp với đối tượng HS. Dựa trên hệ thống câu hỏi này, GV tổ chức các hoạt động học tập sinh động để HS thực hiện việc tiếp cận bài thơ. GV lưu ý 5 câu hỏi trong SHS thuộc 3 nhóm: nhóm nhận biết (câu 1) giúp HS đọc hiểu những yếu tố hình thức của bài thơ; nhóm phân tích, suy luận (câu 2, 3, 4) hướng tới cảm nhận giá trị nội dung và nhóm đánh giá, vận dụng (câu 5) đặt ra yêu cầu HS biết đánh giá tác dụng của thể thơ năm chữ trong việc thể hiện cảm xúc của nhà thơ.
Hoạt động Khám phá văn bản có thể được cấu trúc thành các nội dung: 1. Đặc điểm về cách gieo vần, ngắt nhịp, khổ, thể thơ của bài thơ (câu 1, 5); 2. Hình ảnh người mẹ trong kí ức của người con (câu 2); 3. Hình ảnh người lính (câu 3, 4).
Câu hỏi 1
– Câu hỏi 1 yêu cầu so sánh bài thơ Gặp lá cơm nếp (thuộc thể thơ năm chữ) với bài Đồng dao mùa xuân (thuộc thể thơ bốn chữ) về số tiếng trong một dòng, cách gieo vần, ngắt nhịp và chia khổ. Việc so sánh này sẽ làm nổi bật những khác biệt giữa thể thơ năm chữ và thể thơ bốn chữ. GV có thể trình chiếu bảng so sánh, rồi yêu cầu HS điền nội dung phù hợp vào bảng.
– Gợi ý:
Đồng dao mùa xuân, Gặp lá cơm nếp
Số tiếng trong mỗi dòng thơ, 4 tiếng/ dòng, 5 tiếng/ dòng
Cách gieo vần, Chân, Chân
Ngắt nhịp, Linh hoạt, biến tấu trên nền nhịp 2/2, Linh hoạt, biến tấu trên nền nhịp 2/3
Chia khổ, 9 khổ, trong đó có 2 khổ đặc biệt, 4 khổ, trong đó có 1 khổ đặc biệt
Câu hỏi 2
– Để trả lời câu hỏi này, GV có thể tổ chức cho HS làm việc cá nhân hoặc làm việc nhóm, sau đó yêu cầu nhóm cử đại diện trình bày, chia sẻ kết quả hoạt động. GV gợi ý HS chú ý những từ xưng hô được dùng trong bài.
– Đây là câu hỏi yêu cầu nhận xét những yếu tố quan trọng của thơ trữ tình: người bộc lộ cảm xúc (chủ thể trữ tình/ nhân vật trữ tình) và đối tượng cảm xúc. Trong bài thơ này, người đọc có thể nhận thấy người bộc lộ cảm xúc là một người con, cũng là một anh bộ đội. Đối tượng anh thể hiện tình cảm là người mẹ của anh nơi quê nhà.
Đối với yêu cầu 1: + GV gợi ý cho HS xác định hoàn cảnh người con thổ lộ tâm tư tình cảm: Trên đường hành quân ra mặt trận, anh gặp lá cơm nếp - một loài cây nh
Đối với yêu cầu 1: + GV gợi ý cho HS xác định hoàn cảnh người con thổ lộ tâm tư tình cảm: Trên đường hành quân ra mặt trận, anh gặp lá cơm nếp - một loài cây nhỏ, mọc hoang, có hương thơm giống cơm nếp nên được đặt tên là lá cơm nếp. Chính hương vị của lá cơm nếp đã gợi cho anh nhớ làn khói xôi bay ngang tầm mắt, thèm bát xôi mùa gặt có hương thơm lạ lùng, từ đó nhớ đến hình ảnh thân thương của người mẹ bên bếp lửa đang nấu xôi. + GV dẫn dắt HS nêu nhận xét: Đây là một hoàn cảnh đặc biệt mà người lính trải qua trong những năm chiến tranh. Thông qua hoàn cảnh đó, người đọc nhận thấy ở anh sự tinh tế trong cảm nhận thiên nhiên, thế giới tình cảm phong phú và ý thức trách nhiệm lớn lao với gia đình, quê hương, đất nước.
Đối với yêu cầu 2: + GV gợi ý HS tìm những dòng thơ kể về người mẹ trong kí ức người con.
Từ những dòng thơ kể về mẹ, HS nhận xét về hình ảnh mẹ trong kí ức của con. GV có thể thiết kế phiếu học tập để HS thực hiện yêu cầu này theo gợi ý sau:
Những dòng thơ kể về mẹ, Hình ảnh người mẹ trong kí ức người con
Mẹ ở đâu chiều nay Nhặt lá về đun bếp Phải mẹ thổi cơm nếp, - Mẹ là người tần tảo, chăm lo cuộc sống gia đình. - Mẹ rất yêu thương các con. - Mẹ rất giản dị, mộc mạc, chất phác.
GV cần phân tích kĩ hơn để giúp HS cảm nhận được sâu sắc vẻ đẹp của người mẹ qua vài nét phác hoạ đơn giản của nhà thơ. Trong kí ức của người con có bát xôi mùa gặt, có cả mùi cơm nếp nơi góc bếp nhỏ của mẹ, vì vậy, GV cần giúp HS phân biệt xôi và cơm nếp để từ đó hình dung ra không gian quê hương, cũng như hình ảnh người mẹ. Hai món này cùng sử dụng một loại nguyên liệu là gạo nếp nhưng khác nhau ở cách nấu, mục đích nấu... Trước đây, xôi được đồ hoặc nấu rất cầu kì nên thường chỉ được làm vào dịp lễ, Tết hoặc giỗ chạp. Hình ảnh bát xôi mùa gặt gợi kí ức về mùa màng quê hương - dịp lễ hội lên đồng (sau mùa gặt) hoặc còn gọi là tết cơm mới. Những dịp này các nhà thường nấu xôi, làm lễ tạ ơn trời đất đã cho mùa màng bội thu, ăn mừng mùa lúa, mùa gặt vừa qua. Còn cơm nếp có thể nấu trong ngày thường khi mẹ muốn chiều con, chăm con. Tuy nhiên, những gia đình nghèo cũng phải chắt chiu lắm mới có gạo nếp để nấu. Nấu cơm nếp ngon khó hơn nấu cơm tẻ rất nhiều. Người mẹ trong bài thơ, có thể do quê nghèo, do mùa vụ, hoặc phải tiết kiệm nên không có rơm hay củi để đun nấu. Mẹ phải đi nhặt lá về đun bếp nên việc nấu còn khó gấp bội. Người lính trong bài thơ nhớ hình ảnh mẹ thổi cơm nếp chính là nhớ tới hình ảnh
người mẹ nghèo thương con, tần tảo chắt chiu, lụi cụi nấu nồi cơm, vùi xuống lớp tro, ủ cho cơm chín lên hương trong góc bếp nhỏ. Từ đây, GV có thể khơi sâu thê
người mẹ nghèo thương con, tần tảo chắt chiu, lụi cụi nấu nồi cơm, vùi xuống lớp tro, ủ cho cơm chín lên hương trong góc bếp nhỏ. Từ đây, GV có thể khơi sâu thêm về hình ảnh người con. Anh rất yêu thương mẹ, thấu hiểu nỗi vất vả và tình cảm mà mẹ dành cho mình. Trong nỗi nhớ người con dành cho mẹ của mình, người đọc cảm nhận được cả nỗi xót xa vì anh đi xa, không thể đỡ đần, sẻ chia nỗi vất vả, nhọc nhằn cùng mẹ.
Câu hỏi 3
GV yêu cầu HS đọc lại khổ thơ thứ ba, chú ý những cụm từ có cách kết hợp đặc biệt như mùi vị quê hương, chia đều nỗi nhớ thương, từ đó kết nối, suy luận tìm ra câu trả lời. - Gợi ý trả lời: Trong khổ thơ thứ ba: Ôi mùi vị quê hương/ Con quên làm sao được/ Mẹ già và đất nước/ Chia đều nỗi nhớ thương, người con nhắc đến mẹ già và đất nước, đồng thời khẳng định chia đều nỗi nhớ thương cho cả người mẹ và đất nước. Tình thương nỗi nhớ ấy
cùng trào dâng trong tâm hồn người con khi gặp lá cơm nếp bởi vì anh đang trên đường hành quân, xa quê hương, gia đình, hương vị lá cơm nếp khiến người con nhớ đến món cơm nếp mà người mẹ đã nấu. Hương vị của món ăn dân dã, bình dị đó được anh xem như là biểu tượng của quê hương - mùi vị quê hương. Và như thế, người mẹ và quê hương, đất nước gắn bó trong một mối quan hệ mật thiết. Tình yêu gia đình hoà với tình yêu quê hương, đất nước. Trong trái tim người lính, hình ảnh quê hương, đất nước hiện lên chân thật, gần gũi, gắn với hình bóng lam lũ, tần tảo mà tha thiết yêu thương của mẹ. Khổ thơ đã chạm đến chiều sâu cảm xúc, thể hiện cái nhìn đầy thương cảm với đất nước mình.
Câu hỏi 4
Đây là câu hỏi yêu cầu HS suy luận từ VB đọc. GV có thể tổ chức cho HS làm việc nhóm, vẽ sơ đồ. Mỗi HS ghi cảm nhận của mình vào một góc sơ đồ, sau đó tổng hợp lại rồi cử đại diện nhóm trình bày.
Gợi ý sơ đồ:
Yêu quê hương, đất nước
Cảm nhận về hình ảnh người con trong bài thơ
Tâm hồn nhạy cảm Yêu gia đình
VĂN BẢN 3. TRỞ GIÓ (Nguyễn Ngọc Tư) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ VB, cụ thể: lời văn
VĂN BẢN 3. TRỞ GIÓ
(Nguyễn Ngọc Tư)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ VB, cụ thể: lời văn giàu hình ảnh, nhạc điệu, cách sử dụng các biện pháp tu từ như điệp ngữ, so sánh, nhân hoá,...
– Thông qua việc phân tích tình cảm của người viết đối với gió chướng, HS cảm nhận được tình yêu, sự gắn bó của người viết đối với quê hương.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– VB 3 chỉ được dạy trong 1 tiết học, nên nhìn chung kiến thức mà GV đưa ra cũng cần nhẹ nhàng, không đặt ra yêu cầu làm rõ mã thể loại mà chỉ nhằm mục đích kết nối về chủ đề Khúc nhạc tâm hồn. Chính vì thế, với bài học này, để tạo không khí, GV có thể nêu một
số câu hỏi cho HS: Em đã đến tỉnh nào của miền Tây Nam Bộ chưa? Em đã bao giờ được trực tiếp đón gió chướng về hoặc được nghe nói đến gió chướng? Hoạt động 2 Đọ
số câu hỏi cho HS: Em đã đến tỉnh nào của miền Tây Nam Bộ chưa? Em đã bao giờ được trực tiếp đón gió chướng về hoặc được nghe nói đến gió chướng?
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS được yêu cầu đọc VB trước khi đến lớp. GV đọc mẫu một đoạn đầu, sau đó chỉ định một số HS đọc tiếp những phần còn lại. Lưu ý, chỉ nên để mỗi HS đọc một đoạn có độ dài vừa phải, không để HS nào phải đọc một đoạn quá dài; ngữ điệu đọc cần phù hợp với nội dung VB.
GV hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó được chú thích ở chân trang. HS đã được yêu cầu chuẩn bị bài ở nhà, tuy nhiên, ở lớp GV cần kiểm tra mức độ hiểu nghĩa từ ngữ khó của HS, ví dụ: mừng húm, gấp rãi, bấp bỏm, xà quần,…
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Một hoạt động rất quan trọng của việc khám phá VB là GV hướng dẫn HS đi vào tìm hiểu hệ thống câu hỏi Sau khi đọc trong SHS, trang 46 - 47 để thông qua đó khai thác các vấn đề nội dung và hình thức của VB.
Những câu hỏi này là những gợi ý, định hướng cần thiết cho việc tổ chức các hoạt động trong thiết kế bài dạy của GV. Tuỳ theo tình hình cụ thể, GV có thể đảo trật tự các câu hỏi hoặc tách, ghép các phần của các câu hỏi để tạo thành những câu hỏi mới.
Đây là một VB thuộc thể loại tản văn ghi lại cảm xúc, tình cảm của con người trước thiên nhiên, cuộc sống. Vì vậy, GV có thể cấu trúc hoạt động Khám phá văn bản thành hai ý lớn: 1. Hình ảnh gió chướng; 2. Tình cảm, cảm xúc của nhân vật "tôi" khi gió chướng về.
Để giúp HS tìm hiểu hình ảnh gió chướng, GV tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi số 1, 3. Để tìm hiểu tình cảm, cảm xúc của nhân vật "tôi", GV tổ chức cho HS trả lời các câu hỏi 2, 4, 5.
Câu hỏi 1
Câu hỏi này yêu cầu nhận biết những chi tiết, hình ảnh miêu tả gió chướng. GV hướng dẫn HS liệt kê các chi tiết, hình ảnh đó bằng những câu hỏi gợi ý: Âm thanh của gió được tác giả miêu tả thế nào? Tác giả đã sử dụng những từ ngữ, hình ảnh nào để làm nổi bật "tính cách","tâm trạng", "cảm xúc" của gió chướng?
GV gợi ý và phân tích thêm: Nhà văn đã sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá để miêu tả gió chướng, làm cho gió chướng hiện lên sống động, giống như con người: hơi thở gió rất gần; âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tinh tang, thoảng và e dè, như ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần không biết người xưa có còn nhớ ta không; mừng húm; hừng hực, dạt dào; cồn cào; nồng nhiệt; dịu dàng;…
Câu hỏi 2
Mục đích của câu hỏi này là hướng HS đến việc cảm nhận tâm trạng của nhân vật "tôi" khi đón gió chướng về.
Đầu tiên, GV đặt câu hỏi gợi ý cho HS: Em hãy chỉ ra những biểu hiện của tâm trạng "lộn xộn, ngổn ngang" của nhân vật "tôi" khi đón gió chướng về. GV định hướng
Đầu tiên, GV đặt câu hỏi gợi ý cho HS: Em hãy chỉ ra những biểu hiện của tâm trạng "lộn xộn, ngổn ngang" của nhân vật "tôi" khi đón gió chướng về. GV định hướng trả lời: Tâm trạng "lộn xộn, ngổn ngang" của nhân vật "tôi" biểu hiện: mừng đó rồi bực đó, chờ đợi gió về nhưng khi gió về lại buồn vì gió về có nghĩa là sắp hết năm, sắp già thêm một tuổi, mỗi lần gió về lại cảm giác mình mất một cái gì đó không rõ ràng, không giải thích được,…
Sau khi HS đã chỉ ra được những biểu hiện của tâm trạng "lộn xộn, ngổn ngang" đó, GV có thể tiếp tục hỏi: Lí do nào khiến nhân vật "tôi" luôn mong ngóng, chờ đợi gió chướng? GV định hướng trả lời: Nhân vật "tôi" luôn mong ngóng, chờ đợi vì với nhân vật "tôi", gió chướng là gió Tết và mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch. Không chỉ vậy, gió chướng đối với tác giả còn gợi nhắc đến quê hương, gắn liền với quê hương.
Câu hỏi 3
Giải quyết yêu cầu của câu hỏi này, HS sẽ chỉ ra được lí do vì sao tác giả khẳng định: Mùa gió chướng cũng là mùa thu hoạch. - GV dành thời gian cho HS tự tìm hiểu các chi tiết trong VB sau đó gọi một số HS trình bày. HS cần chỉ ra được những chi tiết tác giả miêu tả mùa màng bội thu, cây trái sum sê quả ngọt khi gió chướng về: gió chướng vào mùa thì lúa cũng vừa chín tới; liếpmía đợi gió mới chịu già, nước ngọt và trĩu; vú sữa chín cây lúc lỉu, căng bóng;… - GV thâu tóm các ý kiến và thống nhất: Khi gió chướng về, con người đón nhận rất nhiều niềm vui và đó chính là lí do vì sao người viết lại mong ngóng, chờ đợi gió chướng nhiều đến thế.
Câu hỏi 4
Mục đích của câu hỏi 4 là kiểm tra khả năng phân tích, suy luận của HS, giúp HS nhận ra tình cảm của tác giả ẩn chứa đằng sau câu hỏi: Ở đó, siêu thị chất đầy những dưa hấu, dưa kiệu, dưa hành, bánh chưng, bánh tét, liệu ở đó, có ai bán một mùa gió cho tôi?. Để trả lời câu hỏi này, GV có thể gợi ý HS bằng những câu hỏi nhỏ: Khi đi xa, tác giả thấy trong siêu thị có những gì? Khi nhìn thấy ở siêu thị chất đầy những món ăn đó, tác giả vẫn cảm thấy thiếu điều gì? Qua câu hỏi "có ai bán một mùa gió cho tôi?", em cảm nhận được tình cảm gì của tác giả? - GV gợi ý và phân tích thêm: Khi đi xa, tác giả vẫn thấy trong siêu thị chất đầy những dưa hấu, dưa kiệu, dưa hành, bánh chưng, bánh tét,… Đó là những món ăn truyền thống. Thế nhưng, tác giả vẫn thấy thiếu mùa gió chướng, thiếu gió chướng tức là thiếu hương vị quê hương xứ sở. - HS có thể có nhiều phương án trả lời. GV khuyến khích HS chia sẻ những cảm nhận của mình trong nhóm hoặc trước lớp. Từ câu trả lời của HS, GV có thể khái quát lên: Câu hỏi cuối tác phẩm đã thể hiện nỗi nhớ da diết của tác giả với gió chướng và cũng chính là nỗi nhớ quê hương mỗi khi đi xa.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT NGHĨA CỦA TỪ NGỮ, BIỆN PHÁP TU TỪ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS ôn tập, củng cố kiến thức đã học về biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh, đi
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
NGHĨA CỦA TỪ NGỮ, BIỆN PHÁP TU TỪ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS ôn tập, củng cố kiến thức đã học về biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh, điệp ngữ.
HS xác định được nghĩa của một số từ ngữ được sử dụng trong bài thơ Gặp lá cơm nếp.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Củng cố kiến thức đã học
GV cho HS tìm hiểu nghĩa của từ ngữ; ôn lại kiến thức về biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh, điệp ngữ. Để giúp HS ôn lại kiến thức về các biện pháp tu từ này, GV có thể yêu cầu các em thực hiện theo một trong hai cách sau:
Thứ nhất, GV yêu cầu HS nhắc lại khái niệm biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh, điệp ngữ và nêu ví dụ.
Thứ hai, GV nêu một số ví dụ, sau đó yêu cầu HS xác định ví dụ nào có sử dụng biện pháp tu từ nhân hoá, so sánh, điệp ngữ.
Ngoài ra, GV cũng có thể cho HS thực hành làm bài tập để các em chủ động nhớ lại kiến thức đã học. Sau khi HS hoàn thành bài tập rồi thì GV mới cho các em củng
Ngoài ra, GV cũng có thể cho HS thực hành làm bài tập để các em chủ động nhớ lại kiến thức đã học. Sau khi HS hoàn thành bài tập rồi thì GV mới cho các em củng cố kiến thức lí thuyết. Cách làm này chỉ nên áp dụng nếu HS có khả năng nắm vững được kiến thức đã học từ những lớp học trước.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Để hoạt động luyện tập, vận dụng trên lớp đạt kết quả tốt, GV yêu cầu HS chuẩn bị bài ở nhà.
Bài tập 1
Để tìm ra cái hay của cách dùng từ gặp trong nhan đề bài thơ Gặp lá cơm nếp, GV hướng dẫn HS tìm những từ có thể thay thế từ gặp trong nhan đề, phân tích ý nghĩa của từng từ. Từ đó tìm ra cái hay của từ mà tác giả đã dùng.
Nếu HS không tìm được, GV gợi ý từ có thể thay thế từ gặp như thấy, sau đó yêu cầu
HS phân tích sự khác nhau giữa thấy và gặp. Thấy có nghĩa là nhận biết được bằng mắt nhìn. Gặp có nghĩa là giáp mặt, tiếp xúc với nhau. Tác giả dùng từ gặp để thể hiện tình cảm, thái độ của người lính đối với lá cây cơm nếp. Anh không đơn thuần trông thấy một vật vô tri vô giác mà như được tiếp xúc với một con người - một người bạn cũ. Trong từ gặp mà tác giả dùng có chứa đựng cả cảm xúc vui mừng, trìu mến.
Bài tập 2
Để giải quyết bài tập 2, GV yêu cầu HS nêu nghĩa phổ biến của từ thơm mà các em vẫn thường dùng trong giao tiếp hằng ngày, sau đó tìm nghĩa được nhà thơ sử dụng trong dòng cuối của khổ thơ.
Gợi ý trả lời: Trong Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê Chủ biên), thơm có nghĩa là có mùi như hương của hoa, dễ chịu, làm cho thích ngửi. Trong dòng cuối của khổ thơ, từ thơm không còn đơn thuần chỉ mùi hương dễ chịu - đối tượng cảm nhận của khứu giác nữa - mà đã trở thành một biểu tượng cho hương vị quê nhà, tình cảm gia đình trìu mến, thân thương theo mỗi bước chân của người lính.
Bài tập 3
GV yêu cầu HS xác định nghĩa của từ mùi vị trong các cụm từ mùi vị thức ăn, mùi vị trái chín, mùi vị của nước giải khát,… Sau đó so sánh với nghĩa của từ mùi vị trong cụm từ mùi vị quê hương.
Gợi ý trả lời: Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê Chủ biên), mùi có nhiều nghĩa. Nghĩa gắn với các cụm từ trên là danh từ chỉ hơi toả ra từ vật, có thể nhận biết được bằng mũi. Vị cũng là một danh từ chỉ thuộc tính của sự vật, có thể nhận biết bằng lưỡi. Mùi vị trong những cụm từ mùi vị thức ăn, mùi vị trái chín, mùi vị của nước giải khát,… đều có nghĩa trên. Trong cụm từ mùi vị quê hương, từ mùi vị vừa mang nghĩa chỉ hương vị cụ thể, riêng có của quê nhà, vừa mang nghĩa trừu tượng, chỉ một sắc thái đặc trưng của quê hương, của một vùng miền.
Bài tập 4 Bài tập này cũng hướng tới mục đích giúp HS nhận biết được nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh cụ thể. GV có thể gợi ý HS tìm những cụm từ có chia đều như
Bài tập 4
Bài tập này cũng hướng tới mục đích giúp HS nhận biết được nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh cụ thể. GV có thể gợi ý HS tìm những cụm từ có chia đều như chia đều kẹo, bánh; chia đều thức ăn; chia đều sách vở;… rồi nhận xét đặc điểm của những cụm từ đó. Bổ ngữ trong các cụm từ này đều là danh từ chỉ các sự vật cụ thể. Nhà thơ Thanh Thảo lại kết hợp chia đều với một cụm từ chỉ khái niệm trừu tượng là nỗi nhớ thương. - Cách sử dụng từ ngữ này khiến người đọc cảm nhận được nỗi nhớ thương một cách cụ thể, không còn là khái niệm trừu tượng, vô hình, không thể nắm bắt bằng giác quan, không thể đong đếm được. Cách kết hợp từ ngữ đặc biệt giúp nhà thơ diễn tả được chiều sâu tâm tư, tình cảm của người lính trên đường ra mặt trận. Họ ra đi vì mục đích lớn lao nhưng trong lòng vẫn đau đáu một nỗi nhớ thương hướng về nơi "giếng nước", "gốc đa" quê nhà. Trong Khúc Bảy - Chương 1: Chiếc áo ngắn, trường ca Những người đi tới biển, Thanh Thảo từng viết rất xúc động về nỗi day dứt riêng chung ấy: Chúng tôi đã đi không tiếc đời mình/
(Nhưng tuổi hai mươi làm sao không tiếc)/ Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc...
Bài tập 5
Bài tập 5 tiếp tục hướng đến mục đích củng cố cho HS cách nhận diện các biện pháp tu từ và chỉ ra tác dụng của chúng. Cụ thể trong bài tập này, GV yêu cầu HS nhận diện được biện pháp tu từ điệp ngữ, nhân hoá và so sánh, đồng thời nêu được tác dụng của ba biện pháp tu từ này trong việc tạo nghĩa của câu văn cũng như gợi cảm xúc cho người đọc.
a. - GV cho HS nhận diện biện pháp tu từ điệp ngữ bằng cách chỉ ra các từ ngữ được lặp lại: không và gấp rãi. - GV yêu cầu HS chỉ ra việc lặp lại các từ ngữ đó nhằm nhấn mạnh ý nghĩa gì, gợi cảm xúc, ấn tượng gì. Gợi ý câu trả lời: Từ không được lặp lại để nhấn mạnh cảm xúc buồn, nuối tiếc vì mất mát một cái gì đó - một thứ rất mơ hồ, khó gọi thành tên. Từ gấp rãi được lặp lại để nhấn mạnh hành động khẩn trương, gấp gáp của nhân vật "tôi" khi phải chứng kiến bước đi vội vã của thời gian.
b. - GV cho HS nhận diện biện pháp tu từ so sánh bằng cách chỉ ra vế A, vế B và từ so sánh trong câu văn. HS chỉ ra, vế A: âm thanh ấy sẽ sàng từng giọt tinh tang, thoảng và e dè, từ so sánh: như; vế B: ai đó đứng đằng xa ngoắc tay nhẹ một cái, như đang ngại ngần không biết người xưa có còn nhớ ta không. Sau đó, GV gợi ý để HS thấy được tác dụng của biện pháp tu từ so sánh trong việc giúp cho sự vật hiện lên sinh động, cụ thể, gợi hình, gợi cảm, làm nổi bật tính chất nhẹ nhàng, dịu êm, trong trẻo của thanh âm. - GV hướng dẫn HS xác định biện pháp tu từ nhân hoá bằng cách tìm các từ vốn để miêu tả con người, nay chuyển sang dùng để miêu tả gió chướng như e dè, ngại ngần,... Sau đó, GV yêu cầu HS nêu tác dụng: Biện pháp tu từ nhân hoá đã biến gió chướng thành một con người có tâm lí, tính cách có phần nhút nhát, rụt rè. Qua đó, người đọc cảm nhận được tình yêu của nhà văn đối với gió chướng.
A. TẬP LÀM MỘT BÀI THƠ BỐN CHỮ HOẶC NĂM CHỮ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS lựa chọn được đề tài phù hợp. – HS vận dụng những kiến thức về thể thơ để tập làm
A. TẬP LÀM MỘT BÀI THƠ BỐN CHỮ HOẶC NĂM CHỮ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS lựa chọn được đề tài phù hợp.
– HS vận dụng những kiến thức về thể thơ để tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với bài tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
– Đúng đặc trưng của thể thơ bốn chữ hoặc năm chữ.
– Nội dung phù hợp với lứa tuổi, thể hiện được những tình cảm hồn nhiên, chân thành.
– Ngôn ngữ dung dị, giàu hình ảnh, cảm xúc.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
– GV có thể sử dụng lời dẫn của phần Viết trong SHS để nêu mục đích của tiết học.
– GV có thể trình chiếu vi-đi-ô cờ-líp ngâm, đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ. GV cũng có thể yêu cầu HS đọc một bài thơ yêu thích hay đọc một bài thơ do em sáng tác (nếu có).
Hoạt động 2 Tìm hiểu yêu cầu đối với bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
GV tổ chức cho HS ôn lại một số đặc điểm của thơ bốn chữ, năm chữ trong Tri thức ngữ văn.
Hoạt động 3 Thực hành viết theo các bước
a. Trước khi viết
Xác định đề tài và cảm xúc
Làm thơ trữ tình là bày tỏ cảm xúc chủ quan của người làm thơ trước một đối tượng. Vì vậy, công việc đầu tiên khi làm một bài thơ là xác định đề tài (tức là trả lời câu hỏi Viết về
cái gì?) và cảm xúc của mình trước đối tượng đó. Phần tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ trong bài học này không giới hạn về đề tài nên GV có thể gợi ý HS
cái gì?) và cảm xúc của mình trước đối tượng đó. Phần tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ trong bài học này không giới hạn về đề tài nên GV có thể gợi ý HS chọn bất cứ đề tài nào mình yêu thích, phù hợp với lứa tuổi như nhà trường, gia đình, thiên nhiên, quê hương, đất nước,… và ghi lại cảm xúc về đối tượng được nói đến. Đó có thể là yêu mến, xúc động, lưu luyến, bâng khuâng, nhớ nhung, biết ơn, tự hào,…
Tìm hình ảnh để biểu đạt cảm xúc
Sau khi HS tìm được đề tài, GV cần gợi ý các em tìm hình ảnh thuộc đề tài đó để thể hiện cảm xúc. Hãy chọn một hình ảnh để lại trong em ấn tượng sâu sắc hoặc xúc động nhất. Hình ảnh nên mới lạ, độc đáo để tránh sáo mòn. - Tiếp theo, GV hướng dẫn HS liên tưởng, tưởng tượng, kết nối sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với nhau, với con người để mạch cảm xúc, ý tưởng được thể hiện và phát triển một cách tự nhiên. GV có thể gợi ý cho HS một số hướng triển khai như gợi ý trong
SHS hoặc khuyến khích các em tự tìm ra hướng, rồi chia sẻ trước lớp. - GV đặt câu hỏi để HS suy ngẫm xem mình có cảm xúc gì về sự vật, hiện tượng, yêu cầu HS tìm từ ngữ để diễn đạt cảm xúc của mình trước sự vật, hiện tượng đó,…
Tập gieo vần
GV hướng dẫn HS chọn thể thơ bốn chữ hoặc năm chữ và tìm vần thích hợp. Để giúp HS tìm tiếng chứa vần thích hợp, GV có thể gợi ý HS lưu tâm tiếng cuối của những dòng trước đó và xem tiếng đứng liền kề tiếng khuyết thường kết hợp với tiếng nào rồi suy luận.
Vần liền:
Ai là bạn gió Mà gió đi tìm Bay theo cánh chim Lùa trong tán lá Gió nhớ bạn quá Nên gõ cửa hoài.
(Ngân Hà, Bạn của gió) - Vần cách:
Nhà trẻ con đã quen Không còn hờn khóc nữa Nhưng cứ độ tan tầm Con lại ra đứng cửa Mong mẹ và mong bố
Mắt nhìn về phố đông Ôi tấm lòng thơ nhỏ Đã thuộc giờ ngóng trông Thành phố rộng mênh mông Bao la chiều gió thổi Ở cuối con đường kia Có con đang đứng đợi. (Lưu
Mắt nhìn về phố đông Ôi tấm lòng thơ nhỏ Đã thuộc giờ ngóng trông Thành phố rộng mênh mông Bao la chiều gió thổi Ở cuối con đường kia Có con đang đứng đợi.
(Lưu Quang Vũ, Buổi chiều đón con) - Vần hỗn hợp:
Mặt trời thổi lửa Sông biển bốc hơi
Hơi bay cao vút Thành mây lưng trời Mây hồng nhẹ trôi Mây xanh đằm thắm Dịu dàng mây trắng Thẩn thơ mây vàng Mây đen lang thang Thân mình nặng trĩu Gió trêu tí xíu Đã vội khóc oà.
(Hoàng Lựu, Mây khóc) - Trong thực tế làm thơ, HS có thể gieo vần theo những cách khác. GV cần chấp nhận và khuyến khích những sáng tạo này.
b. Viết bài - GV hướng dẫn HS chọn thể thơ. Trong nhiều tình huống, dòng đầu tiên bất chợt xuất hiện trong tâm trí sẽ quyết định thể thơ, vần, nhịp của cả bài. Vì vậy, các em cần nắm lấy cơ hội đó. Dòng thơ đầu tiên có bốn hoặc năm chữ này thường có nội dung diễn tả ấn tượng, cảm xúc nổi bật của em về đối tượng. Chú ý phần vần ở tiếng cuối để tiếp tục gieo vần chân ở những dòng sau. Những dòng kế tiếp cần duy trì nhịp phù hợp với cảm xúc. - GV gợi ý cho HS cách triển khai mạch cảm xúc ở những dòng sau. Những dòng thơ tiếp theo có thể miêu tả chi tiết các đặc điểm của đối tượng, kể về đối tượng; có thể diễn đạt dưới hình thức tâm tình, trò chuyện với đối tượng,…
B. VIẾT ĐOẠN VĂN GHI LẠI CẢM XÚC SAU KHI ĐỌC MỘT BÀI THƠ BỐN CHỮ HOẶC NĂM CHỮ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS viết được đoạn văn có cấu tạo 3 phần: Mở đoạn, T
B. VIẾT ĐOẠN VĂN GHI LẠI CẢM XÚC SAU KHI ĐỌC MỘT BÀI THƠ BỐN CHỮ HOẶC NĂM CHỮ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS viết được đoạn văn có cấu tạo 3 phần: Mở đoạn, Thân đoạn và Kết đoạn, số lượng câu đúng quy định.
– Nêu được ấn tượng, cảm xúc về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ.
2. Yêu cầu đối với đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
– Giới thiệu được tên bài thơ và tác giả bài thơ. Nêu được cảm xúc chung về bài thơ.
– Nêu được ấn tượng, cảm xúc về những nét nghệ thuật độc đáo, đặc biệt chú ý đến tác dụng của thể thơ bốn chữ, năm chữ trong việc góp phần tạo nên nét riêng, giá trị của bài thơ. Từ đó, nêu được những cảm nghĩ về nội dung của bài thơ.
Trình bày đúng hình thức đoạn văn: Chữ đầu lùi đầu dòng và viết hoa, kết thúc đoạn ở chỗ xuống dòng. Các câu trong đoạn có sự liên kết cả về nội dung và hình th
Trình bày đúng hình thức đoạn văn: Chữ đầu lùi đầu dòng và viết hoa, kết thúc đoạn ở chỗ xuống dòng. Các câu trong đoạn có sự liên kết cả về nội dung và hình thức.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV có thể giới thiệu kiểu bài bằng cách: Gợi HS nhớ lại kiểu bài viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ có yếu tố tự sự, miêu tả và thơ lục bát. Sau đó dẫn dắt sang kiểu bài mới.
Hoạt động 2 Tìm hiểu các yêu cầu đối với đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc
một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ
GV có thể tổ chức cho HS tìm hiểu yêu cầu của đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ theo cách: Sử dụng câu hỏi: Một đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc
năm chữ cần có những yêu cầu gì? Trên cơ sở câu trả lời của HS, GV chốt lại và khái quát những yêu cầu đối với đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ. Sau đó, GV nhấn mạnh những điểm mới của kiểu bài này.
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV yêu cầu HS đọc bài viết và phân tích các chỉ dẫn thao tác viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ (ở bên phải VB). Sau khi HS đọc xong, GV yêu cầu các em làm việc theo nhóm, trao đổi về những vấn đề sau:
Câu văn, từ ngữ nào giới thiệu bài thơ và tác giả? + Người viết đã nêu ấn tượng, cảm xúc chung về nét đặc sắc nào của bài thơ? + Đoạn văn đã diễn tả cảm xúc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ chưa? Người viết đã chú ý đến tác dụng của thể thơ trong việc tạo nên giá trị đặc sắc của bài thơ ra sao?
Câu cuối đoạn có nội dung gì? - Sau khi HS đã trao đổi các vấn đề trên, GV yêu cầu mỗi nhóm cử đại diện trình bày những điểm cần lưu ý khi viết đoạn văn ghi lại cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ. Các nhóm khác nhận xét, đánh giá, bổ sung, đi đến thống nhất.
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
Xác định mục đích viết và người đọc: GV có thể yêu cầu HS dựa vào SHS để xác định mục đích viết (chia sẻ cảm xúc sau khi đọc một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ, giúp người đọc cảm nhận được cái hay, cái đẹp của bài thơ) và người đọc (thầy cô, bạn bè, người thân và những người quan tâm, mong muốn tìm hiểu cái hay, cái đẹp của bài thơ). Đây là một hoạt động quan trọng để rèn luyện cho HS ý thức bám sát mục đích viết được đặt ra từ đầu và đối tượng người đọc mà bài viết hướng đến. - Lựa chọn bài thơ: GV yêu cầu HS lựa chọn một bài thơ thể bốn chữ hoặc năm chữ viết về những đề tài phù hợp với lứa tuổi mà em yêu thích.
– Tìm ý: GV hướng dẫn HS thực hiện các thao tác tìm ý theo gợi ý trong SHS trang 52. Với hoạt động này, HS có thể làm việc cá nhân và trao đổi theo cặp để góp ý
– Tìm ý: GV hướng dẫn HS thực hiện các thao tác tìm ý theo gợi ý trong SHS trang 52. Với hoạt động này, HS có thể làm việc cá nhân và trao đổi theo cặp để góp ý cho nhau.
– Lập dàn ý: GV có thể yêu cầu HS lập dàn ý bằng cách điền vào bảng đã thiết kế trong phiếu học tập, trong đó có gợi ý nội dung của từng phần như sau:
Dàn ý đoạn văn, Nội dung chính cần đảm bảo, Dàn ý bài làm của em
Mở đoạn, – Giới thiệu bài thơ và tác giả. – Nêu khái quát ấn tượng, cảm xúc về nét độc đáo, có ý nghĩa nhất của bài thơ.
Thân đoạn, Nêu cảm xúc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ (số tiếng trong mỗi dòng thơ, vần, nhịp, hình ảnh, biện pháp tu từ, tình cảm, cảm xúc, thông điệp của tác giả).
Kết đoạn, Khái quát lại ấn tượng, cảm xúc về bài thơ.
– Viết bài: GV nhắc nhở HS những điểm cần lưu ý khi viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ như:
Nêu rõ cảm xúc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ (nhất là những đặc điểm của thể thơ bốn chữ hoặc năm chữ: số tiếng trong mỗi dòng, số dòng trong mỗi khổ, cách gieo vần, ngắt nhịp).
Đảm bảo cách trình bày đoạn văn đúng yêu cầu: bắt đầu từ chỗ lùi đầu dòng, chữ đầu viết hoa và kết thúc đoạn văn bằng dấu chấm câu. GV có thể giới hạn trong khoảng 7 – 10 câu.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu chung của kiểu bài và những yêu cầu cụ thể tạo nên đặc điểm riêng của đoạn văn ghi lại cảm xúc về một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ. Về bài tập làm thơ bốn chữ hoặc năm chữ, GV nhắc lại các lưu ý khi tập làm một bài thơ bốn chữ hoặc năm chữ.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả và chỉnh sửa bài viết
– GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt ở bài viết của HS, chọn phân tích một số bài viết thuộc các mức độ khác nhau để HS rút kinh nghiệm.
– GV trả bài cho HS, yêu cầu HS chỉnh sửa theo hướng dẫn trong SHS và những phân tích, bổ sung ở trên.
TRÌNH BÀY SUY NGHĨ VỀ MỘT VẤN ĐỀ ĐỜI SỐNG (ĐƯỢC GỢI RA TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐÃ ĐỌC) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – Với tư cách là người nói, HS biết cách trình b
TRÌNH BÀY SUY NGHĨ VỀ MỘT VẤN ĐỀ ĐỜI SỐNG
(ĐƯỢC GỢI RA TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC ĐÃ ĐỌC)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– Với tư cách là người nói, HS biết cách trình bày suy nghĩ về một vấn đề đời sống được gợi ra từ những tác phẩm văn học đã đọc trong bài 2 (Đồng dao mùa xuân, Gặp lá cơm nếp) như hình ảnh người lính, tình yêu đất nước, sự hoà quyện giữa tình yêu gia đình với tình yêu quê hương,... sao cho hấp dẫn và thuyết phục, biết tiếp thu các ý kiến nhận xét, phản hồi từ phía người nghe với tinh thần cầu thị.
– Với tư cách là người nghe, HS biết chú ý lắng nghe, ghi chép để nắm đầy đủ, chính xác các nội dung của bài nói; tham gia trao đổi tích cực về vấn đề bạn trình bày.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Chuẩn bị bài nói
GV nhắc nhở HS chuẩn bị nội dung nói ở nhà. Đến lớp, trước khi nói, GV cho HS rà soát lại các khâu đã chuẩn bị. GV kiểm tra, hỗ trợ. Phần chuẩn bị gồm các bước sau:
a. Xác định mục đích nói và người nghe
GV tổ chức cho HS tìm hiểu mục đích nói và người nghe như gợi ý trong SHS, trao đổi tại sao cần tìm hiểu những vấn đề này.
b. Chuẩn bị nội dung nói và tập luyện
GV lưu ý HS về thời lượng nói để chuẩn bị nội dung phù hợp.
Lựa chọn đề tài
Phần Nói và nghe trong bài 2 có sự tích hợp về chủ đề với phần Đọc. Vì vậy, GV có thể gợi ý cho HS những chủ đề được đề cập đến trong hai VB đọc chính như hình ảnh người lính, tình yêu đất nước, sự hoà quyện giữa tình yêu gia đình với tình yêu quê hương,... HS cũng có thể nói về lòng biết ơn đối với những người đang hằng ngày cống hiến cho xã hội một cách thầm lặng, về những đổi thay của cuộc sống hôm nay, dựa trên những bài thơ đã học trong bài 2 và những hiểu biết từ những nguồn tài liệu khác cũng như từ đời sống thực tế. Tham khảo thêm một số đề tài gợi ý trong SHS, trang 54.
Lập dàn ý bài nói
Trong trường hợp chọn trình bày suy nghĩ về hình ảnh người lính, em hãy lập dàn ý theo những ý chính đã được trình bày trong SHS, trang 54.
Trong trường hợp em chọn vấn đề khác, em có thể lập dàn ý theo gợi ý sau:
– Giới thiệu khái quát về vấn đề em định trình bày cùng ấn tượng chung của em.
– Nêu những biểu hiện cụ thể của vấn đề và suy nghĩ của em.
– Khái quát lại suy nghĩ của em, rút ra thông điệp, bài học từ vấn đề.
Tập luyện Tập luyện là một công việc quan trọng giúp HS có thể trình bày tốt trên lớp. GV giới thiệu cho HS một số cách như tập nói một mình rồi tự điều chỉnh n
Tập luyện
Tập luyện là một công việc quan trọng giúp HS có thể trình bày tốt trên lớp. GV giới thiệu cho HS một số cách như tập nói một mình rồi tự điều chỉnh ngôn ngữ cơ thể, ngữ điệu, giọng nói,...; tập trình bày trước một người bạn hay nhóm bạn, người thân và xin ý kiến góp ý của họ. Để bài nói phù hợp với thời gian quy định, GV lưu ý HS trong thời gian tập luyện, cần điều chỉnh dung lượng bài nói.
Hoạt động 2 Trình bày bài nói
- SHS đã nêu những điều cần lưu ý khi trình bày bài nói. GV tổ chức cho HS tìm hiểu nội dung này trước khi trình bày: trình bày đầy đủ, mạch lạc những nội dung chính đã chuẩn bị; kết hợp đọc diễn cảm những đoạn thơ cần thiết; điều chỉnh giọng nói (âm lượng, tốc độ, sắc thái biểu cảm) phù hợp với nội dung trình bày; kết hợp ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ,… diễn
tả cảm xúc; chú ý tương tác với người nghe; trình bày bài nói trong thời gian quy định. - Để tổ chức hoạt động nói, GV nên tổ chức cho HS làm việc cặp đôi để thực hành. HS lần lượt lắng nghe nhau nói rồi góp ý cho nhau. - GV yêu cầu một số HS trình bày trước lớp. Những HS còn lại theo dõi, nhận xét, đánh giá (có thể ghi vào phiếu mà GV thiết kế sẵn).
Gợi ý phiếu nhận xét hoạt động nói:
Các nội dung nhận xét Các yêu cầu Có Không
Nội dung bài nói khác nhau của vấn đề
Hình thức trình bày
Giới thiệu chung về vấn đề Nêu những suy nghĩ về các khía cạnh
Khái quát lại suy nghĩ về vấn đề Tốc độ nói vừa phải Âm lượng vừa đủ Giọng nói truyền cảm Cử chỉ, dáng điệu đúng mực
Tương tác với người nghe phù hợp
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG – Phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc gồm những bài tập yêu cầu HS tự giải quyết ở nhà. Trên lớp, cuối tiết Nói và nghe, GV dành thời gian h
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
– Phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc gồm những bài tập yêu cầu HS tự giải quyết ở nhà. Trên lớp, cuối tiết Nói và nghe, GV dành thời gian hướng dẫn HS thực hiện những yêu cầu trong SHS như làm bài 1, 2 phần Củng cố, mở rộng vào vở bài tập, đọc bài thơ Chiều sông Thương và tìm hiểu bài thơ theo gợi ý ở phần Thực hành đọc.
– GV nhắc HS lưu lại bài làm trong hồ sơ học tập để GV có thể dựa vào đó đánh giá kết quả học tập.
Bài tập 1
GV yêu cầu HS kẻ bảng trong SHS, trang 55 vào vở, đọc lại hai bài thơ Đồng dao mùa xuân, Gặp lá cơm nếp, sau đó điền thông tin về đặc điểm của các bài thơ vào vở bài tập.
Bài tập 2
– GV có thể hướng dẫn HS chuẩn bị bài nói và tập luyện ở nhà như sau:
Giải thích cho HS yêu cầu của bài tập là luyện kĩ năng nói, cụ thể là phát biểu cách hiểu về một vấn đề liên quan tới chủ đề của bài học. Đó là khả năng diễn tả đầy tính nhạc những cung bậc tình cảm, cảm xúc trong tâm hồn con người của thơ ca.
Gợi dẫn HS bằng cách nêu những câu hỏi như: Thơ có mối liên hệ như thế nào với âm nhạc? Hình ảnh cây đàn muôn điệu gợi em liên tưởng tới điều gì? Tại sao nhà thơ lại nhận định: “Với Nàng Thơ, tôi có đàn muôn điệu”? Những bài thơ trong bài học này gợi lên những âm điệu (tình cảm, cảm xúc) gì của tâm hồn con người?
– GV hướng dẫn HS kết nối các câu trả lời để tạo thành các ý cho bài nói.
Trang 90
Trang 91
VĂN BẢN 1. VỪA NHẮM MẮT VỪA MỞ CỬA SỔ (Trích, Nguyễn Ngọc Thuần) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS cần nhận biết được người kể chuyện ngôi thứ nhất; hiểu tính c
VĂN BẢN 1. VỪA NHẮM MẮT VỪA MỞ CỬA SỔ
(Trích, Nguyễn Ngọc Thuần)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS cần nhận biết được người kể chuyện ngôi thứ nhất; hiểu tính cách của nhân vật “tôi” (thể hiện qua cử chỉ, hành động, lời nói, cảm xúc, suy nghĩ về khu vườn, về bố và bạn Tí) và nhân vật người bố (chủ yếu được thể hiện qua ý nghĩ của nhân vật “tôi”). Qua đó, HS biết cảm nhận về thế giới xung quanh một cách tinh tế hơn; được bồi đắp tình yêu thiên nhiên, con người và cảm xúc thẩm mĩ.
HS thể hiện thái độ đồng tình hoặc không đồng tình với thái độ, tình cảm của tác giả (được thể hiện qua lời kể của nhân vật "tôi", lời nhân vật người bố) và biế
HS thể hiện thái độ đồng tình hoặc không đồng tình với thái độ, tình cảm của tác giả (được thể hiện qua lời kể của nhân vật "tôi", lời nhân vật người bố) và biết lí giải một cách hợp lí.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV dựa vào 2 câu hỏi phần Trước khi đọc, SHS, trang 58 để tổ chức hoạt động khởi động cho HS: - HS trao đổi nhóm về câu hỏi 1, đại diện nhóm trình bày ngắn gọn, GV nhận xét và có thể nhấn mạnh mối liên hệ giữa trải nghiệm của HS và VB đọc. - Cá nhân HS chia sẻ về câu hỏi 2, GV kết nối nhan đề với đề tài của đoạn trích và chủ đề bài học.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV khuyến khích HS đọc đoạn trích trước khi đến lớp, tự tóm tắt cốt truyện. GV đọc thành tiếng đoạn đầu, sau đó HS thay nhau đọc to một số đoạn quan trọng. - GV hướng dẫn HS sử dụng các chiến lược đọc trong từng thẻ chỉ dẫn. Với đoạn trích Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, HS sử dụng chiến lược theo dõi (để nắm bắt một số chi tiết miêu tả nhân vật) và suy luận (bước đầu cảm nhận ý nghĩa của chi tiết trong cốt truyện và trong việc khắc hoạ tính cách nhân vật). GV có thể thực hiện một hoạt động trong khi đọc để làm mẫu cho HS. Ví dụ, cần chú ý những chi tiết sau đây trong lời kể của nhân vật "tôi" về bố: bố trồng nhiều hoa, bố "chế tạo" cho con chiếc bình tưới cây rất xinh xắn, kiên nhẫn hướng dẫn và khích lệ con tập nhắm mắt để "nhìn" khu vườn,… Những chi tiết này sẽ giúp các em trả lời câu hỏi ở phần Sau khi đọc (câu hỏi 1, 2, 3). - GV lưu ý HS tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó được chú thích ở chân trang; trao đổi với bạn hoặc thầy cô về những từ ngữ các em không hiểu nhưng chưa được chú giải.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS tự đọc phần giới thiệu chung về tác giả Nguyễn Ngọc Thuần và phần chú thích về tác phẩm Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ. Khuyến khích các em đã đọc toàn văn tác phẩm tóm tắt cốt truyện, xác định vị trí của đoạn trích hoặc giới thiệu ngắn gọn về nhân vật "tôi". Bảy câu hỏi Sau khi đọc bám sát yêu cầu cần đạt và được thiết kế theo trình tự tư duy nên khi tổ chức hoạt động dạy học, GV cần tham khảo gợi ý sau:
Câu hỏi 1
Câu hỏi 1 yêu cầu HS nhận biết một số chi tiết tiêu biểu: Nhân vật "tôi" được bố dạy cho cách nhận ra những bông hoa trong vườn không phải bằng mắt mà bằng cảm giác của đôi bàn tay và bằng cách ngửi mùi hương của hoa.
Những chi tiết này được nhân vật "tôi" kể ở trang 59 và phần đầu trang 60, 62 của đoạn trích nên GV hướng dẫn HS đọc lại các trang đó để tìm câu trả lời. Câu hỏ
Những chi tiết này được nhân vật "tôi" kể ở trang 59 và phần đầu trang 60, 62 của đoạn trích nên GV hướng dẫn HS đọc lại các trang đó để tìm câu trả lời.
Câu hỏi 2
Câu hỏi 2 không chỉ giúp HS nhận biết người kể chuyện mà còn tiếp cận thêm một "cách thức" thường được nhà văn sử dụng để khắc hoạ nhân vật: qua cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật khác. Việc lựa chọn người kể chuyện trong đoạn trích vừa có tác dụng miêu tả tính cách của nhân vật người bố vừa thể hiện được tình cảm của nhân vật "tôi".
Câu hỏi 3
Câu hỏi 3 giúp HS nhận biết được tính cách nhân vật qua lời nói, cử chỉ, hành động, cảm xúc và qua suy nghĩ của nhân vật khác. GV có thể thiết kế phiếu học tập và tổ chức cho HS làm việc nhóm. Nếu không muốn sử dụng hình thức diễn dịch, GV có thể đổi lại câu hỏi theo hình thức quy nạp (tìm chi tiết, dựa vào các chi tiết để nêu cảm nhận về nhân vật người
bố). Tham khảo gợi ý: - Kiên nhẫn dạy con cách cảm nhận về vẻ đẹp và sự sống trong khu vườn; gần gũi, chia sẻ nhiều cảm xúc, suy nghĩ với con như một người bạn thân thiết; coi con là "món quà" quý giá nhất của cuộc đời;...
Yêu thương Tí, trân trọng đón nhận món quà đơn sơ của Tí,... - Thích trồng hoa, luôn chăm sóc và biết lắng nghe "tiếng nói" của khu vườn, nhịp sống của thiên nhiên,... Có thể thấy, nhân vật người bố là một người rất yêu thương con, luôn quan tâm, gần gũi với con và có tâm hồn phong phú, sâu sắc; có trái tim nhân hậu.
Câu hỏi 4
Mục tiêu của câu hỏi 4 là giúp HS nhận biết được chi tiết quan trọng và mối liên hệ của các chi tiết trong VB truyện. GV hướng dẫn HS đọc lại các đoạn văn có liên quan đến câu hỏi; có thể tổ chức thảo luận theo cặp, mời một vài HS trình bày kết quả hoạt động rồi nêu nhận xét, chốt lại vấn đề. Dự kiến câu trả lời: Nhân vật "tôi" nghe được tiếng kêu cứu của bạn Tí vì em đã tập "nhắm mắt" để lắng nghe và cảm nhận về thế giới xung quanh. Nhờ luyện tập, em có thể nghe âm thanh mà đoán được nó vang lên từ đâu, ở khoảng cách như thế nào. Vì vậy, chi tiết này có liên quan đến chi tiết trước đó: Nhân vật "tôi" chỉ lắng nghe tiếng bước chân mà vẫn cảm nhận được chính xác bố đang cách xa tôi bao nhiêu mét.
Câu hỏi 5
Câu hỏi 5 kết hợp các yêu cầu nhận biết, phân tích và suy luận. Thực hiện các yêu cầu trong câu hỏi này, HS sẽ hiểu thêm về người kể chuyện. Người kể chuyện cũng là một nhân vật và tính cách của nhân vật này được thể hiện ngay trong lời kể, trong những suy nghĩ, cảm xúc về thế giới xung quanh. GV có thể thiết kế phiếu học tập; tổ chức hoạt động nhóm,
hướng dẫn HS tìm chi tiết; dựa vào các chi tiết tiêu biểu để nêu cảm nhận về nhân vật "tôi"; đại diện một, hai nhóm trình bày, các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
hướng dẫn HS tìm chi tiết; dựa vào các chi tiết tiêu biểu để nêu cảm nhận về nhân vật "tôi"; đại diện một, hai nhóm trình bày, các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
Dự kiến câu trả lời: - Những chi tiết miêu tả cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật "tôi" về bố (yêu quý, gần gũi với bố, đón nhận từng cử chỉ chăm sóc của bố với lòng biết ơn: bố làm cho "tôi" chiếc bình tưới xinh xắn, dạy "tôi" cách cảm nhận về khu vườn; bố là món quà "bự" nhất của "tôi",...); về bạn Tí (coi Tí là người bạn thân nhất, sẵn sàng chia sẻ với bạn bí mật ngọt ngào, hạnh phúc của hai bố con; thấy tên bạn Tí đẹp và hay hơn mọi âm thanh, thích gọi bạn để được nghe cái tên ấy vang lên,...).
Những chi tiết tiêu biểu đó thể hiện tính cách của nhân vật "tôi": nhạy cảm, tinh tế, biết yêu thương,...
Câu hỏi 6
Câu hỏi 6 kết hợp yêu cầu phân tích, suy luận và đánh giá, vận dụng. GV hướng dẫn HS đọc lại phần cuối của đoạn trích (từ Bạn hãy tưởng tượng, một buổi sáng mờ sương... đến hết), tìm một số chi tiết miêu tả cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật "tôi" khi chợt hiểu khu vườn nói gì. Đó là tiếng những bước chân, là mùi hương của những loài hoa đang nở trong khu vườn. Khi "vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ", nhân vật "tôi" không chỉ thấy những bông hoa thơm hơn mà còn "nhìn" thấy nguyên cả khu vườn, cả bông hồng ngay trong đêm tối,...
Từ những chi tiết đó, HS có thể nêu nhận xét: Những "bí mật" ấy đã mang lại niềm vui, hạnh phúc cho cuộc sống hằng ngày và làm giàu có tâm hồn của nhân vật "tôi".
GV có thể tổ chức cho HS làm việc nhóm và sử dụng phiếu học tập.
Câu hỏi 7
Đây là câu hỏi đánh giá, vận dụng, kết nối việc đọc hiểu tác phẩm với trải nghiệm cá nhân. GV hướng dẫn HS đọc lại và phân tích để hiểu rõ lời của nhân vật người bố nói về món quà: Vẻ đẹp của món quà không chỉ nằm ở giá trị vật chất, cách trao tặng và đón nhận một món quà thể hiện con người chúng ta, chính tình cảm yêu thương chân thành khiến cho món quà trở nên quý giá,...
Cần khuyến khích HS bày tỏ ý kiến riêng (có thể đồng tình hoặc không đồng tình), GV nêu nhận xét (không phán xét) và giúp các em nhận biết thông điệp giàu giá trị nhân văn được gửi gắm trong quan niệm về món quà...
Hoạt động 4 Viết kết nối với đọc
GV hướng dẫn HS tìm ý cho đoạn văn bằng một số câu hỏi gợi ý: Đó là món quà của ai? Em nhận được khi nào? Điều gì khiến em đặc biệt yêu thích món quà đó? Món quà đó có ý nghĩa như thế nào đối với em?
Có thể cho HS viết trên lớp hoặc ở nhà.
Thực hành tiếng Việt (số từ) SỐ TỪ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được đặc điểm của số từ và hiểu được chức năng của số từ để sử dụng đúng và hiệu qu
Thực hành tiếng Việt (số từ)
SỐ TỪ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được đặc điểm của số từ và hiểu được chức năng của số từ để sử dụng đúng và hiệu quả trong các hoạt động đọc, viết, nói và nghe.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV có thể giúp HS hình thành kiến thức mới bằng nhiều cách khác nhau. Ví dụ, GV yêu cầu HS đọc khung Nhận biết số từ trong SHS, trang 64 – 65 để hiểu được các tiểu loại cơ bản của số từ. Ngoài ngữ liệu trong SHS, GV có thể hướng dẫn HS lấy thêm các ví dụ khác để các em có thể hiểu rõ hơn đặc điểm và chức năng của số từ.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
Bài tập yêu cầu HS nhận biết được số từ chỉ số lượng xác định. Số từ (từ in đậm) trong các câu là:
a. hai bố con
b. một bình tươi
c. ba chục mét
Bài tập 2
Bài tập yêu cầu HS nhận biết được số từ chỉ số lượng ước chừng. Số từ (từ in đậm) trong các câu là:
a. mấy phút
b. vài ngày
c. một hai hôm
GV hướng dẫn HS tìm thêm ba số từ chỉ số lượng ước chừng khác và đặt câu với mỗi từ.
Bài tập 3
Từ Sáu trong câu là danh từ riêng chỉ tên một người. Tên Sáu có lẽ được đặt theo thứ tự người con trong gia đình. Ở miền Nam, người con cả trong gia đình thường được gọi là Hai. Bà Sáu có thể là người con thứ năm trong gia đình. Vì thế, trong trường hợp này, số từ chỉ thứ tự đã được chuyển thành danh từ riêng nên phải viết hoa.
Bài tập 4
GV hướng dẫn HS tìm thêm những trường hợp tương tự: hai mắt – đôi mắt, hai tay – đôi tay, hai tai – đôi tai, hai cái sừng – đôi sừng, hai chiếc đũa – đôi đũa. GV có thể giải thích cho HS:
VĂN BẢN 2. NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN (Trích, Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết được sự thay đổi người kể chuyện trong đoạn trích v
VĂN BẢN 2. NGƯỜI THẦY ĐẦU TIÊN
(Trích, Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được sự thay đổi người kể chuyện trong đoạn trích và bước đầu cảm nhận được tác dụng của sự thay đổi đó; biết khái quát đặc điểm tính cách nhân vật thầy Đuy-sen qua các chi tiết miêu tả ngoại hình, lời nói, cử chỉ, hành động, qua lời kể và cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật An-tư-nai, của nhân vật người hoạ sĩ.
– HS cảm nhận được tình yêu thương của thầy Đuy-sen dành cho học trò và lòng biết ơn của An-tư-nai đối với người thầy đầu tiên. Từ đó, biết trân trọng những tình cảm tốt đẹp mà mình được đón nhận.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV hướng dẫn HS vận dụng hiểu biết, trải nghiệm để thực hiện hoạt động khởi động; có thể trao đổi theo cặp. GV gọi một số HS trả lời, nêu nhận xét.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– GV khuyến khích HS tự đọc và tóm tắt nội dung đoạn trích trước khi đến lớp. GV có thể dành 5 – 7 phút giới thiệu cốt truyện; chú ý những sự kiện chính và mối quan hệ giữa các nhân vật: thầy Đuy-sen, An-tư-nai, người hoạ sĩ. HS đọc thành tiếng đoạn trích (theo “vai” người kể chuyện).
– GV hướng dẫn HS sử dụng các chiến lược đọc trong từng thẻ chỉ dẫn. Với đoạn trích Người thầy đầu tiên, HS sử dụng chiến lược nhận biết để xác định người kể chuyện ở phần (1); chiến lược theo dõi để nắm bắt được sự thay đổi người kể chuyện và những chi tiết miêu tả các nhân vật thầy Đuy-sen, An-tư-nai; chiến lược hình dung giúp HS tưởng
tượng hình ảnh người thầy đầu tiên được lưu giữ trong kí ức của An-tư-nai và suy luận về niềm trăn trở của người hoạ sĩ. Hoạt động 3 Khám phá văn bản GV cho HS
tượng hình ảnh người thầy đầu tiên được lưu giữ trong kí ức của An-tư-nai và suy luận về niềm trăn trở của người hoạ sĩ.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS tự đọc phần giới thiệu về tác giả Trin-ghi-dơ Ai-tơ-ma-tốp trong SHS, trang 71. VB đọc được trích từ một truyện vừa nên GV cần giới thiệu kĩ hơn về cốt truyện để HS định hình được vị trí của đoạn trích. Khi giới thiệu, nên tập trung vào nhân vật thầy Đuy-sen.
Khi tổ chức hoạt động dạy học, có thể kết hợp một số câu hỏi hoặc bổ sung câu hỏi gợi dẫn nhưng cần đảm bảo mục tiêu của bài học.
Câu hỏi 1
GV hướng dẫn HS xác định nhân vật "tôi" ở từng phần để nhận biết sự thay đổi người kể chuyện trong đoạn trích. Người kể chuyện ở phần (1) và phần (4) là một hoạ sĩ trẻ, cùng
quê với An-tư-nai; người kể chuyện ở phần (2) và (3) là An-tư-nai. Tác dụng của sự thay đổi này sẽ được phân tích ở câu hỏi số 7.
Câu hỏi 2
Xác định mối quan hệ giữa hai nhân vật "tôi" trong đoạn trích sẽ giúp HS bước đầu nhận biết được tác dụng của việc thay đổi kiểu người kể chuyện. Hai người kể chuyện (bà An-tư-nai và anh hoạ sĩ) đều sinh ra, lớn lên ở làng Ku-ku-rêu; hiện cùng sống ở Mát-xcơ-va và có quen biết nhau. Họ cùng được mời về dự lễ khánh thành ngôi trường mới của quê hương.
An-tư-nai hẹn với dân làng sẽ ở lại vài ngày nhưng ngay khi buổi lễ kết thúc, bà đã vội vã rời làng, trở lại Mát-xcơ-va. Sau đó, bà viết thư cho hoạ sĩ, kể về "người thầy đầu tiên"; giải thích vì sao mình đột ngột ra đi và nhờ anh kể lại cho dân làng nghe câu chuyện của bà.
HS dựa vào chú thích về tác phẩm để trả lời câu hỏi này.
Câu hỏi 3
Câu hỏi 3 kết hợp yêu cầu nhận biết và phân tích, suy luận. GV hướng dẫn HS tự đọc lại đoạn đối thoại giữa các bạn nhỏ và thầy Đuy-sen, tìm chi tiết có thể giúp HS hình dung về hoàn cảnh sống của An-tư-nai.
Ví dụ: Nếu thím em cho đi thì em sẽ đi; gấu váy thủng để hở một mảng đầu gối; Chị ấy mồ côi ạ, chị ấy ở với chú thím,… Những chi tiết này cho thấy An-tư-nai phải sống thiếu thốn cả về vật chất và tình cảm; không được chăm sóc, yêu thương.
Câu hỏi 4
Câu hỏi 4 kết hợp các yêu cầu nhận biết, phân tích, suy luận. Trả lời câu hỏi ở mục a, HS nhận biết được: Nhân vật thầy Đuy-sen hiện lên qua lời kể, qua cảm xúc và suy nghĩ của nhân vật An-tư-nai. Hai yêu cầu ở mục b và c giúp HS nhận biết được các chi tiết tiêu biểu và dựa vào đó để khái quát đặc điểm tính cách của nhân vật thầy Đuy-sen. GV có thể thiết kế
phiếu học tập, tổ chức cho HS hoạt động nhóm; gọi đại diện nhóm trình bày kết quả; hướng dẫn HS thảo luận và nêu nhận xét, bổ sung. Gợi ý câu trả lời: - Các chi
phiếu học tập, tổ chức cho HS hoạt động nhóm; gọi đại diện nhóm trình bày kết quả; hướng dẫn HS thảo luận và nêu nhận xét, bổ sung.
Gợi ý câu trả lời: - Các chi tiết tiêu biểu: chi tiết miêu tả ngôn ngữ đối thoại (trò chuyện, thuyết phục các em nhỏ đi học; động viên, khích lệ An-tư-nai,...); chi tiết miêu tả hành động (một mình sửa sang nhà kho cũ thành lớp học; bế các em nhỏ qua suối giữa mùa đông buốt giá; kiên trì dạy chữ cho các em bất chấp hoàn cảnh thiếu thốn, khắc nghiệt, sự đơn độc; mơ ước về một tương lai tươi sáng cho học trò,...); chi tiết miêu tả cảm xúc, suy nghĩ của An-tư-nai về thầy Đuy-sen (cảm nhận về lòng nhân hậu, tình yêu thương của thầy; mong ước thầy là người ruột thịt của mình...).
Dựa vào các chi tiết tiêu biểu trên, HS có thể khái quát tính cách của nhân vật thầy Đuy-sen: có mục đích sống cao đẹp, cương nghị, kiên nhẫn, nhân hậu, vị tha,... trong đó, nổi
bật nhất là tình cảm yêu thương, hết lòng vì học trò.
Câu hỏi 5
Câu hỏi 5 kết hợp các yêu cầu phân tích, suy luận. HS cần đọc lại một số đoạn văn miêu tả suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật An-tư-nai về thầy Đuy-sen. Qua đó, có thể thấy An-tư-nai đặc biệt yêu quý, ngưỡng mộ và biết ơn người thầy đầu tiên của mình.
GV hướng dẫn HS đọc lại chú thích ở SHS, trang 65 và phần (1), (2), (3) của đoạn trích để thực hiện yêu cầu thứ hai. Nhờ thầy Đuy-sen, từ một cô bé mồ côi không biết chữ, ở một vùng quê nghèo khó, lạc hậu, từng bị người thím độc ác bán đi,… An-tư-nai đã có được cơ hội lên thành phố học tập và trở thành một viện sĩ nổi tiếng.
Câu hỏi 6
Câu hỏi 6 kết hợp yêu cầu nhận biết và đánh giá, vận dụng. GV có thể thiết kế phiếu học tập và tổ chức cho HS làm việc nhóm. HS đọc lại phần (4), tóm tắt các ý tưởng của hoạ sĩ:
Vẽ hai cây phong thầy Đuy-sen và An-tư-nai trồng, cùng đứa trẻ với đôi mắt hân hoan nhìn vào cõi xa xăm kì ảo.
Vẽ cảnh tượng thầy Đuy-sen bế trẻ em qua con suối mùa đông. + Vẽ khoảnh khắc thầy Đuy-sen tiễn An-tư-nai lên tỉnh, sao cho bức tranh ấy diễn tả được tiếng gọi cất lên từ tâm hồn Đuy-sen mà đến nay An-tư-nai vẫn còn nghe vẳng lại, sẽ vang dội mãi trong lòng mỗi người.
Đối với yêu cầu thứ hai, cần khuyến khích HS trình bày ý kiến cá nhân. HS chỉ cần lựa chọn một trong 3 ý tưởng của hoạ sĩ và tuỳ đối tượng HS, GV có thể mở rộng, nâng cao với yêu cầu giải thích lí do em lựa chọn ý tưởng đó.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT PHÓ TỪ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận biết được đặc điểm và chức năng của phó từ để sử dụng đúng và hiệu quả trong các hoạt động đọc,
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
PHÓ TỪ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận biết được đặc điểm và chức năng của phó từ để sử dụng đúng và hiệu quả trong các hoạt động đọc, viết, nói và nghe.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV có thể yêu cầu HS đọc khung Nhận biết phó từ trong SHS, trang 72, để hiểu được các tiểu loại cơ bản của phó từ. Ngoài ngữ liệu trong SHS, GV có thể yêu cầu HS tìm thêm các ví dụ khác để hiểu hơn đặc điểm và chức năng của phó từ.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Bài tập 1
Bài tập này giúp HS nhận biết được các phó từ đi kèm danh từ. Các phó từ (được in đậm) trong câu là:
a. mọi người
b. những lúc ấy, các em
c. những điều ấy
Bài tập 2
Bài tập giúp HS nhận biết phó từ đi kèm động từ, tính từ và nêu được ý nghĩa mà phó từ bổ sung cho động từ, tính từ.
a. không nghĩ ra được cách gì: phó từ không bổ sung cho động từ nghĩ ý nghĩa phủ định, phó từ ra, được chỉ kết quả của hành động nghĩ.
VĂN BẢN 3. QUÊ HƯƠNG (Tế Hanh) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – VB 3 kết nối với hai VB đọc chính bằng chủ đề Cội nguồn yêu thương. Cội nguồn ấy là gia đình, bạn
VĂN BẢN 3. QUÊ HƯƠNG
(Tế Hanh)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– VB 3 kết nối với hai VB đọc chính bằng chủ đề Cội nguồn yêu thương. Cội nguồn ấy là gia đình, bạn bè, thầy cô, quê hương xứ sở,… Đọc hiểu bài thơ Quê hương, HS cảm nhận được vẻ đẹp của con người, cuộc sống nơi làng chài ven biển và tình yêu quê hương chân thành, tha thiết của tác giả.
– Bài thơ Quê hương cũng là ngữ liệu để HS luyện tập một số kĩ năng đọc hiểu VB thơ đã được hình thành ở các lớp trước và chuẩn bị cho bài 4. Giai điệu đất nước với các yêu cầu cần đạt như: nhận biết và nhận xét được nét độc đáo của bài thơ thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp, biện pháp tu từ và nhận biết được tình cảm, cảm xúc của người viết thể hiện qua ngôn ngữ VB.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Khởi động GV có thể cho HS khởi động bằng việc chia sẻ một ấn tượng nổi bật về quê hương mình hoặc về một bài thơ
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
GV có thể cho HS khởi động bằng việc chia sẻ một ấn tượng nổi bật về quê hương mình hoặc về một bài thơ có cùng đề tài mà các em yêu thích. GV kết nối trải nghiệm của các em với VB Quê hương.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
GV yêu cầu HS đọc VB trước khi đến lớp, khuyến khích học thuộc lòng bài thơ. - GV chỉ định một vài HS đọc diễn cảm bài thơ trước lớp, có thể nhắc HS chú ý đề tài, bố cục của bài thơ.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV cho HS tự đọc phần giới thiệu chung về tác giả Tế Hanh trong SHS, trang 74, lưu ý
HS về đề tài quê hương trong sáng tác của Tế Hanh. Có thể hướng dẫn HS tìm hiểu bố cục bài thơ trước khi khám phá VB.
Câu hỏi 1
Câu hỏi yêu cầu HS nhận biết nội dung của bài thơ qua các chi tiết tiêu biểu. GV có thể gợi ý HS tìm chi tiết miêu tả không gian, cuộc sống lao động, khung cảnh sinh hoạt, hình ảnh con người (cách biển nửa ngày sông, làm nghề chài lưới, dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá, tấp nập đón ghe về, dân chài lưới làn da ngăm rám nắng, màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,…).
Câu hỏi 2
Câu hỏi 2 kết hợp yêu cầu nhận biết và phân tích. HS cần nêu được giá trị biểu hiện của từng biện pháp tu từ trong ngữ cảnh, qua đó, cảm nhận được vẻ đẹp của cuộc sống lao động và con người nơi đây: - Trong hai dòng thơ: Chiếc thuyền nhẹ băng như con tuấn mã/ Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang, hình ảnh so sánh được tác giả kết hợp với các từ ngữ mang sắc thái mạnh (băng, phăng, mạnh mẽ, vượt) để tái hiện vẻ đẹp của con thuyền lúc ra khơi. Con thuyền được hình dung như một sinh thể sống động, đẹp đẽ, tràn đầy sức mạnh, lướt băng băng, vượt qua dòng sông dài rộng, hướng về biển lớn. Hình ảnh so sánh còn gợi lên vẻ đẹp của con người lao động - hiên ngang, hào hùng như những kị sĩ, tráng sĩ. - Trong hai dòng thơ: Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng/ Rướn thân trắng bao la thâu góp gió, biện pháp tu từ so sánh được kết hợp với biện pháp tu từ nhân hoá (rướn thân trắng, thâu góp gió): + Hình ảnh cánh buồm giương to, căng tràn nắng gió của biển cả giúp chúng ta hình dung rõ hơn một điều tưởng vô hình là cái hồn, cái chất riêng của làng chài và những con người nơi đây. Cánh buồm là sự hiện hữu sinh động của phần hồn ấy: tràn trề sức sống, như hăm hở thâu góp, ôm cả nắng gió của đất trời, mạnh mẽ và phóng khoáng,…
VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRONG MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS bước đầu biết viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong
VIẾT BÀI VĂN PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM NHÂN VẬT TRONG MỘT TÁC PHẨM VĂN HỌC
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS bước đầu biết viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học.
2. Những lưu ý về yêu cầu đối với bài văn
Phân tích nhân vật là tìm kiếm, phát hiện các chi tiết trong tác phẩm để chỉ ra đặc điểm của nhân vật, từ đó khái quát nên giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. SHS đã đưa ra các yêu cầu đối với bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học:
Giới thiệu được nhân vật trong tác phẩm văn học: Trong phần Mở bài, HS cần nêu rõ nhân vật văn học mình sẽ phân tích là ai. - Chỉ ra được đặc điểm của nhân vật
Giới thiệu được nhân vật trong tác phẩm văn học: Trong phần Mở bài, HS cần nêu rõ nhân vật văn học mình sẽ phân tích là ai. - Chỉ ra được đặc điểm của nhân vật dựa trên các bằng chứng trong tác phẩm: Nhân vật có thể được xây dựng theo cách trực tiếp và/ hoặc gián tiếp. Ở cách trực tiếp, người kể chuyện nhận xét trực tiếp về đặc điểm nhân vật. Còn ở cách gián tiếp, nhà văn để nhân vật tự bộc lộ mình qua ngoại hình, hành động, lời nói, suy nghĩ,... Vì thế, khi phân tích nhân vật, cần quan tâm đến các phương diện: vẻ bên ngoài của nhân vật (Nhân vật trông như thế nào? Trang phục ra sao?), xuất thân của nhân vật (Nhân vật đến từ đâu? Hoàn cảnh như thế nào?), hành động của nhân vật (Nhân vật đã làm những gì?), mối quan hệ của nhân vật với các nhân vật khác (Nhân vật có mối quan hệ như thế nào với các nhân vật khác?), lời nói và suy nghĩ của nhân vật (Nhân vật đã nói và suy nghĩ gì? Nhân vật thực sự muốn gì và lo sợ điều gì?).
Nhận xét được nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn: Phân tích nhân vật đòi hỏi người đọc phát hiện, nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tác phẩm. - Nêu được ý nghĩa của hình tượng nhân vật: Phát hiện ra những chi tiết quan trọng về nhân vật giúp ta có căn cứ suy luận chủ đề tác phẩm hoặc quan niệm về đời sống của tác giả.
3. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV có thể giới thiệu kiểu bài bằng nhiều cách. Chẳng hạn: - Yêu cầu HS trả lời câu hỏi: Nhân vật văn học nào đã để lại trong em ấn tượng sâu sắc? Vì sao? - Yêu cầu HS nêu đặc điểm nổi bật của một trong những nhân vật các em vừa học ở hai VB: Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Người thầy đầu tiên. - Tổ chức trò chơi cho HS đoán tên các nhân vật đã học qua các từ khoá nêu đặc điểm của nhân vật. Từ đó, GV dẫn dắt vào bài học: cách viết bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học.
Hoạt động 2 Tìm hiểu các yêu cầu đối với bài văn phân tích đặc điểm nhân vật
trong một tác phẩm văn học
GV cho HS đọc các yêu cầu đối với bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học trong SHS, trang 75. GV có thể sử dụng câu hỏi: Theo em, một bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học phải đáp ứng được yêu cầu gì?
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV yêu cầu HS đọc bài viết tham khảo: Con mèo tuyệt vời nhất thế giới!
GV hướng dẫn HS thảo luận các yêu cầu của bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học được thể hiện trong bài viết tham khảo. GV có thể sử dụ
GV hướng dẫn HS thảo luận các yêu cầu của bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học được thể hiện trong bài viết tham khảo. GV có thể sử dụng các câu hỏi, nhiệm vụ như sau:
Phần nào, câu nào đã giới thiệu nhân vật trong tác phẩm văn học? + Đọc đoạn (2), (3) của bài văn:
Chỉ ra các câu nêu đặc điểm của nhân vật.
Chỉ ra một số câu nêu các bằng chứng trong tác phẩm. + Đọc đoạn (4), (5) của bài văn:
Chỉ ra các câu nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật của nhà văn.
Chỉ ra các câu nêu ý nghĩa của hình tượng nhân vật. - GV có thể yêu cầu HS làm việc theo nhóm để tìm hiểu các đoạn trong bài viết tham khảo.
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
GV ra đề bài cụ thể cho HS thực hiện, chẳng hạn: Phân tích đặc điểm của nhân vật thầy Đuy-sen trong văn bản Người thầy đầu tiên. GV hướng dẫn HS phân tích yêu cầu của đề bài (gạch dưới các từ ngữ quan trọng trong đề bài) để xác định nhiệm vụ viết. GV lưu ý HS khi viết cần có ý thức bám sát mục đích viết và đối tượng người đọc mà bài viết hướng tới.
GV hướng dẫn HS tìm ý (thu thập các thông tin về nhân vật trong tác phẩm và đưa ra những suy luận về đặc điểm nhân vật) theo gợi ý như trong SHS.
GV có thể dựa vào SHS để thiết kế phiếu tìm ý cho HS. GV có thể yêu cầu HS làm việc cá nhân để hoàn thành phiếu tìm ý và trao đổi cặp đôi để góp ý cho nhau.
GV hướng dẫn HS lập dàn ý cho bài viết theo gợi ý như trong SHS. - HS viết bài tại lớp hoặc ở nhà.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu đối với bài văn phân tích đặc điểm nhân vật trong một tác phẩm văn học và một vài lưu ý khi viết kiểu bài này.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả và chỉnh sửa bài viết - GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt ở bài viết của HS. GV phân tích
một số điểm tích cực và hạn chế trong bài làm để HS rút kinh nghiệm.
GV trả bài cho HS và yêu cầu các em chỉnh sửa bài viết theo hướng dẫn trong SHS
bằng hình thức làm việc cá nhân hoặc theo nhóm.
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG Cuối tiết học Nói và nghe, GV cần hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc.
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
Cuối tiết học Nói và nghe, GV cần hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc.
GV yêu cầu HS làm bài tập phần Củng cố, mở rộng vào Vở thực hành Ngữ văn 7, tập một hoặc vở bài tập. Với phần Thực hành đọc, GV có thể thiết kế một số câu hỏi t
GV yêu cầu HS làm bài tập phần Củng cố, mở rộng vào Vở thực hành Ngữ văn 7, tập một hoặc vở bài tập. Với phần Thực hành đọc, GV có thể thiết kế một số câu hỏi trắc nghiệm, tự luận để HS thực hiện ở lớp hoặc ở nhà.
Bài tập 1
Yêu cầu HS ghi lại một chi tiết tiêu biểu, đáng nhớ nhất về nhân vật trong các VB Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ, Người thầy đầu tiên và giải thích ngắn gọn lí do lựa chọn. Bài tập này giúp HS củng cố tri thức về chi tiết trong tác phẩm văn học và kĩ năng đọc hiểu truyện ngắn.
Bài tập 2
Yêu cầu HS tự chọn một nhân vật văn học yêu thích, liệt kê một số chi tiết miêu tả
nhân vật, từ đó chỉ ra đặc điểm của nhân vật. Bài tập này yêu cầu HS vận dụng tri thức về nhân vật văn học, cách phân tích đặc điểm nhân vật để đọc hiểu và cảm nhận về nhân vật trong một tác phẩm văn học. GV cần kiểm soát được kết quả thực hiện nhiệm vụ ở nhà của HS thông qua các hình thức kiểm tra đa dạng (đề nghị một số HS trình bày kết quả làm bài tập trong buổi học tiếp theo, chấm vở bài tập của HS,…).
Trang 108
Trang 109
Trang 110
Trang 111
Trang 112
VĂN BẢN 1. MÙA XUÂN NHO NHỎ (Thanh Hải) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận xét, đánh giá được nét độc đáo của bài thơ thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh, vần, nh
VĂN BẢN 1. MÙA XUÂN NHO NHỎ
(Thanh Hải)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận xét, đánh giá được nét độc đáo của bài thơ thể hiện qua từ ngữ, hình ảnh, vần, nhịp và các biện pháp tu từ.
– HS cảm nhận được tình cảm, cảm xúc, sự rung động của tác giả trước vẻ đẹp của mùa xuân,
qua đó thấy được tình yêu đất nước, lòng yêu mến, tự hào về vẻ đẹp của đất nước mà nhà thơ Thanh Hải thể hiện qua toàn bộ cấu trúc hình tượng và ngôn từ của VB.
qua đó thấy được tình yêu đất nước, lòng yêu mến, tự hào về vẻ đẹp của đất nước mà nhà thơ Thanh Hải thể hiện qua toàn bộ cấu trúc hình tượng và ngôn từ của VB.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
SHS đã gợi ý cách khởi động, nội dung của gợi ý này là HS trình bày những ấn tượng đáng nhớ của mình về mùa xuân, đồng thời đọc một vài đoạn thơ mà mình yêu thích viết về mùa xuân. GV cần tạo không khí cởi mở để HS có thể thoải mái chia sẻ những trải nghiệm, cảm xúc của mình. Từ đó, chuẩn bị tâm thế cho việc tiếp nhận bài học. Ngoài ra, GV có thể cho HS xem một vài bức tranh, bức ảnh về mùa xuân để kết nối hiểu biết, trải nghiệm của HS với VB một cách thú vị và hiệu quả.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS cần được khuyến khích đọc VB trước khi đến lớp. GV đọc mẫu một lần, sau đó gọi một vài HS lần lượt đọc trước lớp. GV hướng dẫn ngữ điệu đọc phù hợp với nội dung bài thơ. Phần đầu miêu tả mùa xuân của thiên nhiên đất trời nên đọc với giọng nhẹ nhàng, say mê; nhịp thơ khoan thai, thong thả. Phần nói về mùa xuân đất nước nên đọc với tốc độ nhanh hơn để làm nổi bật cái xốn xang, hối hả của đất nước vào xuân. Phần nói về ước nguyện của nhà thơ nên đọc với giọng thiết tha; khi đọc phần này nên nhấn mạnh vào những hình ảnh: con chim hót, một cành hoa, một nốt trầm xao xuyến,…
GV nói khái quát về ý nghĩa của các chiến lược đọc đặt ở bên phải VB. GV lưu ý HS: Trong VB này, các em sử dụng chiến lược hình dung để có thể vẽ nên trong tâm trí mình bức tranh về mùa xuân của đất trời từ những màu sắc, âm thanh được tác giả miêu tả và chiến lược liên tưởng để cảm nhận về khát vọng của nhà thơ qua những hình ảnh: con chim, cành hoa, nốt trầm, mùa xuân nho nhỏ,…
- GV hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó, một số từ đã được chú thích ở
chân trang. HS đã được yêu cầu chuẩn bị bài ở nhà, ở lớp GV kiểm tra lại mức độ hiểu nghĩa từ ngữ khó của HS. Chẳng hạn: chiền chiện, Nam ai, Nam bình, phách tiền,…
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV có thể cho HS tự đọc phần giới thiệu về tác giả Thanh Hải trong SHS, trang 91 để các em nắm được những kiến thức về cuộc đời, về phong cách nghệ thuật của nhà thơ và nắm được hoàn cảnh sáng tác đặc biệt của bài thơ Mùa xuân nho nhỏ. GV có thể bổ sung, nhấn mạnh một số thông tin quan trọng như: Thanh Hải là nhà thơ hiện đại Việt Nam trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ; ông được đánh giá là cây bút có nhiều đóng góp vào việc xây dựng nền văn học miền Nam trong thời gian đầu tiên; bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được tác giả sáng tác khi nằm trên giường bệnh, một tháng trước khi qua đời, trong hoàn cảnh đất nước đã thống nhất, đang xây dựng cuộc sống mới nhưng còn vô vàn khó khăn, gian khổ, thử thách,… Chính những thông tin này sẽ có ý nghĩa rất quan trọng, tạo tâm thế thuận lợi cho HS trong việc đi vào khám phá VB.
Hệ thống câu hỏi sau khi đọc ở đây được triển khai theo các mức năng lực nhận biết (câu 1, 2, 4); phân tích, suy luận (câu 3, 5); đánh giá, vận dụng (câu 6, 7).
Hệ thống câu hỏi sau khi đọc ở đây được triển khai theo các mức năng lực nhận biết (câu 1, 2, 4); phân tích, suy luận (câu 3, 5); đánh giá, vận dụng (câu 6, 7). GV có thể kết hợp hoặc chia tách các câu hỏi để tạo thành những câu hỏi mới tuỳ theo đối tượng HS.
Câu hỏi 1
GV hướng dẫn HS tìm hiểu một đặc điểm rất quan trọng của thơ trữ tình gắn với việc sử dụng hình ảnh ở bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, đó là những hình ảnh dòng sông xanh, bông hoa tím biếc, con chim chiền chiện, giọt long lanh,... Với việc sử dụng những hình ảnh đó, Thanh Hải đã vẽ nên bức tranh mùa xuân trong sáng, tràn đầy sức sống.
Câu hỏi 2
Mục đích của câu hỏi là hướng HS đến việc tìm hiểu cảm xúc của nhà thơ trước vẻ đẹp của mùa xuân được thể hiện trong những dòng thơ. GV cần gợi ý cho HS nhận ra ý nghĩa của từng hình ảnh cụ thể trong mỗi dòng thơ và sau đó chỉ ra mối liên hệ của các hình ảnh thơ để cảm nhận được cảm xúc của nhà thơ. Chẳng hạn:
Trong hai dòng thơ đầu, hình ảnh "con chim chiền chiện" vụt thoáng qua không gian nhưng lại đọng lại trong tiếng gọi thiết tha của nhà thơ: Ơi, con chim chiền chiện/ Hót chi mà vang trời. Vừa là tiếng gọi (Ơi, con chim…), vừa là câu hỏi nhưng cũng là lời khẳng định bộc lộ niềm hân hoan của nhà thơ (Hót chi mà…). Hình ảnh con chim chiền chiện với tiếng hót vang ngân trên bầu trời, trong không gian của mùa xuân cũng là nhịp cảm xúc dâng trào vừa trong trẻo vừa thiết tha, sôi nổi trong tâm hồn nhà thơ.
Trong hai dòng thơ sau, tiếng chim như đọng lại trong không gian thành những giọt thanh âm "long lanh" toả sáng, rực rỡ như giọt sương, giọt mưa xuân đã thu vào trong đó ánh sáng trong ngần và nhà thơ trân trọng đón nhận từng giọt âm thanh của tiếng chim - ánh sáng bầu trời mùa xuân.
Sau khi gợi ý phân tích từng dòng thơ, GV hướng dẫn để HS rút ra nhận xét về cảm xúc của nhà thơ: niềm vui sướng, lạc quan, yêu đời; niềm say sưa, ngây ngất trước vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất lúc vào xuân.
Câu hỏi 3
Câu hỏi 3 yêu cầu ở mức độ cao hơn so với các câu hỏi trước đó. GV cần hướng dẫn HS phân tích để chỉ ra được "người cầm súng", "người ra đồng" gợi nhắc đến ai và lí do vì sao khi nói về mùa xuân của đất nước, nhà thơ lại nhắc đến hai hình ảnh đó. Trước khi yêu cầu HS trả lời, GV có thể đặt câu hỏi: Hình ảnh người cầm súng là biểu tượng của ai? Hình ảnh người ra đồng gợi nhắc đến ai? Vì sao trong nhiều hình ảnh có thể chọn để diễn tả cảm xúc về mùa xuân, nhà thơ lại ưu tiên chọn người cầm súng và người ra đồng?
GV gợi ý và phân tích thêm: Nhà thơ Thanh Hải đã cảm nhận và tái hiện khung cảnh mùa xuân của đất nước qua hai hình ảnh giàu ý nghĩa biểu tượng là người cầm súng và người ra đồng. Hình ảnh "người cầm súng" là biểu tượng của người chiến sĩ nơi tiền tuyến còn hình ảnh "người ra đồng" gợi nhắc đến những người nông dân lao động ở hậu phương. Đó cũng là hai hình ảnh biểu tượng cho hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng nhất của đất nước ta ở thời điểm bài thơ ra đời: chiến đấu và sản xuất, bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Hình ảnh "người cầm súng"
và "người ra đồng" đều gắn với hình ảnh lộc non mùa xuân: lộc giắt đầy bên lưng và lộc trải dài nương mạ - gắn với sự sống của mùa xuân. Người cầm súng cũng là
và "người ra đồng" đều gắn với hình ảnh lộc non mùa xuân: lộc giắt đầy bên lưng và lộc trải dài nương mạ - gắn với sự sống của mùa xuân. Người cầm súng cũng là để bảo vệ sự sống. Người ra đồng là để gieo trồng mầm xanh của sự sống. Tất cả đều vì vẻ đẹp của cuộc sống hoà bình, vì sự sống trong mùa xuân đất nước.
Câu hỏi 4
Câu hỏi 4 hướng HS tìm hiểu về cách gieo vần và ngắt nhịp trong khổ thơ thứ 3. GV gợi ý cho HS nhớ lại những đặc điểm về cách gieo vần và ngắt nhịp của thể thơ năm chữ mà các em đã học ở bài 2. Khúc nhạc tâm hồn. Vận dụng vào khổ thơ này, các em sẽ dễ dàng chỉ ra trong khổ thơ các tiếng cùng vần với nhau là: lao - sao và là vần chân.
Về ngắt nhịp, các dòng thơ trong khổ thơ ngắt theo nhịp 2/3, 3/2, cụ thể: Ðất nước/ bốn ngàn năm - Vất vả/ và gian lao - Ðất nước/ như vì sao - Cứ đi lên/ phía trước.
Câu hỏi 5
Câu hỏi hướng đến mục đích hình thành kĩ năng phân tích, cảm thụ thơ cho HS. GV cần
khuyến khích HS phân tích những hình ảnh đặc sắc trong VB: "con chim", "một cành hoa", "một nốt trầm" để cảm nhận được ước nguyện của nhà thơ.
GV có thể hướng dẫn HS trả lời câu hỏi này bằng các gợi ý: Các hình ảnh "con chim", "một cành hoa", "một nốt trầm" có những điểm chung gì? Tại sao nhà thơ lại lựa chọn những hình ảnh ấy để bộc lộ khao khát, ước nguyện của mình?
GV định hướng trả lời: Đây là những hình ảnh nhỏ bé, bình dị, khiêm nhường của thiên nhiên, của cuộc sống. Chúng mang lại niềm vui, niềm yêu sống cho tác giả. Đồng thời những hình ảnh này cũng thể hiện ước nguyện chân thành, tha thiết của nhà thơ: muốn cống hiến phần tốt đẹp - dù nhỏ bé - của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước, cho mùa xuân của dân tộc. Liên hệ với hoàn cảnh ra đời đặc biệt của bài thơ - một tháng trước khi nhà thơ qua đời - ta sẽ càng cảm nhận được một cách sâu sắc, thấm thía cái ước nguyện mãnh liệt, cháy bỏng ấy.
Câu hỏi 6
Giải quyết yêu cầu của câu hỏi này, HS hiểu được lí do vì sao trong phần đầu bài thơ, tác giả xưng "tôi" nhưng sang phần sau lại xưng "ta" và nêu được ý nghĩa của việc thay đổi cách xưng hô đó.
GV cần khuyến khích HS bám sát câu chữ trong VB để cảm nhận được tình cảm của tác giả qua sự thay đổi cách xưng hô. GV có thể gợi ý và mời một số HS trả lời: Giữa hai phần của bài thơ có sự chuyển đổi đại từ nhân xưng của chủ thể trữ tình. Việc xưng "tôi" có ý nghĩa gì? Việc chuyển sang xưng "ta" mang ý nghĩa gì?
Từ các câu trả lời của HS, GV có thể kết luận về ý nghĩa của sự chuyển đổi cách xưng hô này. Tôi: biểu hiện một cái "tôi" cụ thể, rất riêng của nhà thơ; ta: thể hiện khát khao không chỉ của riêng tác giả mà còn của nhiều người, của số đông. Việc chuyển đổi này biểu hiện sự hoà quyện giữa cái riêng và cái chung. Cái "tôi" của tác giả đã nói thay cho nhiều cái "tôi" khác, nó hoá thân thành cái "ta". Cái "tôi" đã hoà vào cái "ta" chung. Trong cái "ta" chung vẫn có cái "tôi" riêng.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT NGỮ CẢNH VÀ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ TRONG NGỮ CẢNH, BIỆN PHÁP TU TỪ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – Thông qua việc thực hiện các bài tập của phần T
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
NGỮ CẢNH VÀ NGHĨA CỦA TỪ NGỮ TRONG NGỮ CẢNH, BIỆN PHÁP TU TỪ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– Thông qua việc thực hiện các bài tập của phần Thực hành tiếng Việt, HS hiểu được khái niệm ngữ cảnh, nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh và biết vận dụng để dùng từ ngữ đúng với ngữ cảnh.
HS củng cố kiến thức về biện pháp tu từ thông qua việc nhận biết và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ. 2. Gợi ý tổ chức hoạt động
HS củng cố kiến thức về biện pháp tu từ thông qua việc nhận biết và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
GV có thể hình thành kiến thức mới cho HS bằng một trong hai cách sau: - Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ: GV đưa ra các ví dụ về từ ngữ trong ngữ cảnh (có thể lấy ví dụ trong SHS hoặc ví dụ ở bên ngoài), sau đó, nêu vấn đề để HS tìm hiểu và rút ra kết luận. Chẳng hạn, GV đưa ra yêu cầu: Em hãy chỉ ra sự khác biệt về nghĩa của từ áo nâu trong câu thơ: "Áo nâu liền với áo xanh/ Nông thôn cùng với thị thành đứng lên" với nghĩa của từ áo nâu trong câu: "Tôi mua biếu bà chiếc áo nâu.". Em dựa vào đâu để nhận biết nghĩa của từ áo nâu trong từng ví dụ đó? Sau khi HS trả lời, GV rút ra kết luận: Trong những ngữ cảnh
khác nhau, từ ngữ sẽ mang những nét nghĩa khác nhau. Để hiểu rõ hơn về ngữ cảnh và nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu bài học.
Sử dụng phương pháp thông báo, giải thích: GV đưa ra khái niệm ngữ cảnh và nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh (như trong SHS). GV và HS cùng lấy ví dụ để làm sáng tỏ cho khái niệm đó.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
GV có thể cho HS tiến hành luyện tập theo hình thức làm việc cá nhân hoặc theo cặp, theo nhóm.
Bài tập 1
Mục đích của bài tập này là để HS nắm được kiến thức về nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh. GV hướng dẫn HS thực hiện bài tập theo các bước:
Chỉ ra nghĩa của từ trong từ điển. + Chỉ ra nghĩa của từ trong ngữ cảnh cụ thể. + Nêu tác dụng của việc sử dụng từ đó trong từng ngữ cảnh.
a. Trong từ điển, từ lộc có nghĩa là chồi lá non. Từ lộc trong Lộc giắt đầy bên lưng và Lộc trải dài nương mạ vừa có nghĩa thực là chồi non, lá non vừa có nghĩa ẩn dụ là may mắn, hạnh phúc. Như vậy, với cách sử dụng từ lộc, nhà thơ Thanh Hải đã diễn tả được: Người cầm súng như mang theo sức xuân trên đường hành quân, người ra đồng như gieo mùa xuân trên từng nương mạ. Chính người cầm súng và người ra đồng đã làm nên mùa xuân hạnh phúc cho đất nước.
b. Trong từ điển, từ đi có nghĩa là di chuyển từ chỗ này đến chỗ khác. Từ đi trong Ðất nước như vì sao/ Cứ đi lên phía trước có nghĩa là tiến lên, phát triển. Với việc sử dụng từ đi, nhà thơ đã thể hiện được niềm tin vào bước tiến vững vàng của đất nước trong tương lai.
c. Trong từ điển, từ làm có nghĩa là dùng công sức vào những việc khác nhau, nhằm mục đích nhất định nào đó. Từ làm trong Ta làm con chim hót/ Ta làm một cành h
c. Trong từ điển, từ làm có nghĩa là dùng công sức vào những việc khác nhau, nhằm mục đích nhất định nào đó. Từ làm trong Ta làm con chim hót/ Ta làm một cành hoa có nghĩa là hoá thành, biến thành. Nhà thơ Thanh Hải đã thể hiện ước nguyện hoá thân thành con chim hót, thành một cành hoa… để dâng hiến cho cuộc đời, làm đẹp cho đời.
Bài tập 2
Bài tập này tiếp tục hướng đến việc củng cố kiến thức về nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh cho HS thông qua yêu cầu tìm hiểu nghĩa của từ giọt trong đoạn thơ: "Ơi, con chim chiền chiện/ Hót chi mà vang trời/ Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay tôi hứng". Có người hiểu giọt trong trường hợp này là giọt sương, có người hiểu là giọt mưa xuân, có người lại cho là giọt âm thanh tiếng chim,… GV nên khuyến khích HS trình bày suy nghĩ riêng của mình, đưa ra được cách lí giải hợp lí, thuyết phục. GV có thể gợi ý cho HS: Theo định nghĩa trong từ điển, nghĩa của từ giọt trong giọt
mưa, giọt nước, giọt sương là chỉ lượng rất nhỏ chất lỏng, có dạng hạt. Trong trường hợp này, dựa trên ngữ cảnh (giọt long lanh) có thể hiểu là giọt âm thanh - tiếng chim hót. Nhưng vì chỉ có từ long lanh - chỉ tính chất sáng, đẹp của giọt mà không có từ chỉ sự vật cụ thể như mưa, sương, nước hay tiếng chim nên có thể gợi liên tưởng đến giọt mùa xuân - sức sống của mùa xuân đang dâng tràn, dào dạt.
Bài tập 3
Với bài tập này, HS cần vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ đã được học để nhận diện các biện pháp tu từ đồng thời nêu tác dụng của chúng. HS có thể chọn những biện pháp tu từ khác nhau: so sánh, điệp ngữ, ẩn dụ,… - Chẳng hạn, HS có thể chọn biện pháp tu từ ẩn dụ như là biện pháp tu từ có vị trí nổi bật nhất trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ. Biện pháp tu từ ẩn dụ qua những hình ảnh mùa xuân nho nhỏ, một cành hoa, một nốt trầm,… thể hiện ước nguyện chân thành, tha thiết của nhà thơ: được cống hiến những gì tốt đẹp, dù nhỏ bé, đơn sơ cho cuộc đời. - Nếu HS chọn biện pháp tu từ so sánh, GV cần hướng dẫn HS phân tích để chỉ ra được biện pháp tu từ so sánh được sử dụng trong một số dòng thơ và tác dụng của nó. Chẳng hạn với hai dòng thơ: Đất nước như vì sao/ Cứ đi lên phía trước, GV có thể đặt câu hỏi: Tác giả so sánh đất nước với hình ảnh nào? Việc dùng hình ảnh so sánh đó mang lại hiệu quả gì trong việc miêu tả vẻ đẹp của đất nước? GV có thể gợi ý để HS nhận ra: Vì sao gợi lên nguồn sáng lấp lánh, vẻ đẹp vĩnh hằng của vũ trụ. Việc so sánh đất nước với vì sao gợi lên hình ảnh rạng ngời của lá cờ Tổ quốc và niềm tự hào của tác giả về đất nước, về tương lai tươi sáng của dân tộc. - Nếu HS chọn biện pháp tu từ điệp ngữ, GV hướng dẫn HS đọc lại VB và chỉ ra những dòng thơ sử dụng biện pháp tu từ điệp ngữ, nêu nhận xét về tác dụng trong từng trường hợp. Ví dụ: Dù là tuổi hai mươi/ Dù là khi tóc bạc: nhấn mạnh sự quyết tâm, khát khao được cống hiến của tác giả. Nước non ngàn dặm mình/ Nước non ngàn dặm tình: nhấn mạnh, làm nổi bật niềm tin yêu, tự hào của tác giả với đất nước, với quê hương.
VĂN BẢN 2. GÒ ME (Trích, Hoàng Tố Nguyên) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước, nỗi nhớ da diết của nhà thơ khi phải xa
VĂN BẢN 2. GÒ ME
(Trích, Hoàng Tố Nguyên)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS cảm nhận được tình yêu quê hương, đất nước, nỗi nhớ da diết của nhà thơ khi phải xa quê hương yêu dấu của mình, thể hiện qua những từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi hình, gợi cảm và các biện pháp tu từ so sánh, nhân hoá, điệp ngữ,… trong bài thơ.
– Thông qua việc phân tích dòng hồi tưởng của tác giả, phân tích sự xáo trộn các bình diện thời gian – di chuyển điểm nhìn từ hiện tại về quá khứ rồi từ quá khứ trở về hiện tại, HS cảm nhận được hình ảnh Gò Me hiện lên với vẻ đẹp nên thơ, sống động.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Theo gợi ý của SHS, GV có thể nêu câu hỏi nhằm hướng sự quan tâm của HS tới miền đất Nam Bộ. GV có thể gợi ý để HS nhớ lại bài thơ viết về miền đất Nam Bộ đã học trong SGK Ngữ văn 6, tập một và đọc cho cả lớp nghe một đoạn thơ mà em thích trong bài thơ đó (Cửu Long Giang ta ơi của Nguyễn Hồng). Chính điều này sẽ tạo điều kiện để GV dẫn dắt HS vào bài đọc một cách tự nhiên, sinh động.
Cũng trong phần khởi động này, GV khuyến khích HS chia sẻ những điều em biết về vẻ đẹp của miền đất này. Yêu cầu này nhằm huy động những trải nghiệm sẵn có của HS để từ đó các em dễ dàng đồng cảm với nỗi niềm cảm xúc mà tác giả bộc lộ trong bài thơ Gò Me.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
– GV yêu cầu HS đọc VB trước khi đến lớp. Ở trên lớp, GV đọc mẫu một lần, sau đó mời một vài HS lần lượt đọc VB. Nhắc HS chú ý đọc một cách diễn cảm, lưu loát, ngắt, nghỉ đúng, phù hợp với âm điệu, vần, nhịp của từng dòng thơ. Giọng điệu nên có sự thay đổi linh hoạt, phù hợp với những sắc thái tình cảm của tác giả. Chẳng hạn, đoạn đầu bài thơ giới thiệu về quê hương: Quê tôi đó: mặt trông ra bể/ Đốm hải đăng tắt, loé đêm đêm/ Con đê cát đỏ cỏ viền/ Leng keng nhạc ngựa ngược lên chợ Gò… nên đọc với giọng vui tươi, tự hào. Đoạn thơ hồi tưởng về những kỉ niệm tuổi thơ gắn bó với quê hương: Ôi, thuở ấu thơ/ Cắt cỏ, chăn bò/ Gối đầu lên áo/ Nằm dưới hàng me, nghe tre thổi sáo… nên chuyển sang đọc với giọng thiết tha, sâu lắng,…
– GV nói khái quát về ý nghĩa của các chỉ dẫn trong khi đọc đặt ở bên phải VB. GV lưu ý HS: Trong VB này, các em chủ yếu sử dụng chiến lược hình dung để có thể vẽ nên trong tâm trí mình bức tranh về quê hương Gò Me từ ánh sáng, âm thanh, không gian đến những con người nơi đây. GV hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó được chú thích ở chân trang. HS đã chuẩn bị bài ở nhà, tới lớp GV cần kiểm tra lại mức độ hiểu nghĩa từ ngữ khó của HS. Ví dụ: lúa nàng keo, núi đồng tiền, nọc cấy, sặc lịch, tră, lụy,…
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
– GV có thể dành vài phút cho HS tự đọc những thông tin giới thiệu về tác giả
Hoàng Tố Nguyên trong SHS, trang 93. Sau đó GV sẽ bổ sung kiến thức về cuộc đời tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ Gò Me cũng như phong cách nghệ thuật của nhà
Hoàng Tố Nguyên trong SHS, trang 93. Sau đó GV sẽ bổ sung kiến thức về cuộc đời tác giả, hoàn cảnh sáng tác bài thơ Gò Me cũng như phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Chính những thông tin này có khả năng khơi gợi cảm hứng cho HS, tạo tâm thế thuận lợi cho HS đi vào khám phá VB.
Nhà thơ Hoàng Tố Nguyên có số phận đặc biệt. Được sinh ra ở Gò Công, Tiền Giang nhưng ông sớm rời quê lên Sài Gòn. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc và sống ở miền Bắc đến hết cuộc đời. Thơ Hoàng Tố Nguyên đậm chất Nam Bộ, thể hiện tâm hồn tinh tế, tha thiết yêu đất nước, quê hương. Bài thơ Gò Me được Hoàng Tố Nguyên sáng tác năm 1956 - thời kì đất nước bị chia cắt. Nội dung bài thơ thể hiện lòng nhớ thương quê hương da diết của một người con Nam Bộ đang sống trên đất Bắc. Qua dòng hồi tưởng của tác giả, hình ảnh Gò Me hiện lên sống động, khiến người đọc có cảm giác như tác giả đang thấy, đang nghe, đang trực tiếp sống với những hình ảnh thân thương, bình dị của quê hương.
Sau khi giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm và nêu hướng khai thác, khám phá VB,
GV lần lượt hướng dẫn HS đi vào trả lời câu hỏi. Hệ thống câu hỏi sau khi đọc được chia thành các nhóm như sau: nhận biết (câu 1, 2); phân tích, suy luận (câu 3, 4, 5) và đánh giá, vận dụng (câu 6). Dựa trên những câu hỏi này, GV có thể tăng hoặc giảm phạm vi, độ khó để tạo thành những câu hỏi mới tuỳ theo đối tượng HS.
Câu hỏi 1
Thực hiện yêu cầu của câu hỏi 1, HS sẽ cảm nhận được những điểm nổi bật của cảnh sắc Gò Me hiện lên qua nỗi nhớ của nhà thơ - một người con phải sống xa quê. Hầu như cả bài thơ đều khắc hoạ vẻ đẹp của Gò Me, dòng thơ nào cũng hướng đến việc ca ngợi vẻ đẹp nên thơ, xanh mát của vùng đất này. GV yêu cầu HS liệt kê những chi tiết miêu tả vẻ đẹp của cảnh sắc nơi đây như: Con đê cát đỏ cỏ viền; Ruộng vây quanh, bốn mùa gió mát/ Lúa nàng keo chói rực mặt trời/ Ao làng trăng tắm, mây bơi/ Nước trong như nước mắt người tôi yêu; Me non cong vắt lưỡi liềm/ Lá xanh như dải lụa mềm lửng lơ;…
Câu hỏi 2
Câu hỏi 2 nhằm lưu ý HS về một mục tiêu của bài học: nhận biết được nét độc đáo của thơ trữ tình qua các từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi. Với câu hỏi này, HS cần chỉ ra được những chi tiết thể hiện hình ảnh người dân Gò Me và qua đó nêu được cảm nhận về những con người mà cuộc sống của họ gắn với ruộng đồng vùng sông nước này.
- GV gợi ý bằng cách nêu những câu hỏi nhỏ để HS chỉ ra một số chi tiết có tác dụng gợi tả vẻ đẹp của người dân Gò Me: Những chi tiết nào miêu tả ngoại hình của các cô gái Gò Me? Những chi tiết nào miêu tả phẩm chất, tâm hồn của họ? Từ những chi tiết đó, em có cảm nhận gì về con người nơi đây?
GV định hướng trả lời: Những chi tiết đặc sắc thể hiện hình ảnh người dân Gò Me: Những chị, những em má núng đồng tiền/ Nọc cấy, tay tròn, nghiêng nón làm duyên/ Véo von điệu hát cổ truyền; Chị tôi má đỏ, thẹn thò/ Giã me bên trã canh chua ngọt ngào;… Những chi tiết đó đã gợi lên hình ảnh những con người lao động chân chất, khoẻ khoắn, duyên dáng, yêu đời, gắn bó với quê hương xứ sở,…
Câu hỏi 3 Để giải quyết câu hỏi này, GV có thể hướng dẫn HS theo những gợi ý sau: - GV yêu cầu HS đọc lại hai đoạn thơ trong đó có dẫn lại câu hò. Điều này sẽ t
Câu hỏi 3
Để giải quyết câu hỏi này, GV có thể hướng dẫn HS theo những gợi ý sau: - GV yêu cầu HS đọc lại hai đoạn thơ trong đó có dẫn lại câu hò. Điều này sẽ tạo cho HS tâm thế thuận lợi để cảm nhận được mối liên quan giữa dòng thơ nói về giọng hò với mạch ý tưởng, cảm xúc của toàn bài thơ. - Tiếp đến, GV gợi ý để HS cảm nhận được ý nghĩa của việc nhà thơ hai lần dẫn lại câu hò khi nhớ về Gò Me: thể hiện tình yêu và nỗi nhớ da diết đối với quê hương, với những sinh hoạt văn hoá truyền thống của quê hương. Chính điệu hò đã góp phần quan trọng làm nên vẻ đẹp, bản sắc của vùng đất này, nên người đi xa khi nhớ về quê hương thường nhớ về những câu hò thân thương.
Câu hỏi 4
Mục đích của câu hỏi này là khắc sâu cho HS tri thức về hình ảnh trong thơ trữ tình
đã được đề cập đến trong Tri thức ngữ văn. GV hướng dẫn HS chỉ ra được một số hình ảnh sinh động, giàu sức gợi trong VB đồng thời nói rõ lí do vì sao em thích những hình ảnh đó. GV có thể gợi ý: Em hãy liệt kê một số hình ảnh sinh động, giàu sức gợi trong bài thơ. Trong số những hình ảnh đó, em thích những hình ảnh nào? Chia sẻ lí do vì sao em thích những hình ảnh đó. Dưới sự hướng dẫn của GV, HS chỉ ra một số hình ảnh sinh động, giàu sức gợi trong VB: hình ảnh miêu tả âm thanh, màu sắc, không gian của Gò Me; hình ảnh miêu tả vẻ đẹp của con người; hình ảnh tái hiện những kỉ niệm thuở ấu thơ đáng nhớ của nhà thơ ở Gò Me;… Đây là câu hỏi mà HS có thể có nhiều phương án trả lời nên GV cần khuyến khích các em phát huy được sự chủ động, trình bày được những cảm nhận riêng của mình.
Câu hỏi 5
Giải quyết yêu cầu của câu hỏi này, HS cần cảm nhận được tình cảm của tác giả đối với quê hương, đất nước được thể hiện trong bài thơ. GV hướng dẫn HS nhìn bao quát toàn bộ đoạn trích, sau đó nêu các câu hỏi gợi ý: Em cảm nhận như thế nào về tình cảm của tác giả đối với Gò Me? Em hãy chỉ ra những biểu hiện của tình yêu quê hương, đất nước được thể hiện trong bài thơ. GV gợi ý và phân tích thêm: Tình yêu của tác giả đối với Gò Me cứ lớn dần và sâu sắc hơn qua năm tháng, từ thuở ấu thơ đến khi trưởng thành. Tình yêu đó thể hiện ở sự gắn bó với quê hương, nỗi nhớ da diết khi phải xa quê và niềm tự hào về vẻ đẹp của quê hương - vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, văn hoá, lịch sử,…
Câu hỏi 6
Để giải quyết yêu cầu của câu hỏi này, GV hướng dẫn HS nhớ lại một số tác phẩm mà em đã học, đã đọc trong đó tác giả cũng lấy tên một vùng đất làm nhan đề tương tự như bài thơ Gò Me. GV có thể tạo không khí và sự hứng thú cho HS bằng cách nêu các gợi ý: Em có nhớ tên tác phẩm du kí nổi tiếng Nguyễn Tuân viết về một hòn đảo ở Quảng Ninh? Em đã được học tác phẩm nào viết về một hang động nổi tiếng của Quảng Bình? Những dòng thơ "Ngày xưa ta
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT NGHĨA CỦA TỪ NGỮ, DẤU CÂU, BIỆN PHÁP TU TỪ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Bài học này không có những tri thức tiếng Việt mới, không có yêu cầ
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
NGHĨA CỦA TỪ NGỮ, DẤU CÂU, BIỆN PHÁP TU TỪ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Bài học này không có những tri thức tiếng Việt mới, không có yêu cầu cần đạt về việc hình thành khái niệm, thuật ngữ mới cho HS. Mục tiêu của bài học chỉ là thông qua việc thực hiện các bài tập của phần Thực hành tiếng Việt, HS củng cố kiến thức về nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh, dấu câu, biện pháp tu từ đã học và vận dụng được trong giao tiếp.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Củng cố kiến thức đã học
– Trước hết, GV tiếp tục củng cố kiến thức về nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh bằng cách cho HS nhắc lại nghĩa của một số từ trong bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (lộc, giọt,...), cho HS so sánh nghĩa của những từ đó trong từ điển và trong bài thơ.
– GV cũng cần củng cố cho HS kiến thức về đặc điểm và công dụng của một số loại dấu câu. GV có thể nêu những yêu cầu: Em hãy cho biết công dụng của dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép. Với mỗi loại dấu câu, em hãy lấy một ví dụ. GV có thể dựa trên những ví dụ mà HS đưa ra hoặc có thể lấy thêm những ví dụ khác (trong hoặc ngoài SHS) để củng cố cho HS công dụng của các loại dấu câu này.
– Bên cạnh kiến thức về nghĩa của từ ngữ trong ngữ cảnh và dấu câu, GV củng cố cho HS kiến thức về các biện pháp tu từ: so sánh, nhân hoá,... GV có thể sử dụng phương pháp thông báo, giải thích: nhắc lại dấu hiệu nhận biết và tác dụng của các biện pháp tu từ này, sau đó GV và HS cùng lấy ví dụ để làm rõ đặc điểm, tác dụng của từng loại.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
GV yêu cầu HS đọc kĩ yêu cầu của từng bài tập; chỗ nào HS chưa hiểu, GV có thể giải thích, làm rõ hơn, sau đó lần lượt cho HS thực hành từng bài tập cụ thể. GV có thể cho HS thực hành luyện tập theo hình thức làm việc cá nhân hoặc theo cặp, nhóm.
Bài tập 1 Với bài tập này, GV gợi ý để HS nhận biết và chỉ ra được sự khác biệt về nghĩa của từ thở trong những ngữ cảnh khác nhau: Mái lá khoan thai thở làn kh
Bài tập 1
Với bài tập này, GV gợi ý để HS nhận biết và chỉ ra được sự khác biệt về nghĩa của từ thở trong những ngữ cảnh khác nhau:
Mái lá khoan thai thở làn khói nhẹ: thở có nghĩa là phả ra, toả ra. Em bé thở đều đều khi ngủ say: thở là hoạt động của con người - hít không khí vào lồng ngực, vào cơ thể rồi đưa trở ra qua mũi, miệng.
Sau khi HS chỉ ra được sự khác biệt về nghĩa đó, GV có thể nêu câu hỏi mở rộng thêm: Em rút ra được kinh nghiệm gì khi đọc VB văn học, nhất là VB thơ?
GV thống nhất: Ngôn ngữ trong VB văn học, đặc biệt là trong VB thơ mang tính hình tượng; nhà thơ thường sử dụng các biện pháp tu từ như nhân hoá, ẩn dụ, so sánh,… để làm tăng thêm giá trị gợi hình, gợi cảm cho câu thơ. Chính vì thế, để hiểu nghĩa của từ trong VB thơ, ta không thể chỉ xem xét nghĩa trong từ điển mà phải dựa vào ngữ cảnh VB, từ đó khám phá được cái hay, cái đẹp của ngôn ngữ thơ và tài năng của tác giả.
Bài tập 2
Mục đích của bài tập này là củng cố cho HS kiến thức về từ láy, nhận diện và nêu được tác dụng của việc dùng từ láy đó trong câu thơ. GV hướng dẫn HS thực hiện bài tập theo các bước:
Chỉ ra các từ láy trong bài thơ: leng keng, lao xao, xao xuyến, thẹn thò,… - Chọn một từ láy và giải thích nghĩa của từ đó. Chẳng hạn, HS có thể chọn giải thích nghĩa từ xao xuyến: trạng thái xúc động kéo dài, khó dứt.
Nêu tác dụng của việc sử dụng từ láy đó trong câu thơ Gió dìu vương xao xuyến bờ tre: giúp cho câu thơ thêm sinh động, gợi hình, gợi cảm. Nhà thơ đã gợi nên được trạng thái bâng khuâng của sự vật, giúp cho sự vật thêm gần gũi với con người, cũng có những nỗi niềm cảm xúc như con người,…
Bài tập 3
Bài tập này yêu cầu HS chỉ ra công dụng của dấu ngoặc đơn và dấu ngoặc kép trong bài thơ Gò Me:
Ví dụ:
Véo von điệu hát cổ truyền (Tre thôi khúc khích, mây chìm lắng nghe): "- Hò... ơ... Trai Biên Hoà luỵ gái Gò Me
Không vì sắc lịch, mà chỉ vì mê giọng hò…".
Dấu ngoặc đơn: có công dụng đánh dấu phần bổ sung thêm thông tin cho phần trước đó. Dấu ngoặc kép: có tác dụng đánh dấu từ ngữ, câu, đoạn dẫn trực tiếp.
Bài tập 4
Với bài tập này, HS cần vận dụng kiến thức đã được học để nhận diện các biện pháp tu từ, đồng thời nêu tác dụng của các biện pháp tu từ đó.
VĂN BẢN 3. BÀI THƠ ĐƯỜNG NÚI CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI (Vũ Quần Phương) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS cảm nhận được tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước củ
VĂN BẢN 3. BÀI THƠ ĐƯỜNG NÚI CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI
(Vũ Quần Phương)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS cảm nhận được tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương, đất nước của nhà thơ thể hiện trong tác phẩm và cảm nhận được sự đồng cảm của nhà phê bình với những tình cảm, cảm xúc của nhà thơ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học Hoạt động 1 Khởi động VB 3 chỉ được dạy trong thời gian 1 tiết học, nên nhìn chung kiến thức mà GV đưa ra cũng cần nhẹ nhàng,
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
VB 3 chỉ được dạy trong thời gian 1 tiết học, nên nhìn chung kiến thức mà GV đưa ra cũng cần nhẹ nhàng, không đặt ra yêu cầu làm rõ mã thể loại mà chỉ nhằm mục đích kết nối về chủ đề giai điệu đất nước. Chính vì thế, với VB này, để tạo không khí, GV có thể nêu một số câu hỏi cho HS: Em đã đến tỉnh nào của vùng núi nước ta chưa? Em hãy chia sẻ một vài cảm nhận của mình về vùng đất đó sau khi đã trực tiếp đến hoặc được xem qua sách báo, truyền hình,…
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS được yêu cầu đọc VB trước khi đến lớp. GV hướng dẫn HS cách đọc phù hợp với VB nghị luận: chậm rãi, rõ ràng, chú ý ngừng, nghỉ ở những chỗ tách đoạn, nhấn mạnh ý kiến của người viết (thường được nêu ở câu đầu đoạn).
GV có thể đọc mẫu một đoạn đầu, sau đó chỉ định một số HS đọc tiếp những phần còn lại. Lưu ý: chỉ nên để mỗi HS đọc một đoạn có độ dài vừa phải, không để HS nào phải đọc một đoạn quá dài.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Đây là hoạt động chính của khâu đọc hiểu. Để hướng dẫn HS khám phá VB, GV cần phối hợp nhiều hoạt động, trong đó việc hướng dẫn HS đi vào tìm hiểu hệ thống câu hỏi được gợi ý trong SHS để thông qua đó khai thác các vấn đề nội dung và hình thức của VB là rất quan trọng. Những câu hỏi này là những gợi ý, định hướng cần thiết cho việc tổ chức các hoạt động trong thiết kế bài dạy của GV. Tuỳ theo tình hình cụ thể, GV có thể đảo trật tự các câu hỏi hoặc tách, ghép các phần của câu hỏi để tạo thành những câu hỏi mới.
Câu hỏi 1
Câu hỏi này yêu cầu HS nêu cảm nhận chung của mình về bài thơ Đường núi trước và sau khi đọc bài viết của Vũ Quần Phương. GV cần gợi ý để HS nêu những cảm nhận của mình về cảnh sắc thiên nhiên cũng như tình cảm của tác giả được thể hiện trong bài thơ; những đặc sắc trong cách sử dụng từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ, giọng điệu,… Đồng thời, GV cũng khuyến khích HS trình bày sự thay đổi trong cảm nhận của mình về bài thơ Đường núi trước và sau khi đọc bài phê bình, chỉ ra những phát hiện của nhà phê bình về bài thơ khiến mình cảm thấy thú vị.
GV gợi ý và phân tích thêm: Trước khi đọc bài bình của Vũ Quần Phương, có lẽ hầu hết chúng ta thường nghiêng về cảm nhận vẻ đẹp trong trẻo, thanh bình của bức tranh thiên nhiên; sức sống mãnh liệt, lòng yêu đời, yêu cuộc sống của con người nơi vùng núi và qua đó cảm nhận được tình yêu tha thiết của nhà thơ Nguyễn Đình Thi đối với đồng đất núi rừng làng mạc nước non mình. Sau khi đọc bài bình của Vũ Quần Phương, ta thấy
được sự tài hoa, tinh tế của Nguyễn Đình Thi trong lựa chọn từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi tả, gợi cảm; sáng tạo nên âm điệu lắng lại, chơi vơi, thanh nhẹ; tạo đ
được sự tài hoa, tinh tế của Nguyễn Đình Thi trong lựa chọn từ ngữ, hình ảnh giàu sức gợi tả, gợi cảm; sáng tạo nên âm điệu lắng lại, chơi vơi, thanh nhẹ; tạo được một luồng không khí thân yêu trong trẻo run rẩy phủ lấy phong cảnh; ghép nối các mảng không gian khác nhau để tạo thành một bức tranh "siêu thực";…
Câu hỏi 2
Với câu hỏi này, GV khuyến khích HS nêu được những ấn tượng, những cảm nhận của mình về bài bình thơ của Vũ Quần Phương. Đó có thể là sự đồng cảm với những cảm nhận sâu sắc của nhà phê bình về tình cảm, tư tưởng mà nhà thơ gửi gắm trong bài thơ; là sự thích thú trước những phát hiện tinh tế, bất ngờ của người viết về đặc sắc ngôn ngữ, giọng điệu của bài thơ;…
Tiếp đến, GV gợi ý để HS có thể tuỳ ý lựa chọn những câu văn, những ý trong bài bình khiến cho mình phải suy nghĩ sâu sắc hơn về bài thơ đã đọc. Chẳng hạn:
Những câu văn mang tính chất khái quát chủ đề của bài thơ: Bài thơ như bức tranh chấm phá vài nét chiều rừng tiết kiệm cả nét lẫn màu ấy lại thấy nổi rõ lên lòng yêu đất đai thôn bản say đắm của người viết hay tài năng của tác giả: Cái tài của Nguyễn Đình Thi ở bài thơ này là tạo được một luồng không khí thân yêu trong trẻo run rẩy phủ lấy phong cảnh…
Những câu đánh giá về cách thể hiện cảm xúc của nhà thơ: Âm điệu câu thơ là âm điệu của nội tâm, vần bị bỏ rơi. Chỗ nào tâm tình lắng lại thì âm điệu câu thơ lắng lại, chơi vơi, thanh nhẹ. Câu thơ 5 chữ hay 6 chữ không phải do vần điệu thể loại quy định mà do tâm tình tác giả…
Lời bình về đặc sắc của một câu thơ bất kì trong bài thơ: Độ dài câu thơ có tác dụng như một sự ngưng đọng, sự lắng nghe từ trong kí ức người những ánh lửa bếp chiều, những tia khói xanh trên mái lá. Hai câu thơ kết dài tới 7 âm tiết như một sự ngân nga của tâm trí.
Câu hỏi 3
Mục đích của câu hỏi này là hướng HS đến việc cảm nhận được sự đồng cảm của người bình thơ với bài thơ. GV hướng dẫn HS có cái nhìn bao quát toàn bộ VB, trong đó đặc biệt chú ý các câu văn thể hiện trực tiếp tình cảm của người viết với bài thơ. Từ đó, HS sẽ chỉ ra một số biểu hiện của sự đồng cảm như: người bình thơ cảm nhận, thấu hiểu được những rung động, tình cảm tinh tế, kín đáo của nhà thơ dành cho thiên nhiên, con người nơi đây; cảnh vật trong bài thơ được điểm xuyết, lướt qua khá nhanh và vội, cái tạo nên tính liền mạch ở đây chính là cảm xúc của người viết,… Cũng chính nhờ sự đồng cảm sâu sắc với bài thơ nên nhà phê bình mới có sự phát hiện rất tinh tế là âm điệu câu thơ chính là âm điệu của nội tâm chứ không phải âm điệu được tạo nên bởi cách hiệp vần, vần đã bị bỏ rơi.
GV gợi ý để HS nhận xét được sự đồng cảm này có ý nghĩa rất quan trọng. Nó giúp cho nhà phê bình có thể cảm nhận được một cách sâu sắc, tinh tế những tư tưởng, cảm xúc của
nhà thơ gửi gắm trong bài thơ, từ đó có thể lan toả tình cảm này đến với người đọc. GV cũng nhấn mạnh thêm, khi đọc bài viết của Vũ Quần Phương, ta không chỉ cả
nhà thơ gửi gắm trong bài thơ, từ đó có thể lan toả tình cảm này đến với người đọc. GV cũng nhấn mạnh thêm, khi đọc bài viết của Vũ Quần Phương, ta không chỉ cảm nhận được sự tài hoa, tinh tế trong cách cảm nhận thơ của ông mà còn cảm nhận được tình yêu tha thiết của ông đối với thiên nhiên, với quê hương, đất nước. Có như thế, ông mới có thể có được những rung động mãnh liệt và những trang viết tài hoa về bài thơ Đường núi của Nguyễn Đình Thi.
Câu hỏi 4
Giải quyết yêu cầu của câu hỏi này, HS sẽ chỉ ra được lí do vì sao tác giả khẳng định: "Cái tài của Nguyễn Đình Thi ở bài thơ này là tạo được một luồng không khí thân yêu trong trẻo run rẩy phủ lấy phong cảnh. Phong cảnh bỗng mang vị tâm hồn của tác giả". - Đầu tiên, GV gợi ý cho HS: Em hãy chỉ ra những biểu hiện của "luồng không khí thân yêu trong trẻo run rẩy phủ lấy phong cảnh" trong bài thơ "Đường núi" mà Vũ Quần Phương
đề cập đến. Theo em, dựa vào đâu mà nhà phê bình cho rằng phong cảnh trong bài thơ "mang vị tâm hồn của tác giả"? - GV gợi ý và phân tích thêm: Luồng không khí thân yêu trong trẻo run rẩy phủ lấy phong cảnh ở trong bài thơ Đường núi được thể hiện: buổi chiều vùng núi, có lối mòn, nắng nhạt, nhà sàn, khói bếp, gió nổi, trăng lên, áo chàm, tiếng hát, cánh đồng,… Nhưng đúng như Vũ Quần Phương khẳng định, cái làm chúng ta xúc động chính là cảm xúc, tình cảm của nhà thơ ẩn chứa sau khung cảnh đó. Phong cảnh bài thơ mang đậm vị tâm hồn của tác giả, đó là tâm hồn yêu say đắm đồng đất núi rừng làng mạc nước non mình, là cái nhìn ngất ngây với sương mây, rì rào với tiếng suối,… Đằng sau mỗi cảnh sắc thiên nhiên ta đều cảm nhận được tiếng reo vui lặng thầm của nhà thơ: Ôi những vạt ruộng vàng/ Chiều nay rung rinh lúa ngả/ Dải áo chàm bay múa/ Tiếng ai hát trên nương…
Câu hỏi 5
Với câu hỏi này, GV cần khuyến khích HS thể hiện ý kiến riêng của mình về việc sẽ bổ sung những gì cho bài viết của Vũ Quần Phương nếu được phép. HS có thể có những phương án trả lời khác nhau: - Làm rõ hơn nét lạ của bài thơ mà nhà phê bình Vũ Quần Phương đã chỉ ra: Âm điệu câu thơ là âm điệu của nội tâm, vần bị bỏ rơi. - Phân tích chi tiết, cụ thể hơn về thời gian nghệ thuật trong bài thơ: việc nhà thơ lựa chọn thời khắc buổi chiều có ý nghĩa như thế nào đối với việc khơi gợi cảm xúc của nhân vật trữ tình. - Bổ sung phần phân tích hiệu quả thẩm mĩ của việc sử dụng biện pháp tu từ như nhân hoá trong việc giúp cho cảnh vật thiên nhiên nơi vùng núi trở nên gần gũi, giàu sức sống hơn: Dải áo chàm bay múa, Bờ tre đang reo ánh lửa,… - Cảm nhận về tác dụng gợi hình, gợi cảm của các từ láy được nhà thơ sử dụng liên tiếp trong bài thơ: nhạt nhạt, ngây ngất, rì rào, rung rinh, văng vẳng, chập chùng.
VIẾT VIẾT BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ CON NGƯỜI HOẶC SỰ VIỆC Phân tích yêu cầu cần đạt HS biết cách viết một bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc; trình bày được
VIẾT
VIẾT BÀI VĂN BIỂU CẢM VỀ CON NGƯỜI HOẶC SỰ VIỆC
Phân tích yêu cầu cần đạt
HS biết cách viết một bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc; trình bày được cảm xúc, suy nghĩ về một con người hoặc sự việc để lại cho mình ấn tượng sâu sắc.
Những lưu ý về yêu cầu đối với bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc
– Giới thiệu được đối tượng biểu cảm (người thân trong gia đình, thầy cô, bạn bè ở trường, người em quen biết ở ngoài xã hội, người em biết được qua sách báo, truyền hình,...; sự việc mà em được chứng kiến hoặc nghe kể) và nêu được ấn tượng ban đầu về đối tượng đó (yêu mến, kính trọng, xúc động, bàng khuâng,...).
– Nêu được những đặc điểm nổi bật khiến con người hoặc sự việc đó để lại tình cảm, ấn tượng sâu đậm trong em (Người đó có đặc điểm nổi bật nào về ngoại hình, tính cách? Sự việc đó diễn ra trong không gian, thời gian nào? Những ai tham gia sự việc và họ đã làm gì?).
– Thể hiện được tình cảm, suy nghĩ đối với con người hoặc sự việc được nói đến (yêu mến, kính trọng, biết ơn đối với người đó; xúc động, không thể nào quên,... đối với sự việc đó).
– Sử dụng ngôn ngữ sinh động, giàu cảm xúc (những biện pháp tu từ so sánh, ẩn dụ, nhân hoá; từ láy tượng hình, tượng thanh; câu cảm thán;...).
Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV dựa vào lời dẫn trong SHS để nói về ý nghĩa của việc viết bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc. Có thể đưa ra một số câu hỏi gợi mở nhằm khơi gợi, tạo không khí: Trong cuộc sống, có những con người, những sự việc nào để lại cho em ấn tượng sâu sắc không thể quên? Em hãy chia sẻ với cả lớp cảm nghĩ về con người hoặc sự việc đó.
Hoạt động 2 Tìm hiểu các yêu cầu đối với bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc GV có thể tổ chức cho HS tìm hiểu yêu cầu đối với bài văn biểu cảm về con ng
Hoạt động 2 Tìm hiểu các yêu cầu đối với bài văn biểu cảm về con người hoặc
sự việc
GV có thể tổ chức cho HS tìm hiểu yêu cầu đối với bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc theo cách sau:
GV sử dụng câu hỏi: Bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc cần đáp ứng những yêu cầu gì? HS dựa vào SHS, trang 98 để trình bày các yêu cầu.
Sau khi HS trả lời, GV khái quát lại các yêu cầu đối với bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc. GV có thể phân tích thêm để HS hiểu rõ vì sao kiểu bài văn này lại cần phải đáp ứng những yêu cầu đó.
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bài viết tham khảo
GV yêu cầu HS làm việc theo nhóm để cùng đọc và phân tích các chỉ dẫn thao tác viết bài theo yêu cầu của kiểu bài (bên phải VB).
Dựa vào kết quả làm việc nhóm, một số HS đại diện cho nhóm của mình trình bày mức độ "đạt yêu cầu" của bài viết tham khảo dựa trên sự đối chiếu với những yêu cầu đã xác định trước đó. Các nhóm khác nhận xét và đi đến thống nhất.
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
GV hướng dẫn HS xác định mục đích viết và người đọc trước khi viết bài (hoạt động cá nhân). Thực tế là mục đích viết đã được xác định rõ (bày tỏ tình cảm, suy nghĩ của em đối với đối tượng được nói tới và khơi gợi sự đồng cảm, chia sẻ của người đọc), người đọc tiềm năng cũng có thể dự kiến được (thầy cô, bạn bè và những người quan tâm tới tình cảm, suy nghĩ mà em bày tỏ trong bài văn). Việc đặt ra yêu cầu xác định mục đích viết và người đọc ở đây chủ yếu nhằm nhắc nhở HS thường xuyên có ý thức bám sát mục đích viết đặt ra từ đầu và đối tượng người đọc mà bài viết hướng đến.
GV hướng dẫn HS lựa chọn đề tài để viết. Với dạng bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc, phương án thích hợp nhất là cho HS được quyền tự do lựa chọn con người hoặc sự việc để viết. Nếu HS chưa biết chọn đối tượng nào, GV có thể gợi ý cho HS một vài ý tưởng như trong SHS hoặc do chính GV đề xuất.
GV hướng dẫn HS tìm ý cho bài viết bằng nhiều kĩ thuật, chiến lược khác nhau. Chẳng hạn, GV có thể cho HS hình dung, tưởng tượng (hoạt động cá nhân) để viết nháp (viết tự do) thể hiện cảm xúc, suy nghĩ của mình về một con người hoặc sự việc đã để lại ấn tượng sâu sắc dựa theo phiếu tìm ý sau:
Họ và tên: ....................................... Nhiệm vụ: Tìm ý cho bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc. PHIẾU TÌM Ý Lớp: ............................
Họ và tên: .......................................
Nhiệm vụ: Tìm ý cho bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc.
PHIẾU TÌM Ý
Lớp: ................................
Người mà em muốn bộc lộ cảm nghĩ là ai? Sự việc mà em muốn bộc lộ cảm nghĩ là gì?, ......................................................................................... .........................................................................................
Người hoặc sự việc đó có những đặc điểm nào nổi bật?, ......................................................................................... .........................................................................................
Em có cảm xúc, suy nghĩ như thế nào đối với người hoặc sự việc đó?, ......................................................................................... .........................................................................................
Em có những ấn tượng nào không thể quên về người hoặc sự việc đó?, ......................................................................................... .........................................................................................
GV có thể yêu cầu HS làm việc cá nhân để hoàn thành phiếu và trao đổi theo cặp để góp ý cho nhau.
GV hướng dẫn HS lập dàn ý cho bài viết theo gợi ý như trong SHS. - HS viết bài tại lớp.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV trả bài và cho HS nhắc lại yêu cầu chung của kiểu bài văn biểu cảm về con người hoặc sự việc và những lưu ý để viết được bài văn theo kiểu này.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả và chỉnh sửa bài viết
GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt ở bài viết của HS, chọn một số bài để nhận xét, đánh giá và rút kinh nghiệm chung cho cả lớp.
GV yêu cầu HS chỉnh sửa theo hướng dẫn trong SHS và những phân tích, bổ sung ở trên để trong những bài viết tiếp theo, các em sẽ đạt kết quả cao hơn.
NÓI VÀ NGHE TRÌNH BÀY Ý KIẾN VỀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG THIỆN NGUYỆN VÌ CỘNG ĐỒNG 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – Với tư cách người nói, HS cần trình bày được ý kiến của
NÓI VÀ NGHE
TRÌNH BÀY Ý KIẾN VỀ NHỮNG HOẠT ĐỘNG THIỆN NGUYỆN VÌ CỘNG ĐỒNG
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– Với tư cách người nói, HS cần trình bày được ý kiến của mình về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng sao cho hấp dẫn, lan toả được tới người nghe, đồng thời biết tiếp thu các ý kiến nhận xét, phản hồi từ phía người nghe với tinh thần cầu thị.
– Với tư cách người nghe, HS biết cách lắng nghe, ghi chép để nắm được đầy đủ, chính xác các nội dung của bài nói; tham gia trao đổi tích cực về vấn đề được trình bày.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
GV nhắc nhở HS chuẩn bị nội dung nói. Đến lớp, trước khi nói, GV cho HS rà soát lại các khâu đã chuẩn bị. GV kiểm tra, hỗ trợ.
Hoạt động 1 Chuẩn bị bài nói
a. Xác định mục đích nói và người nghe
GV lưu ý HS về sự cần thiết của việc xác định mục đích nói và đối tượng nghe. GV nêu vấn đề: Khi trình bày bài nói nêu ý kiến về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng, mục đích mà ta hướng tới là gì? Ai là người sẽ nghe ta trình bày? GV cho HS trao đổi và kết luận: Mục đích của bài nói này là chia sẻ ý kiến của em về những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng nhằm tác động đến suy nghĩ, cảm xúc và hành động của người nghe. Người nghe lúc này là thầy cô, bạn bè, người thân và những người mong muốn được cùng em chia sẻ những tình cảm, suy nghĩ đó.
b. Chuẩn bị nội dung nói và tập luyện
– GV hướng dẫn HS chuẩn bị nội dung nói như hướng dẫn trong SHS. HS viết ra giấy các ý quan trọng của bài nói (Giới thiệu khái quát suy nghĩ của bản thân về bản chất và vai trò quan trọng của những hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng, chỉ ra những hoạt động thiện nguyện tiêu biểu, nêu được ý nghĩa quan trọng của hoạt động thiện nguyện,...) và đánh dấu những chỗ cần nhấn mạnh, những từ ngữ then chốt, những câu văn quan trọng mà khi trình bày không thể bỏ qua.
– GV hướng dẫn HS tập luyện ở nhà, có thể đứng trước gương và tập luyện bài nói một mình hoặc tập luyện cùng với bạn bè, người thân và xin ý kiến góp ý của họ.
– GV lưu ý HS trong thời gian tập luyện cần điều chỉnh dung lượng bài nói cho phù hợp với thời gian quy định, đồng thời cần chú ý cách sử dụng ngữ điệu nói, cử chỉ, điệu bộ và ánh mắt để tăng sức thuyết phục cho bài nói của mình.
Hoạt động 2 Trình bày bài nói
– GV hướng dẫn HS thực hành nói: Lưu ý HS cần tận dụng được các lợi thế của giao tiếp trực tiếp bằng lời như sử dụng ngữ điệu, cử chỉ, điệu bộ và sự tương tác tích cực với người nghe
để tạo nên sức hấp dẫn và thuyết phục cho bài nói (như gợi ý trong SHS). Việc lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động nói và nghe cần được thực hiện linh hoạt, tuỳ
để tạo nên sức hấp dẫn và thuyết phục cho bài nói (như gợi ý trong SHS). Việc lựa chọn hình thức tổ chức hoạt động nói và nghe cần được thực hiện linh hoạt, tuỳ vào điều kiện học tập và
trình độ HS. Có thể cho HS hoạt động theo nhóm hoặc theo quy mô cả lớp. - GV cần phân bổ thời gian hợp lí để trong một tiết, có nhiều HS (khoảng 3 - 4 HS) được
trình bày bài nói của mình. Thời gian dành cho mỗi HS nói khoảng 5 - 7 phút; những HS còn lại làm việc cá nhân: theo dõi, nhận xét, đánh giá, có thể ghi vào phiếu đánh giá mà GV
thiết kế sẵn.
Gợi ý mẫu phiếu nhận xét bài nói:
Các nội dung nhận xét Các yêu cầu Đạt Chưa đạt
Giới thiệu khái quát suy nghĩ của bản thân về bản chất và vai trò của những
hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng
Chỉ ra được những hoạt động thiện nguyện tiêu biểu: đóng góp tiền của, tham gia hoạt động cứu trợ,… Đối tượng được giúp đỡ có thể là người gặp nạn vì thiên tai hay dịch bệnh, Nội dung bài nói người già không nơi nương tựa, người
khuyết tật, trẻ mồ côi,…
Nhấn mạnh một số ý nghĩa quan trọng của hoạt động thiện nguyện: giúp cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn có cuộc sống tốt đẹp hơn; lan toả nghĩa cử cao đẹp tới cộng đồng, góp phần làm cho xã hội ngày càng trở nên nhân văn; thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta;...
Tốc độ nói vừa phải
Âm lượng vừa đủ
Hình thức trình bày Giọng nói truyền cảm
Cử chỉ, điệu bộ đúng mực
Tương tác với người nghe phù hợp
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG GV cần dành thời gian để hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc, nhắc các em ghi vào Vở thực hàn
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
GV cần dành thời gian để hướng dẫn HS thực hiện ở nhà những yêu cầu của phần Củng cố, mở rộng và Thực hành đọc, nhắc các em ghi vào Vở thực hành Ngữ văn 7, tập một hoặc vở bài tập nội dung trả lời các câu hỏi 1, 2 và yêu cầu ở phần Thực hành đọc. GV có thể tiến hành kiểm tra việc các em đã làm bằng cách xem vở ghi chép hoặc trực tiếp nghe các em báo cáo.
Về các bài tập trong SHS, GV hướng dẫn HS bám sát yêu cầu để tự thực hiện:
Bài tập 1
HS điền một số thông tin về hai VB Mùa xuân nho nhỏ, Gò Me để củng cố kiến thức về tình cảm, cảm xúc, hình ảnh, biện pháp tu từ trong thơ; từ đó hiểu rõ đặc điểm của thơ thông qua sự đối chiếu với các thể loại khác.
Bài tập 2
GV khuyến khích HS tìm đọc thêm một số bài thơ viết về đất nước và chỉ ra những đặc sắc về nghệ thuật (từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ,...) trong một bài thơ mà em yêu thích.
Về phần Thực hành đọc, GV hướng dẫn HS khi đọc VB cần chú ý những vấn đề mà SHS đã gợi ý như: ngôn ngữ, hình ảnh, các biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ; vẻ đẹp riêng của vùng đất biên cương trong cảm nhận của một nhà thơ miền núi; tình cảm với quê hương, đất nước mà bài thơ gợi lên trong em;...
Trang 135
Trang 136
Trang 137
Trang 138
VĂN BẢN 1. THÁNG GIÊNG, MƠ VỀ TRĂNG NON RÉT NGỌT (Trích, Vũ Bằng) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết được chất trữ tình, cái tôi tác giả, ngôn ngữ của
VĂN BẢN 1. THÁNG GIÊNG, MƠ VỀ TRĂNG NON RÉT NGỌT
(Trích, Vũ Bằng)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được chất trữ tình, cái tôi tác giả, ngôn ngữ của tuỳ bút. Tuỳ bút thiên về tính trữ tình. Bài tuỳ bút thể hiện dòng cảm xúc của một người con xa quê hồi nhớ về mùa xuân của Hà Nội thân yêu. Cái tôi tác giả được thể hiện thông qua các yếu tố như hoàn cảnh sáng tác, những rung động tâm hồn, cách cảm, cách nhìn về khung cảnh mùa xuân. Lời văn của bài tuỳ bút giàu hình ảnh, sử dụng nhiều biện pháp tu từ, từ ngữ biểu cảm.
– HS nhận biết được chủ đề, thông điệp của VB: Bài tuỳ bút biểu lộ tình yêu, sự gắn bó tha thiết với quê hương, gia đình của tác giả. Qua những rung động tinh tế của một tâm hồn nhạy cảm, sức sống con người và hương sắc đất trời Hà Nội – miền Bắc vào tháng Giêng hiện lên như một sự khởi đầu cho dòng hồi tưởng (với mỗi tháng là một khung cảnh, một câu chuyện), “sống lại” với quá khứ đầy thương nhớ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– HS trao đổi nhóm về nội dung được nêu trong SHS: 1. Những bài hát, tranh, ảnh về mùa xuân; 2. Điều em thích nhất ở mùa xuân.
– GV có thể cho HS xem một đoạn phim ngắn, tranh, ảnh, nghe một bài hát,… về mùa xuân. GV có thể giới thiệu sơ lược những tín hiệu thẩm mĩ trong bức tranh Chợ hoa đào ở SHS, trang 108 (không khí của Hà Nội khi xuân về, trang phục của phụ nữ,…).
Hoạt động 2 Đọc văn bản HS đã đọc VB trước khi đến lớp. GV lưu ý HS nội dung những thẻ gợi ý các chiến lược đọc ở bên phải VB trong SHS. GV hướng dẫn HS dùng ng
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS đã đọc VB trước khi đến lớp. GV lưu ý HS nội dung những thẻ gợi ý các chiến lược đọc ở bên phải VB trong SHS. GV hướng dẫn HS dùng ngữ điệu phù hợp khi đọc tuỳ bút. Tuỳ bút thiên về tính trữ tình. Ở bài này, tác giả thể hiện nỗi nhớ quê nhà, cho nên, khi đọc cần có ngữ điệu thể hiện sự da diết, nhớ thương. - GV hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó được chú thích ở chân trang. Ở VB này có một số từ ngữ tương đối ít dùng trong giao tiếp hiện nay như còn son, huê tình,… (một số từ ngữ đã được chú thích trong SHS).
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV lưu ý HS: Một số thông tin liên quan đến tác giả và tập tuỳ bút Thương nhớ Mười Hai đã có trong SHS có thể hỗ trợ tốt cho việc trả lời các câu hỏi sau khi đọc. Nên gợi ý để HS
kết nối hoàn cảnh sáng tác với nhan đề của tập tuỳ bút và nhan đề tác phẩm. Đặc biệt, GV nên khai thác kĩ nhan đề bài tuỳ bút để giúp HS cảm nhận mùa xuân miền Bắc và tình cảm của tác giả khi nhớ về quê hương. Nhan đề mỗi bài tuỳ bút trong Thương nhớ Mười Hai đều gợi ra một nét đặc trưng nào đó của không gian, phong tục, nếp sống,… ở miền Bắc: Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt; Tháng Hai, tương tư hoa đào; Tháng Ba, rét nàng Bân; Tháng Tư, mơ đi tắm suối Mường; Tháng Năm, nhớ nhót, mận, rượu nếp và lá móng;… Nhan đề bài tuỳ bút Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt gợi ra khung cảnh mùa xuân và những nét sinh hoạt gia đình trong cái rét đặc trưng của miền Bắc thời điểm tháng đầu tiên của một năm, trong không gian mùa trăng đầu tiên của một năm - được tác giả coi như là trăng non: Cái trăng tháng Giêng, non như người con gái mơn mởn đào tơ, hình như cũng đẹp hơn các tháng khác trong năm thì phải: sáng nhưng không lộng lẫy như trăng sáng mùa thu, đẹp nhưng không đẹp một cách úa héo như trăng tháng Một (trích Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt). - Hệ thống câu hỏi sau khi đọc được chia theo các nhóm như sau: nhận biết (câu 1, 2); phân tích, suy luận (câu 3, 4, 5) và đánh giá, vận dụng (câu 6). GV có thể kết hợp các câu hỏi này hoặc gia giảm phạm vi, độ khó để tạo thành những câu hỏi mới tuỳ theo đối tượng HS và diễn biến cụ thể của giờ học.
Câu hỏi 1
Tính chất trữ tình được biểu hiện ở mạch cảm xúc. Mạch cảm xúc được khơi dậy từ những ấn tượng về không gian Hà Nội - miền Bắc trong nỗi hoài nhớ của tác giả. Cấu tứ của bài tuỳ bút này là dựa vào không gian. Do vậy, GV cần cho HS thấy những cảm nhận về không gian của tác giả. Đó là không gian có những nét đặc trưng, riêng có của Hà Nội - miền Bắc trong tiết trời tháng Giêng. Đó còn là không gian của những sinh hoạt văn hoá cộng đồng và sinh hoạt gia đình. GV hướng dẫn HS liệt kê các chi tiết miêu tả không gian Hà Nội vào mùa xuân khoảng đầu tháng Giêng: mưa riêu riêu; gió lành lạnh; tiếng nhạn kêu trong đêm xanh; tiếng trống
chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa; câu hát huê tình, đất trời mang mang; đường sá không còn lầy lội nữa; cái rét ngọt ngào, chớ không còn tê buốt căm căm nữ
chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa; câu hát huê tình, đất trời mang mang; đường sá không còn lầy lội nữa; cái rét ngọt ngào, chớ không còn tê buốt căm căm nữa;… Từ câu hỏi của SHS, GV có thể đặt thêm những câu hỏi phụ (chia nhỏ các ý) để HS lần lượt khám phá không gian Hà Nội - miền Bắc vào mùa xuân (Ví dụ: Em hình dung "mưa riêu riêu" là mưa như thế nào? Em cảm nhận "gió lành lạnh" khác gió lạnh như thế nào? Thử tưởng tượng "tiếng nhạn kêu trong đêm xanh". Em đã bao giờ nghe tiếng trống chèo?...).
Vào độ sau rằm tháng Giêng, có sự chuyển đổi của không gian: đào hơi phai nhưng nhuỵ vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu Giêng, nhưng trái lại lại nức một mùi hương man mác; mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ; bầu trời đã có những vệt xanh tươi; đã có hoa thiên lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa; nền trời trong có những làn sáng hồng;... Đặc biệt, khung cảnh đêm trăng tháng Giêng trong cái rét ngọt đầu năm được miêu tả giàu sức gợi: đêm xanh biêng biếc, có mưa dây, nhìn rõ từng cánh sếu bay, trời vẫn rét một cách
tình tứ nên thơ, có những đêm không mưa, trời sáng lung linh như ngọc. GV có thể nêu những câu hỏi phụ, gợi ý HS tìm từ ngữ diễn tả một cách tinh tế bước chuyển đổi của thiên nhiên (Ví dụ: Nhà văn cảm nhận sự thay đổi của thiên nhiên qua những đối tượng nào? Em có nhận xét gì về những từ ngữ như "hơi phai", "mùi hương man mác", "vệt xanh tươi", "làn sáng hồng",…? Em hình dung thế nào về "đêm xanh biêng biếc"? Tại sao trong đêm vẫn thấy được từng cánh sếu bay?…).
Không gian gia đình vẫn còn âm hưởng của Tết: nhang trầm, đèn nến, bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường, bàn thờ Phật, bàn thờ Thánh, bàn thờ Tổ tiên. Không gian ấy chuyển dịch về với sinh hoạt đời thường êm đềm sau Tết: bữa cơm giản dị có cà om với thịt thăn điểm những lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh... GV đặt câu hỏi phụ để gợi ý HS cảm nhận không gian gia đình (Ví dụ: Khi mùa xuân đến, bầu không khí gia đình được miêu tả như thế nào? Cuộc sống êm đềm thường nhật được thể hiện qua những nét sinh hoạt nào của gia đình?...).
GV cần cho HS thấy, qua việc hồi tưởng về những điều có thực trong không gian Hà Nội vào mùa xuân mà mình đã từng trải nghiệm, tác giả đã bộc lộ những cảm nhận tinh tế, tình cảm gắn bó, mến yêu tha thiết với quê hương, gia đình. Đây cũng chính là một trong những nét đặc trưng của thể loại tuỳ bút.
Câu hỏi 2
Cái rét ngọt đầu xuân khơi dậy sức sống của con người và thiên nhiên. GV hướng dẫn HS tìm những chi tiết diễn tả những cảm giác của con người trong tiết trời mùa xuân: nghe như lòng mình say sưa một cái gì đó - có lẽ là sự sống; nhựa sống ở trong người căng lên; tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, đập mạnh hơn; "sống" lại và thèm khát yêu thương, thấy ai cũng muốn yêu thương; trong lòng như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan; cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa;... Thiên nhiên cũng tràn đầy sức sống trong mùa xuân: rạo rực nhựa sống trong cành mai, gốc đào, chồi mận
ở ngoài vườn; đồi núi chuyển mình, sông hồ rung động; sông xanh, núi tím; máu cũng căng lên trong lộc của loài nai; mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu đ
ở ngoài vườn; đồi núi chuyển mình, sông hồ rung động; sông xanh, núi tím; máu cũng căng lên trong lộc của loài nai; mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ;…
Câu hỏi 3
Câu hỏi này tiếp nối ý câu 2. Ở câu 2, HS đã tìm được những chi tiết diễn tả cảm giác con người trong tiết trời mùa xuân. GV hướng dẫn để HS phát hiện được cách tác giả diễn tả những cảm giác vô hình, khó nắm bắt bằng những hình ảnh cụ thể, giàu sức gợi; bằng những so sánh dễ hình dung; bằng cách nói mới lạ, thú vị,… GV có thể đưa ra những câu hỏi có tính chất gợi mở như: Cảm giác của con người có dễ nhận biết không? Làm thế nào để cho người khác cảm thấy được những cảm giác đó của mình?... Sau khi HS đưa những nhận xét về cách tác giả diễn tả cảm giác, GV hướng HS kết nối VB đọc với tri thức ngữ văn, chỉ ra ngôn ngữ bài tuỳ bút này rất giàu hình ảnh, chất thơ, biểu hiện ở những hình ảnh giàu sức gợi. Hình ảnh được sử dụng trong tuỳ bút chủ yếu là để diễn tả nội dung cảm xúc.
GV khơi gợi để HS chú ý hai cách diễn tả thế giới tâm hồn của nhà văn: cách diễn tả cảm giác bằng hình ảnh và cách diễn tả trực tiếp tình cảm (qua các cách diễn đạt bằng từ ngữ thể hiện tình cảm như "tôi yêu", "muốn yêu thương", "thèm khát yêu thương"). Việc diễn tả thế giới tâm hồn, cảm xúc tạo nên đặc trưng trữ tình của tuỳ bút.
Câu hỏi 4
Bố cục bài tuỳ bút được triển khai theo một cảm hứng chủ đạo: cảm hứng về mùa xuân; chủ đề của VB được nêu từ câu mở đầu: "ai cũng chuộng mùa xuân". Từ chủ đề này, tác giả đi tìm kiếm "lí lẽ" và "dẫn chứng". Lí lẽ dựa trên những chân lí không thể đảo ngược: Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con, ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân. Dẫn chứng là những "phỏng đoán" đầy tính chủ quan dưới dạng câu hỏi đồng thời là câu trả lời cho các nhân vật tưởng tượng: em gái, chàng trai, thiếu phụ. Sau những lí lẽ và dẫn chứng ấy, tác giả lấy chính những trải nghiệm của mình về mùa xuân - "mùa xuân của tôi" để chứng minh lời khẳng định trên. Những cảm nhận về mùa xuân được soi chiếu qua tình yêu sâu nặng với quê nhà. Ai cũng chuộng mùa xuân, nhất là mùa xuân lại gắn với những kỉ niệm, hồi ức gần gũi, chan chứa yêu thương.
Câu hỏi 5
Câu hỏi này giúp HS nhận ra cái tôi của người viết trong tuỳ bút. GV hướng dẫn HS vận dụng những thông tin về tác giả, hoàn cảnh sáng tác để thấy dấu ấn cuộc đời riêng của nhà văn trong VB. Mặt khác, cách Vũ Bằng viết "mùa xuân của tôi" cho thấy những kỉ niệm của ông với quê nhà; cách viết "mùa xuân thần thánh của tôi" thì cho thấy mùa xuân quê hương có ý nghĩa như thế nào với riêng người viết (đem đến những đổi thay kì diệu); cách viết "mùa xuân của Hà Nội thân yêu" cho thấy sự gắn bó sâu nặng của tác giả - người con xa quê - với quê nhà. GV gợi ý để HS chỉ ra những sắc thái nghĩa khác nhau trong các cách định danh mùa xuân quê hương mà Vũ Bằng đã sử dụng trong tác phẩm. Qua đây, GV gợi ý cho HS thấy hình bóng cái tôi tác giả được thể hiện khá rõ trong bài tuỳ bút này.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT DẤU CÂU, BIỆN PHÁP TU TỪ 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Bài học này không có tri thức tiếng Việt mới, không có yêu cầu cần đạt về việc hình t
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
DẤU CÂU, BIỆN PHÁP TU TỪ
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Bài học này không có tri thức tiếng Việt mới, không có yêu cầu cần đạt về việc hình thành khái niệm mới cho HS. Mục tiêu chính của tiết học là HS vận dụng, củng cố một số kiến thức đã học về cách dùng dấu gạch ngang và công dụng của dấu gạch ngang; các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá, điệp ngữ và tác dụng của các biện pháp tu từ đó trong VB Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Củng cố kiến thức đã học
GV có thể ôn tập kiến thức cho HS bằng một trong hai cách:
– Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ: GV có thể dẫn lại một ví dụ về dấu gạch ngang và một ví dụ về biện pháp tu từ đã học (nên chọn những biện pháp tu từ sẽ thực hành trong phần này), cho HS nhận diện dấu gạch ngang, biện pháp tu từ và nêu công dụng của chúng.
Sử dụng phương pháp thông báo, giải thích: GV nhắc lại công dụng của dấu gạch ngang, khái niệm biện pháp tu từ sẽ thực hành trong bài và tác dụng của chúng. GV
Sử dụng phương pháp thông báo, giải thích: GV nhắc lại công dụng của dấu gạch ngang, khái niệm biện pháp tu từ sẽ thực hành trong bài và tác dụng của chúng.
GV củng cố lại cho HS kiến thức về dấu gạch ngang và các biện pháp tu từ. Dấu gạch ngang thường được đặt ở đầu dòng để đánh dấu lời nói của nhân vật hoặc để liệt kê; đặt ở giữa câu để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu; nối các từ trong một liên danh. Trong phần Thực hành tiếng Việt này, bài tập về dấu gạch ngang giúp HS ôn lại trường hợp dùng dấu gạch ngang để đánh dấu bộ phận chú thích, giải thích trong câu. Biện pháp tu từ được nói đến trong các bài tập là so sánh, nhân hoá, điệp ngữ. GV gợi ý cho HS nhớ lại khái niệm biện pháp tu từ so sánh (đối chiếu sự vật, sự việc này với sự vật, sự việc khác có nét tương đồng để tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt), biện pháp tu từ nhân hoá (gắn cho đồ vật, cây cối, con vật,… những đặc điểm, thuộc tính của người, nhằm làm cho đối tượng được miêu tả gần gũi, sinh động), biện pháp tu từ điệp ngữ (lặp lại một từ ngữ để nhấn mạnh, khẳng định, liệt kê,...).
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Ở hoạt động này, GV có thể hướng dẫn HS làm việc cá nhân, theo cặp, nhóm để hoàn thành bài tập. GV căn cứ vào thời gian của tiết học để hướng dẫn HS làm bài.
Bài tập 1
HS nêu công dụng của dấu gạch ngang trong mỗi câu văn. GV gợi ý HS thử bỏ các phần đặt giữa hai dấu gạch ngang (câu a) và phần sau dấu gạch ngang (câu b), nhận xét sự khác nhau giữa câu gốc và câu bị lược, từ đó nêu nhận xét về chức năng của bộ phận giải thích, chú thích đặt giữa hai dấu gạch ngang hoặc sau dấu gạch ngang khi được dùng trong câu.
Bài tập 2
Bài tập này đã chỉ dẫn biện pháp tu từ so sánh (vì trong câu còn có những biện pháp tu từ khác). HS cần xác định các sự vật được so sánh với nhau trong các câu. HS nhận thức được chỉ khi hai sự vật có những nét tương đồng thì mới được so sánh với nhau. Cặp so sánh đôi mày ai - trăng mới in ngần chỉ sự thanh tân, tươi trẻ, dịu dàng; trời sáng lung linh - ngọc chỉ vẻ đẹp của ánh sáng trong, thanh khiết, có sắc màu ảo diệu. Chính sự tương đồng này sẽ tạo ra hiệu quả thẩm mĩ cho câu văn. Ở đây, nhà văn bộc lộ tài năng sáng tạo qua việc tạo ra những liên tưởng bất ngờ, kết nối những sự vật tưởng như rất khác nhau.
Bài tập 3
Bài tập này giúp HS ôn lại biện pháp tu từ nhân hoá. GV hướng dẫn HS phát hiện những cụm từ chứa biện pháp tu từ nhân hoá trong hai câu văn và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ đó trong mỗi câu văn. Chú ý những cụm từ như đôi mùa giao tiễn nhau, đồi núi chuyển mình, sông hồ rung động, vài con ong siêng năng. Biện pháp tu từ nhân hoá thể hiện những rung động của nhà văn lan toả vào cảnh vật, thiên nhiên phóng chiếu nội tâm con người.
VĂN BẢN 2. CHUYỆN CƠM HẾN (Hoàng Phủ Ngọc Tường) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nhận biết được chất trữ tình, cái tôi tác giả, ngôn ngữ của VB: Tính trữ tình
VĂN BẢN 2. CHUYỆN CƠM HẾN
(Hoàng Phủ Ngọc Tường)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nhận biết được chất trữ tình, cái tôi tác giả, ngôn ngữ của VB: Tính trữ tình thể hiện ở tình yêu của tác giả đối với món ăn dân dã của quê hương, lòng tự hào về truyền thống văn hoá của quê hương. Cái tôi tác giả thể hiện ở những dấu ấn riêng của bản thân nhà văn: quê quán, bạn bè, công việc; những trải nghiệm trực tiếp của nhà văn khi ăn cơm hến; những cách tiếp cận, cách đánh giá, nhận định riêng, độc đáo của nhà văn. Ngôn ngữ của bài tản văn là lời tâm sự, chuyện trò, mang đậm sắc thái vùng miền.
– HS nhận biết được chủ đề, thông điệp của VB: Bài tản văn chọn một món ăn bình dân của Huế như là điểm tựa để bàn về văn hoá và việc giữ gìn bản sắc văn hoá trong cộng đồng cư dân. Đây là nét đẹp riêng của văn hoá Huế, của người Huế. Với người Huế, việc chế biến một món ăn cổ truyền được nâng lên thành một nghệ thuật. Điều đó thể hiện văn hoá sống và thái độ trân trọng văn hoá truyền thống của con người vùng đất cố đô.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
– HS trao đổi nhóm về từng nội dung được nêu trong SHS: 1. Hiểu biết về những nét riêng trong phong cách ẩm thực ở những nơi mà mình biết; 2. Nói về một món ăn đặc sản ở quê mình.
GV có thể cho HS xem một đoạn phim ngắn hoặc một đoạn vi-lốc giới thiệu món ăn, cách chế biến món ăn mang đậm nét văn hoá địa phương (hiện nay trên in-tơ-nét, n
GV có thể cho HS xem một đoạn phim ngắn hoặc một đoạn vi-lốc giới thiệu món ăn, cách chế biến món ăn mang đậm nét văn hoá địa phương (hiện nay trên in-tơ-nét, những vi-lốc dạng này rất được yêu thích). Từ đó, GV gợi ý HS kể tên, giới thiệu món ăn đặc sản quê mình.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS đã đọc VB trước khi đến lớp. GV lưu ý HS những nội dung ở các thẻ gợi ý chiến lược đọc ở bên phải VB trong SHS. GV hướng dẫn HS có ngữ điệu đọc phù hợp với lối chuyện trò, đàm đạo của tản văn. Bài tản văn Chuyện cơm hến khi thì có giọng điệu hài hước, khi thì có giọng điệu trữ tình.
GV hướng dẫn HS tìm hiểu nghĩa của những từ ngữ khó được chú thích ở chân trang. Ở bài này, cần chú ý một số từ ngữ địa phương, có thể xa lạ với nhiều HS.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
GV lưu ý HS: một số thông tin liên quan đến tác giả có thể hỗ trợ tốt cho việc trả lời các câu hỏi sau khi đọc, nhất là cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp đất nước và con người trên khắp mọi miền Tổ quốc, đặc biệt là Huế, trong sáng tác của Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Tản văn thường có lối viết tản mạn, tạt ngang tạt dọc (giống như đang nói chuyện phiếm), vì vậy thường khó chia bố cục bài. Đối với thể loại này, tuỳ từng tác phẩm cụ thể, nên chú ý hình ảnh, hình tượng, hiện tượng, vấn đề,… chính, được coi là điểm tựa cho những bàn luận. Ở bài tản văn Chuyện cơm hến, món cơm hến trong cuộc sống đời thường của người Huế là hiện tượng xuyên suốt tác phẩm. Từ cái "trụ" đó, nhà văn liên tưởng đến nhiều chuyện khác, qua đó bộc lộ những ý kiến, suy nghĩ, cảm xúc cá nhân của mình. Do vậy, GV cần gợi ý cho HS nhận ra hiện tượng chính mà VB nói tới, kết nối các chi tiết trong tác phẩm vào mạch chung, đồng thời phát hiện chủ ý của tác giả, có thể đưa ra những ý kiến riêng của mình để đối thoại với ý kiến của tác giả.
Hệ thống câu hỏi sau khi đọc được chia theo các nhóm như sau: nhận biết (câu 1, 2); phân tích, suy luận (câu 3, 4, 5, 6) và đánh giá, vận dụng (câu 7). GV có thể kết hợp các câu hỏi này hoặc gia giảm phạm vi, độ khó để tạo thành những câu hỏi mới tuỳ theo đối tượng HS và diễn biến cụ thể của giờ học.
Câu hỏi 1
Khi hướng dẫn trả lời câu hỏi này, GV gợi ý cho HS tìm những câu, chi tiết có trong VB nói về các nguyên liệu làm cơm hến, cách người dân thưởng thức cơm hến. Những nguyên liệu như ruột hến, cơm nguội, miến, măng khô, rau sống, thịt heo - những thứ đơn giản, dễ kiếm, có thể được tận dụng - trở thành những vị chủ đạo của món cơm hến. Những gia vị làm cơm hến cũng rẻ và dễ kiếm như da heo, tóp mỡ (nguyên liệu thừa sau khi chế biến các món ăn hằng ngày), ớt, muối, mè, đậu phộng, ruốc, bánh tráng,… Cả những nguyên liệu chính lẫn gia vị đều nói lên tính chất bình dân của món ăn. Người bán cơm hến bán rong trên đường phố, bất cứ ai cũng có thể ăn, người nghèo cũng ăn được vì nó phù hợp với túi tiền của tất cả mọi người. Đây là một món ăn bình dân từ nguyên liệu cho đến cách ăn.
Câu hỏi 2 GV hướng dẫn HS nhận ra phong cách ăn uống của người Huế thông qua món cơm hến. Ngay từ đầu tác phẩm, tác giả đã gây ấn tượng với người đọc về khẩu vị
Câu hỏi 2
GV hướng dẫn HS nhận ra phong cách ăn uống của người Huế thông qua món cơm hến. Ngay từ đầu tác phẩm, tác giả đã gây ấn tượng với người đọc về khẩu vị ăn cay khác thường của người Huế so với người ở những địa phương khác. Món cơm hến có đến 3 loại ớt: ớt tương, ớt màu, ớt dầm mắm. Món này tiêu biểu cho phong cách ăn "cay dễ sợ", cay "chảy nước mắt" của người Huế. Mặt khác, món cơm hến là kết quả của một nghệ thuật chế biến tỉ mỉ, cầu kì rất đặc trưng của người Huế. Hay nói cách khác, qua món cơm hến, ta thấy người Huế đã nâng một món ăn bình dân lên thành nghệ thuật ẩm thực. (Có người cho rằng cơm hến là món bình dân, rồi được đưa vào cung đình, được chế biến bởi các đầu bếp tài hoa, rồi lại trở ra cuộc sống bình dân nên nó được nâng lên thành tinh hoa ẩm thực Huế.)
Câu hỏi 3
Câu hỏi này giúp HS tiếp cận với đặc điểm thể loại của tản văn. Lấy điểm tựa từ một món ăn của người bình dân, bài tản văn bàn luận về vấn đề phong tục, tập quán, về sự giữ gìn
văn hoá truyền thống, về đặc điểm nhân học, về tình yêu và sự gắn bó với quê hương,… Do vậy, Chuyện cơm hến không chỉ giới thiệu một món ăn hay là cung cấp thông tin về công thức chế biến món ăn. Món cơm hến là cái cớ để bàn nhiều chuyện khác. Cái hay của tản văn chính là ở các vấn đề nhân sinh được bàn luận. Chiều sâu văn hoá làm nên giá trị của tác phẩm. GV có thể có những câu hỏi nhỏ để gợi ý HS phát hiện từng phương diện được nói tới trong bài (Ví dụ: "Chuyện cơm hến" có giống các bài viết trong sách dạy nấu ăn không? Vì sao? Trong phong cách ẩm thực, người Huế khác người Quảng (Quảng Nam, Đà Nẵng) và cả những vùng khác nữa ở điểm nào? Câu chuyện về nghề xúc hến nhắc đến tục lệ gì? Cái sự thèm cơm hến có phải là một biểu hiện của sự gắn bó với quê hương không?...).
Câu hỏi 4
Câu hỏi này rèn luyện khả năng phân tích và suy luận của HS. HS có thể trả lời theo cách hiểu của mình. GV không nên áp đặt phương án trả lời cho HS. GV nên gợi mở và nêu phương án trả lời, chấp nhận những cách trả lời khác nhau, kể cả sự phản biện.
Đúng như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã viết trong bài tản văn, tính bảo thủ là một yếu tố văn hoá hết sức quan trọng, để bảo toàn di sản. Di tích văn hoá ghi dấu ấn lịch sử của một thời. Trên thế giới đã có nhiều cách giữ gìn, trùng tu di tích. Một trong những nguyên tắc được đặt lên hàng đầu là bảo tồn nguyên trạng. Khi có những hạng mục quá xuống cấp, người ta phục dựng bằng nguyên liệu thay thế nhưng vẫn giữ lại chứng tích cũ (có tính trưng bày). Ví dụ: một cái cột bị mục ruỗng sẽ trưng bày bên cạnh cái cột mới được mô phỏng theo cái cũ. Nếu không lưu giữ được nguyên trạng, mọi sự "làm mới" đều làm mất đi tính lịch sử của di tích. Hồn cốt của một cộng đồng nằm ở tính lịch sử - truyền thống. Vì thế, để giữ gìn truyền thống văn hoá, cần bảo tồn nguyên trạng những nét xưa. Món ăn cũng vậy. Nếu bảo tồn được nét xưa sẽ bảo tồn được truyền thống. Pha tạp sẽ mất đi hồn cốt. Cho nên, một món ăn đặc sản cũng giống như một di tích văn hoá. Đối với tác giả, món cơm hến đúng điệu phải bảo tồn nguyên liệu và cách chế biến. Tuy nhiên, có thể có ý kiến phản biện: Cuộc sống hằng ngày thay đổi, khẩu vị con người thích ứng với sự thay đổi,
văn hoá không phải là bất biến, nhất là trong cách ăn uống. Vậy câu khẳng định của nhà văn như một cách nêu vấn đề bàn luận. Người đọc có thể đồng tình, có thể
văn hoá không phải là bất biến, nhất là trong cách ăn uống. Vậy câu khẳng định của nhà văn như một cách nêu vấn đề bàn luận. Người đọc có thể đồng tình, có thể không đồng tình. Cuộc đối thoại của tác giả với chị bán cơm hến cũng là sự đối thoại của các quan niệm về sự giữ gìn bản sắc.
Ở bài tản văn Di tích và con người, Hoàng Phủ Ngọc Tường viết: Lịch sử nén chặt trong những di tích, các di tích góp phần quan trọng trong sự hình thành tính cách con người […] là tiềm thức văn hoá, di tích là trí nhớ của cộng đồng,… GV có thể kết nối những ý này để làm rõ thêm ý kiến của Hoàng Phủ Ngọc Tường khi ông cho rằng một món ăn đặc sản cũng giống như một di tích văn hoá.
Câu hỏi 5
Trước hết, GV cần gợi ý để HS nhận ra hình ảnh chị bán hàng (dù chỉ được miêu tả chấm phá vài nét ít ỏi trong VB): dáng gầy mỏng manh, chiếc áo dài đen cũ kĩ, chiếc nón cời và tiếng rao lanh lảnh. Đây là hình ảnh của người bán hàng trên phố, nghèo nhưng không
lam lũ, khổ sở mà vẫn có cái tươm tất, tề chỉnh của một người dù là dân lao động nhưng vẫn giữ cốt cách nền nã của người cố đô. Gánh cơm hến của chị có mười bốn vị, mà mỗi bát cơm hến có 500 đồng (thời giá những năm cuối thế kỉ XX). Mặc dù rất rẻ nhưng bát cơm hến vẫn đủ vị, như thể người bán không đặt lời lãi lên hàng đầu. Bán hàng là để mưu sinh, nhưng mưu sinh đi liền với niềm vui được tiếp nối truyền thống. Bản thân chị và gánh hàng của chị trở thành một nét văn hoá đặc trưng của Huế. GV lưu ý HS lời nói của chị bán hàng: Nói như cậu thì… còn chi là Huế!. Nếu vì bán rẻ mà không làm đúng theo cách cổ truyền, thay đổi nguyên liệu khác hoặc rút bớt nguyên liệu thì sẽ có lợi về thu nhập cho người bán, nhưng sẽ mất đi cái hồn của Huế. Câu nói giản dị của chị bán hàng thể hiện thái độ ứng xử với văn hoá của người dân địa phương. Họ coi bảo tồn truyền thống như một điều không cần bàn cãi. Văn hoá được lưu truyền từ chính cuộc sống bình dị, tự nhiên của cộng đồng cư dân. Nó như những mạch ngầm chảy trong cách sống, cách nghĩ của con người ở những vùng miền khác nhau. Mỗi cư dân trong cộng đồng là một hạt mầm vừa tiếp nối, vừa nuôi dưỡng những nét đẹp văn hoá địa phương.
Gánh cơm hến của chị bán hàng có một chi tiết đặc biệt, đó là bếp lửa. Đây là một hình ảnh vừa thực vừa mang tính tượng trưng, được dùng để kết thúc tác phẩm, gợi ra những hàm nghĩa sâu sắc: một bếp lửa chắt chiu, ấp ủ đi trong mưa suốt mùa đông, bền bỉ theo bước chân người. GV cần cho HS cảm nhận được những từ "chắt chiu", "ấp , "bền bỉ"; hiểu được không gian giữ lửa là "mưa", "mùa đông", "bước chân người". Bếp lửa cũng tượng trưng cho ý thức gìn giữ nét văn hoá cổ truyền ở những người bình dân như chị bán hàng. Họ mưu sinh nhưng không chạy theo lợi nhuận, "làm giả", làm biến đổi những nét truyền thống; thu nhập ít ỏi nhưng họ không bỏ nghề, vẫn chăm chút cho nghề. GV đặt các câu hỏi gợi mở (Ví dụ: Vậy việc giữ bếp lửa có khó khăn không? Giữ được bếp lửa sẽ có ý nghĩa như thế nào? Tại sao cần có bếp lửa? Bếp lửa còn được hiểu theo nghĩa nào? Nó có liên hệ gì với ý thức giữ gìn văn hoá của con người trong bối cảnh hiện nay?). Đó là ngọn lửa mà tác giả gọi là vị thứ 15 của
món cơm hến. Nó giữ cho nước dùng hến được nóng, không có nó không thành món cơm hến đúng vị. Nhưng nó còn là "vị" của tình cảm con người với nghề, của ý thức n
món cơm hến. Nó giữ cho nước dùng hến được nóng, không có nó không thành món cơm hến đúng vị. Nhưng nó còn là "vị" của tình cảm con người với nghề, của ý thức nỗ lực giữ gìn chất Huế, là "vị" của tâm hồn, là "vị" của niềm tin vào những điều không dễ mất trong cuộc sống. GV có thể chỉ ra cho HS thấy rõ hơn tính hàm súc của thể loại tản văn qua việc phân tích hình ảnh có tính chất tượng trưng như hình ảnh chị bán hàng và gánh cơm hến trong bài tản văn này.
Câu hỏi 6
Câu hỏi này khai thác đặc điểm về lời văn - ngôn ngữ của tản văn. Ngôn ngữ bài tản văn có tính chất khẩu ngữ, đôi khi hài hước như trong cuộc chuyện vui, đồng thời, vì tác giả là người Huế, nên trong lời trò chuyện có sử dụng nhiều từ ngữ địa phương. GV gợi ý cho HS tìm những cụm từ, những cách diễn đạt có tính chất khẩu ngữ, nhất là khẩu ngữ của người Huế. Ví dụ: Người Huế thích dùng mướp đắng lúc còn xanh; nấu canh phải duống nồi nước sôi xuống để thả mướp vào mới đảm bảo là đắng, lại còn bóp mướp sống làm món nộm,
đắng một cách tuyệt vời!; còn bạn nhậu người Quảng đều né hết, vì đắng không chịu nổi;
Người Huế có đủ cung bậc ngôn ngữ để diễn tả vị cay, bao gồm hết mọi giác quan, càng nói càng "sướng miệng": cay phỏng miệng, cay xé lưỡi, cay điếc mũi, cay chảy nước mắt, cay
toát mồ hôi, cay điếc tai, cay điếc óc,…; Tôi xin giới thiệu một ngày "Hạnh phúc trời hành" của dân Huế tui; Người "máu" cơm hến vẫn chưa vừa lòng với vị cay sẵn có, còn đòi thêm
một trái ớt tươi để cắn kêu cái rốp!; nghe tiếng rao cơm hến tôi thấy xúc động tận chân
răng;… Ngoài ra, trong bài còn có những câu mang màu sắc đối thoại, cảm thán thường
dùng khi chuyện trò trực tiếp: Vâng, mê nhất cái màu đùng đục ấy, ăn cơm hến mà chê nước đục là… dại!; Vâng, một bếp lửa chắt chiu, ấp ủ đi trong mưa suốt mùa đông, bền bỉ theo bước chân người…; đi xa nhớ lại thèm đứt sợi tóc, ở nước ngoài về bay ra Huế để ăn cho được một tô cơm hến lấy làm hả hê, thế đấy, chao ôi là Huế!;…
Câu hỏi 7
Cái tôi tác giả, hình tượng tác giả được thể hiện rõ nét trong tản văn. Đây là đặc điểm khiến tản văn khác với các thể loại văn xuôi khác. Câu hỏi này có tính chất đánh giá, giúp HS nhận thấy mối liên hệ giữa người viết và VB, có được những nhận định về tác giả. HS có thể nhận ra bóng dáng nhà văn trong Chuyện cơm hến từ cách miêu tả, cách nêu ý kiến, cách bộc lộ cảm xúc,… Tuỳ cách cảm nhận của cá nhân, HS có thể có nhiều câu trả lời khác nhau. Các câu trả lời đều cần có căn cứ từ VB. (Ví dụ: Nhà văn là người nhạy cảm với những nét đẹp đời thường thể hiện ở việc ông nhận ra vẻ đẹp ẩn trong gánh cơm hến và người bán cơm hến.)
Đọc tản văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đọc thường nhận ra một cái tôi công dân có ý thức trách nhiệm với cộng đồng, biết trân trọng những truyền thống văn hoá - lịch sử, yêu tha thiết quê hương, gắn bó với quê hương từ những điều nhỏ nhất. Hoàng Phủ Ngọc Tường còn là một "người ham chơi" (tên một tập tản văn của ông). Ông từng viết: Trong mỗi người chúng ta có một người làm và một người chơi. Ham chơi theo nghĩa biết thưởng thức những vẻ đẹp của cuộc sống.
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG 1. Phân tích yêu cầu cần đạt Mục tiêu chính của tiết học là giúp HS nhận biết được từ ngữ địa phương và hiểu được tác dụn
THỰC HÀNH TIẾNG VIỆT
TỪ NGỮ ĐỊA PHƯƠNG
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
Mục tiêu chính của tiết học là giúp HS nhận biết được từ ngữ địa phương và hiểu được tác dụng của việc sử dụng từ ngữ địa phương trong VB văn học, từ đó có thái độ trân trọng đối với đặc điểm riêng của các phương ngữ.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Hình thành kiến thức mới
Để dẫn dắt HS làm quen với kiến thức mới, GV cho HS nghe một đoạn ghi âm (hoặc xem một đoạn phim ngắn) về tiếng nói và cách dùng từ ngữ đặc biệt của một địa phương. GV cũng có thể ghi một số từ ngữ địa phương lên bảng.
GV cũng có thể nêu một số từ ngữ địa phương Nam Bộ được dùng trong VB Trở gió (Nguyễn Ngọc Tư) đã học trong bài 2, nêu những từ toàn dân tương đương.
Nếu GV lấy những từ ngữ ở địa phương khác thì có thể đặt câu hỏi cho HS: Em đã bao giờ nghe từ này chưa? Em có biết nghĩa của từ này không? Nếu GV lấy những từ ngữ địa phương của chính nơi HS đang sống thì có thể đặt câu hỏi cho HS: Em có biết từ này ở vùng miền khác phát âm như thế nào không? Từ này có thể thay thế bằng từ nào mà ai cũng có thể hiểu?
Từ đây, GV có thể hình thành kiến thức mới cho HS dựa trên chính VB đã học. GV có thể sử dụng các cách sau :
– Sử dụng phương pháp phân tích ngôn ngữ: GV có thể đưa các câu hỏi gợi ý. Các câu hỏi có thể sử dụng: Nếu không có chú thích, em có hiểu nghĩa từ “duỡng” không? Có thể thay thế từ “trụng” bằng từ nào khác? Tìm trong VB “Chuyện cơm hến” một số từ ngữ mà chỉ người vùng miền Trung mới dùng, người miền khác cần chú thích mới hiểu được…
– Sử dụng phương pháp thông báo, giải thích: GV đưa ra khái niệm từ ngữ địa phương. GV và HS cùng lấy ví dụ trong bài Chuyện cơm hến hoặc ở một VB khác đã học để minh hoạ.
Hoạt động 2 Luyện tập, vận dụng
Ở hoạt động này, GV có thể hướng dẫn HS làm việc cá nhân hoặc theo cặp, nhóm để hoàn thành bài tập. GV căn cứ vào thời gian của tiết học để hướng dẫn HS làm bài.
Bài tập 1 HS liệt kê những từ ngữ được cho là từ ngữ địa phương trong câu văn (thẫu, vịm, trẹc, o). Tránh đồng nhất những từ ngữ khó hiểu với từ ngữ địa phương
Bài tập 1
HS liệt kê những từ ngữ được cho là từ ngữ địa phương trong câu văn (thẫu, vịm, trẹc, o). Tránh đồng nhất những từ ngữ khó hiểu với từ ngữ địa phương (từ mù u có thể là một từ lạ, nhiều HS chưa biết cây mù u, các em có thể nhầm lẫn đó là từ địa phương). HS cần giải thích được vì sao đó là những từ ngữ địa phương và chỉ ra những từ ngữ toàn dân tương đương. HS chỉ cần đọc chú thích trong VB là tìm được những từ ngữ toàn dân tương đương với từ ngữ địa phương đó. GV chú ý, đối với nhiều HS miền Trung, cụ thể là Huế, những từ ngữ địa phương trong VB có thể rất thân thuộc, vì vậy các em có thể không nhận ra đó là từ ngữ thuộc phương ngữ riêng của vùng mình. Khi đó, GV cần cho HS nhận thức được nét riêng trong ngôn ngữ địa phương mình và tìm những từ ngữ toàn dân tương ứng. Đối với HS ở các vùng miền khác, GV có thể đặt những câu hỏi phụ như: Những từ ngữ nào trong câu văn khó hiểu đối với em? Những từ ngữ đó được giải thích trong phần chú thích như thế nào? Hãy tìm từ ngữ khác có thể thay thế cho từ ngữ đó…
Bài tập 2
Làm bài tập này, HS nên lập bảng thống kê (theo gợi ý phía dưới). HS căn cứ vào phần chú thích trong VB Chuyện cơm hến để tìm những từ ngữ toàn dân tương đương với các từ ngữ địa phương đó. GV khuyến khích HS sử dụng in-tơ-nét hoặc phỏng vấn những người có thể giải đáp về từ ngữ địa phương ở các vùng miền khác (như người thân, chuyên gia,…). Cột Ghi chú dành để điền thông tin về nguồn khai thác nghĩa các từ ngữ địa phương (tài liệu tham khảo, phỏng vấn trực tiếp).
Từ ngữ địa phương Từ ngữ toàn dân tương đương Ghi chú
Bài tập 3
GV lưu ý HS: có những loại VB không được dùng từ ngữ địa phương. Tuy nhiên, VB văn học lại chấp nhận việc dùng từ ngữ địa phương. Việc dùng từ ngữ địa phương trong văn học thường không phải do thói quen ngôn ngữ của người viết mà có chủ ý. Nhà văn muốn tạo ấn tượng về vùng miền hoặc khắc hoạ những đặc điểm văn hoá, xã hội mang tính địa phương của nhân vật, sự việc.
Trong Chuyện cơm hến, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường sử dụng từ ngữ địa phương nhằm khắc hoạ không khí, sắc thái riêng của Huế, miêu tả lối nói riêng của người Huế. Tính chất địa phương của bài tản văn góp phần tạo ấn tượng sâu đậm về Huế và văn hoá Huế. Nói về không gian văn hoá Huế bằng một số từ ngữ Huế thì sẽ nêu bật được sắc màu của Huế. GV có thể đặt những câu hỏi gợi mở như: Đọc từ ngữ địa phương mang lại cho em cảm nhận như thế nào về bài viết? Từ ngữ địa phương gợi cho em ấn tượng gì về Huế?... GV cũng có thể chọn một câu văn có chứa từ ngữ địa phương, cho HS thay thế từ ngữ địa phương bằng từ ngữ toàn dân rồi nhận xét sự thay đổi của câu.
VĂN BẢN 3. HỘI LỒNG TỐNG (Trần Quốc Vượng – Lê Văn Hảo – Dương Tất Từ) 1. Phân tích yêu cầu cần đạt HS nhận ra được VB thông tin về các hoạt động lễ hội (loại V
VĂN BẢN 3. HỘI LỒNG TỐNG
(Trần Quốc Vượng – Lê Văn Hảo – Dương Tất Từ)
1. Phân tích yêu cầu cần đạt
HS nhận ra được VB thông tin về các hoạt động lễ hội (loại VB này đã được học ở các lớp dưới). VB Hội lồng tồng kết nối chủ đề với VB 1 và VB 2 của bài học, giới thiệu những nét đặc sắc trong văn hoá các vùng miền. Mỗi hình thức VB có những cách viết riêng. Nếu tuỳ bút, tản văn cho thấy sự trải nghiệm, cách nhìn, cách đánh giá, cảm xúc riêng của nhà văn thì VB thông tin lại chủ yếu cung cấp những thông tin mang tính khách quan về những nét văn hoá đó.
HS thêm yêu mến, trân trọng những nét văn hoá truyền thống của người Việt Nam.
2. Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Khởi động
Đối với VB 3, SHS không thiết kế phần Trước khi đọc, song với VB Hội lồng tồng, GV có thể tổ chức hoạt động khởi động bài học bằng cách đặt câu hỏi về các lễ hội HS từng tham gia.
GV gợi dẫn HS tìm hiểu vùng Việt Bắc trên bản đồ Việt Nam và những kiến thức văn hoá liên quan đến vùng Việt Bắc.
Hoạt động 2 Đọc văn bản
HS cần được khuyến khích đọc VB trước khi đến lớp. VB này chia thành nhiều phần, GV có thể gọi các HS khác nhau đọc từng phần của VB. VB thông tin cần đọc to, rõ ràng.
Hoạt động 3 Khám phá văn bản
Đây là một VB thuyết minh, các ý được trình bày rõ ràng, lớp lang. Vì vậy, GV có thể hướng dẫn HS chia đoạn cho dễ tiếp cận VB. Đoạn 1: từ đầu đến múa sư tử và lượn lồng tồng (giới thiệu khái quát về hội lồng tồng). Đoạn 2: từ Trò chơi ném còn đến cuộc vui tiếp tục (giới thiệu về trò chơi ném còn). Đoạn 3: từ Múa sư tử đến đọ tài với đối phương (giới thiệu về trò múa sư tử). Đoạn 4: từ Nhân dịp hội lồng tồng đến hết (giới thiệu về hoạt động hát lượn).
Hệ thống câu hỏi sau khi đọc được chia theo các nhóm như sau: nhận biết (câu 1, 2, 3); phân tích, suy luận (câu 4) và đánh giá, vận dụng (câu 5). GV có thể kết hợp các câu hỏi này
hoặc gia giảm phạm vi, độ khó để tạo thành những câu hỏi mới tuỳ theo đối tượng HS và diễn biến cụ thể của giờ học. Câu hỏi 1 Đối với câu hỏi này, HS cần ôn lại
hoặc gia giảm phạm vi, độ khó để tạo thành những câu hỏi mới tuỳ theo đối tượng HS và diễn biến cụ thể của giờ học.
Câu hỏi 1
Đối với câu hỏi này, HS cần ôn lại dạng bài tóm tắt VB bằng sơ đồ đã học ở lớp 6. GV khuyến khích HS trình bày các dạng sơ đồ khác nhau sao cho nêu được các ý cơ bản của VB: thời gian tổ chức, địa điểm tổ chức, vùng miền có lễ hội, phần cúng tế - lễ, phần vui chơi - hội. GV có thể tổ chức cho HS làm việc theo nhóm, đối chiếu sơ đồ của các nhóm, điều chỉnh, bổ sung kịp thời những sai sót.
Câu hỏi 2
Câu hỏi này yêu cầu HS thấy được những sản vật cúng tế trong hội lồng tồng có liên quan mật thiết với mục đích mở hội và tục thờ thần nông của đồng bào Tày, Nùng. Lễ hội xuống đồng có ý nghĩa cầu mùa, cầu một năm mưa thuận gió hoà, việc nhà nông thuận lợi.
Hội lồng tồng ở Việt Bắc gắn với tục thờ thần nông. Thần nông được tôn làm thành hoàng làng cũng có nghĩa là thần nông được cho là có vai trò giúp dân khai mở đất đai, xây dựng và bảo vệ bản mường. Những lễ vật như gà thiến béo, lợn quay, các thứ bánh trái như bánh chưng hay bánh lá ngải, xôi nhuộm lá cẩm, rượu nếp, rượu mác mật,… đều là những sản phẩm nông nghiệp của cư dân, được dâng lên tế thần nông để thể hiện sự biết ơn của cư dân với vị thần cai quản đời sống bản mường, cũng là cách thức để kính báo về công việc làm ăn sinh sống hằng năm và biểu thị niềm mong ước về cuộc sống no đủ.
Câu hỏi 3
Ở hội lồng tồng (cũng như nhiều lễ hội khác), sau phần lễ là phần hội. Câu hỏi này yêu cầu HS nêu các hoạt động diễn ra trong phần hội để HS nhận thấy rõ những nét văn hoá truyền thống của địa phương. GV hướng dẫn HS miêu tả sơ lược những hoạt động văn hoá của cộng đồng như ném còn, múa sư tử, hát đối đáp. GV có thể gợi ý để HS kết nối hiểu biết của mình với những hoạt động đó (có thể đặt các câu hỏi phụ như Ở địa phương em có các hoạt động này không? Em đã từng được tham dự hay biết đến những hoạt động này chưa?...).
Những hoạt động văn hoá trong hội lồng tồng biểu thị những phẩm chất, khả năng của cư dân nông nghiệp. GV hướng dẫn HS nhận ra qua từng hoạt động những phẩm chất và khả năng đó như: nhanh nhẹn, khéo léo, giỏi đánh võ đi quyền, thuộc nhiều tác phẩm dân gian, ứng đối giỏi, hát hay, giàu tình cảm,… GV có thể dẫn một vài chi tiết cụ thể của các trò chơi và gợi ý cho HS nhận xét về con người tham gia các hoạt động đó. (Ví dụ: qua chi tiết Phần "lượn tuồng" gồm những bài hát cổ điển mà gái trai phải học thuộc lòng để hát kể cho nhau nghe về những cảnh đẹp của quê hương mường bản, những câu chuyện mượn trong cổ tích, truyền thuyết, những cảnh sinh hoạt sản xuất trong bốn mùa, mười hai tháng,…, HS sẽ nhận thấy người hát đối đáp cần có khả năng biết và thuộc nhiều tác phẩm văn học dân gian, cần có khả năng ứng đối và sáng tác tại chỗ trên cơ sở những bài có sẵn, có tâm hồn phong phú,…).
VIẾT VIẾT VĂN BẢN TƯỜNG TRÌNH Phân tích yêu cầu cần đạt – HS nắm được những thể thức mang tính quy phạm của VB tường trình – loại VB hết sức thông dụng trong đờ
VIẾT
VIẾT VĂN BẢN TƯỜNG TRÌNH
Phân tích yêu cầu cần đạt
– HS nắm được những thể thức mang tính quy phạm của VB tường trình – loại VB hết sức thông dụng trong đời sống.
– HS biết cách viết VB tường trình rõ ràng, đầy đủ, đúng quy cách.
Những lưu ý về yêu cầu đối với văn bản tường trình
VB tường trình mà HS tập viết ở đây có thể thuộc một trong hai trường hợp: là loại VB có nội dung giả định/ là loại VB tường thuật một vụ việc có thực. Dù thuộc trường hợp nào, HS cũng cần nắm được thể thức của VB tường trình.
GV cần định hướng: Vụ việc được chọn để tường trình không cần quá phức tạp, nhưng phải có đủ các yếu tố đòi hỏi được làm rõ bằng VB mới có thể giải quyết. Vì đây là VB mang tính hành chính nên việc tuân thủ thể thức phải được đặt lên hàng đầu.
Gợi ý tổ chức hoạt động dạy học
Hoạt động 1 Giới thiệu kiểu bài
GV cho HS đọc lời dẫn trong SHS và nêu câu hỏi: Tường trình nghĩa là gì? Đã bao giờ em phải viết bản tường trình chưa? Nếu từng viết, hãy cho biết em đã thực hiện nó như thế nào. GV cần căn cứ vào câu trả lời của HS để chọn cách giới thiệu tự nhiên và hiệu quả nhất về VB tường trình.
Hoạt động 2 Tìm hiểu thể thức của văn bản tường trình GV cho HS tìm hiểu, trao đổi về phần giới thiệu thể thức của VB tường trình trong SHS. Có thể nêu câu hỏi
Hoạt động 2 Tìm hiểu thể thức của văn bản tường trình
GV cho HS tìm hiểu, trao đổi về phần giới thiệu thể thức của VB tường trình trong
SHS. Có thể nêu câu hỏi để lưu ý HS về những điểm chính: - Vì sao phải ghi quốc hiệu và tiêu ngữ trong bản tường trình? (Để xác định đây là VB giao tiếp hành chính.) - Vì sao phải thuật lại vụ việc với đầy đủ thông tin về thời gian, địa điểm, những người có liên quan, nguyên nhân, diễn biến, hậu quả, người chịu trách nhiệm? (Để người hoặc cơ quan đảm nhiệm chức năng giải quyết vụ việc có đủ cơ sở để xem xét, giải quyết vấn đề.) - Vì sao cần có lời cam đoan cuối bản tường trình? (Để nêu cao trách nhiệm của người làm bản tường trình.)
Hoạt động 3 Đọc và phân tích bản tường trình tham khảo
GV cho HS đọc bản tường trình tham khảo và các ghi chú bên phải VB (trong SHS). - GV nêu yêu cầu: Hãy nhớ lại những bản tường trình em đã viết hoặc đã đọc trước đây để biết được đâu là phần hay loại thông tin bắt buộc phải có trong bản tường trình.
Hoạt động 4 Thực hành viết theo các bước
GV cho HS tự nghiên cứu phần Thực hành viết theo các bước trong SHS, trang 122 - 123, trao đổi về những điểm còn chưa rõ. - GV phân tích cho HS thấy ý nghĩa quan trọng của việc đặt tên cho bản tường trình: chính cái tên sẽ chi phối toàn bộ việc lựa chọn và sắp xếp chi tiết cần viết. - Nếu có HS chọn viết tường trình về một vụ việc mang tính chất giả định, cần lưu ý các em mấy điểm cơ bản: các chi tiết của vụ việc phải được hình dung sáng rõ và sắp xếp hợp lí; cái được xem là "hậu quả" phải hệ trọng đến mức người tham dự, chứng kiến phải có trách nhiệm tường trình (không nên viết về những chuyện vụn vặt mà các bên liên quan có thể tự giải quyết một cách đơn giản, nhẹ nhàng). Bản tường trình có thể được hoàn thành ở nhà hoặc ở lớp. Nếu HS viết ở lớp, GV cần bố trí thời gian hoạt động hợp lí và kịp thời đưa ra những lời khuyên hay lời nhắc nhở cần thiết.
TRẢ BÀI
Hoạt động 1 Nhắc lại, khắc sâu yêu cầu của kiểu bài
GV cho HS nhắc lại yêu cầu chung của kiểu bài và những đòi hỏi cụ thể làm nên thể thức riêng của VB tường trình.
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả và chỉnh sửa bài viết – GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt ở các bài viết của HS, chọn phân tích một số bài viế
Hoạt động 2 Nhận xét về kết quả và chỉnh sửa bài viết
– GV nhận xét chung về mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt ở các bài viết của HS, chọn phân tích một số bài viết thuộc các mức độ khác nhau theo thang đánh giá để giúp HS rút ra những kinh nghiệm cần thiết.
– GV trả bài cho HS, yêu cầu các em chỉnh sửa theo hướng dẫn trong SHS và theo những điều vừa phân tích, bổ sung ở trên (việc chỉnh sửa có thể tiến hành theo hình thức trao đổi nhóm).
Trang 157
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG GV cho HS tự hoàn thành các nội dung Củng cố, mở rộng và thực hiện các hướng dẫn của VB Thực hành đọc ở nhà. GV cũng có thể sử dụng một số câu
CỦNG CỐ, MỞ RỘNG
GV cho HS tự hoàn thành các nội dung Củng cố, mở rộng và thực hiện các hướng dẫn của VB Thực hành đọc ở nhà. GV cũng có thể sử dụng một số câu hỏi, bài tập trong phần này để thiết kế các đề kiểm tra, đánh giá thường xuyên trong năm học.
Bài tập 1
GV yêu cầu HS ôn tập lại các VB Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt và Chuyện cơm hến trên các phương diện: thể loại, những hình ảnh nổi bật, đặc điểm lời văn, cảm xúc và suy nghĩ của tác giả.
Bài tập 2
GV khuyến khích HS tìm đọc có định hướng (theo gợi ý trong SHS) những tuỳ bút và tản văn viết về các đề tài cảnh sắc thiên nhiên, văn hoá ẩm thực khác.
Bài tập 3
GV khuyến khích HS tìm đọc những VB trên sách, báo, in-tơ-nét,... viết về những nét văn hoá truyền thống ở các vùng miền trên đất nước Việt Nam hoặc những nơi khác trên thế giới. GV hướng dẫn để HS có thể chia sẻ cảm nhận của mình về những VB đó với các bạn trong lớp.
Trang 159
Trang 160
Trang 161
Trang 162
Trang 163
Trang 164
Trang 165
Trang 166
Trang 167
Trang 168
cover-last