Vũ Xuân Nam
Giới thiệu về bản thân
II. PHẦN VIẾT (6.0 ĐIỂM)
Câu 1.
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ hiện nay.
Câu 2.
Viết bài văn trình bày cảm nhận về con người Nam
Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo trong truyện Biển người mênh mông (Nguyễn Ngọc Tư).
Biển người mênh mông
Nguyễn Ngọc Tư
[..] Hồi ngoại Phi còn sống, thấy tóc anh ra hơi liếm ót bà đã cằn nhằn: "Cái thằng, tóc tai gì mà xấp xãi, hệt du côn". [...] Phi không cãi nữa, cầm mấy ngàn chạy đi, lát sau đem cái đầu tóc mới về.
Phi sinh ra đã không có ba, năm tuổi rưỡi, má Phi cũng theo chồng ra chợ sống. Phi ở với bà ngoại. /..]
Phi mười, mười lăm tuổi đã biết rất nhiều chuyện.
Thì ra, đã không còn cách nào khác, má mới bỏ Phi lại. Sau giải phóng, ba Phi về, xa nhau biền biệt chín năm trời, về nhà thấy vợ mình có đứa con trai chưa đầy sáu tuối, ông chết lặng. Cũng như nhiều người ở Rạch Vàm Mấm này, ông ngờ răng má Phi chắc không phải bị tên đồn trưởng ấy làm nhục, hăn lui tới ve vãn hoài, lâu ngày phải có tình ý gì với nhau, nếu không thì giữ cái thai ấy làm gì, sinh ra thằng Phi làm gì. Ngoại Phi bảo: "Tụi bây còn thương thì mai mốt ra tỉnh nhận công tác, rủ nhau mà đi, để thằng Phi lại cho má" Hết cấp hai, Phi lên thị xã mướn nhà trọ học, một năm mấy lần lại nhờ má đi họp phụ huynh. [..] Ba Phi thì hội họp, công tác liên miên, Phi ít gặp.
Ông thay đổi nhiều, tướng tá, diện mạo, tác phong nhưng gặp Phi, cái nhìn vẫn như xưa, lạnh lẽo, chua chát, lại như giễu cợt, đăng cay. I...] Hết lớp Mười, Phi vừa học vừa tìm việc làm thêm. |.] Rồi ngoại Phi nằm xuống dưới ba tấc đất. Còn một mình, anh đâm ra lôi thôi, ba mươi ba tuổi rồi mà sống lôi thôi. [..] Má anh lâu lâu lại, hỏi anh đủ tiên xài không, bà có nhìn anh nhưng không quan tâm lắm chuyện ăn mặc, tóc tai. Ngoài ngoại ra, chỉ có ông già Sáu Đèo nhắc anh chuyện đó.
Ông già Sáu mới dọn lại thuê một căn chung vách với nhà Phi. Ông cũng nghèo, lúc chuyển đến đồ đạc chỉ gói gọn bốn cái thùng các tông. [..]. Ông chỉ tay vô cái lồng trùm vải xanh, trong đó có con bìm bip.[..]
[...] Ông kể, hồi trẻ, ông toàn sống trên sông, ông có chiếc ghe, hai vợ chồng lang thang xứ nầy xứ nọ.
[.] Cuộc sống nghèo vậy mà vui lắm. Phi hỏi: "Vậy bác Sáu gái đâu rồi?". [...] Ông già Sáu mếu máo chỉ về phía tim: "Cổ đi rồi. Sống khổ quá nên cổ bỏ qua.
Cô lên bò, không từ giã gì hết, bữa đó đúng là qua bậy, qua nhậu xỉn quá trời, rồi cũng có cự cãi mấy câu, cảnh nhà không con nên sanh buồn bực trong lòng, qua có hơi nặng lời, cô khóc. Lúc thức dậy thì cổ đã đi rồi. Qua đã tìm gần bốn mươi năm, dời nhà cả thảy ba mươi ba bận, lội gần rã cặp giò rồi mà chưa thấy. Kiếm để làm gì hả? Để xin lỗi chớ làm gì bây giờ.". [.]
Rồi một bữa, ông bày ra bữa
Ông đi rồi, chỉ còn lại Phi và con bìm bip.
[..] Từ đấy, ông già Sáu Đèo chưa một lần trở lại.
(Theo isach.infor)
Chú thích:
Nguyễn Ngọc Tư sinh năm 1976, quê ở xã Tân Duyệt, huyện Đâm Dơi, tỉnh Cà Mau, là cây bút mang đậm dấu ấn Nam Bộ. Nguyễn Ngọc Tư đã thu hút sự chú ý của bạn đọc ngay từ những trang viết đầu tay, đồng thời được giới chuyên môn và các nhà phê bình văn học đánh giá cao.
Qua:
từ người lớn tuổi dùng để tự xưng một cách thân mật khi nói với người vai dưới.
Biểu: bảo.
Bầy hầy: bừa bãi, luộm thuộm.
Ót: gáy.
Đương thúng: đan thúng.
Rầy: mắng.
Ròng: (nước thủy triều) rút xuống.
Tía: cha.
Cố: cô ấy.
Câu 1. Xác định kiểu văn bản của ngữ liệu trên.
- Trả lời: Kiểu văn bản: Văn bản thông tin (thuyết minh về một nét đẹp văn hóa, phong tục).
Câu 2. Liệt kê một số hình ảnh, chi tiết cho thấy cách giao thương, mua bán thú vị trên chợ nổi.
- Trả lời: Các chi tiết thú vị bao gồm:
- Phương tiện: Người mua và người bán đều dùng xuồng, ghe (xuồng ba lá, xuồng năm lá, ghe tam bản, tắc ráng...) len lỏi khéo léo giữa hàng trăm ghe thuyền.
- Cách rao mời bằng mắt (Cây bẹo): Dùng cây sào tre dài cắm đứng trên ghe, treo cao các loại hàng hóa (trái cây, rau củ) để khách nhìn thấy từ xa.
- Dấu hiệu đặc biệt: Treo tấm lá lợp nhà trên "cây bẹo" để rao bán chính chiếc ghe đó.
- Cách rao mời bằng tai: Dùng âm thanh lạ tai của các loại kèn (kèn bấm tay, kèn đạp chân/kèn cóc) hoặc những lời rao lảnh lót, thiết tha của các cô gái bán đồ ăn thức uống (rao chè đậu đen, bánh bò...).
Câu 3. Nêu tác dụng của việc sử dụng tên các địa danh trong văn bản trên.
- Trả lời:
- Tính xác thực: Giúp người đọc xác định được cụ thể những địa điểm có chợ nổi nổi tiếng (Cái Bè, Cái Răng, Ngã Bảy...), tạo độ tin cậy và khách quan cho văn bản thông tin.
- Tính sinh động, cụ thể: Làm nổi bật sự phong phú, rộng khắp của hình thức chợ nổi tại nhiều tỉnh thành khác nhau ở miền Tây.
- Giá trị văn hóa: Gợi lên niềm tự hào về sự trù phú và bản sắc riêng biệt của từng vùng đất thuộc miền sông nước Cửu Long.
Câu 4. Nêu tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản trên.
- Trả lời:
- Phương tiện phi ngôn ngữ trong bài bao gồm: hình ảnh minh họa (Chợ nổi Ngã Bảy) và hình ảnh "cây bẹo" cùng các loại hàng hóa treo trên đó.
- Tác dụng:
- Giúp người đọc dễ dàng hình dung cụ thể, trực quan về không gian và cách thức mua bán độc đáo của chợ nổi mà ngôn từ đôi khi không diễn tả hết được.
- Làm cho văn bản trở nên sinh động, hấp dẫn và bớt khô khan.
- Minh chứng cho nét sáng tạo, thông minh trong đời sống lao động của người dân miền Tây (dùng hình ảnh thay cho lời nói trong môi trường sông nước ồn ào).
Câu 5. Anh/Chị có suy nghĩ gì về vai trò của chợ nổi đối với đời sống của người dân miền Tây?
- Trả lời: (Đây là câu hỏi mở, bạn có thể trình bày theo các ý chính sau):
- Về kinh tế: Là nơi giao thương, tiêu thụ nông sản chủ lực, tạo sinh kế và thu nhập ổn định cho hàng ngàn hộ dân vùng sông nước.
- Về đời sống sinh hoạt: Là một "siêu thị di động" cung cấp đầy đủ các mặt hàng thiết yếu từ đồ gia dụng đến ẩm thực, gắn liền với nếp ăn, nếp ở của người dân.
- Về văn hóa - du lịch: Chợ nổi là "linh hồn" của miền Tây, lưu giữ những giá trị văn hóa bản địa đặc sắc, là sản phẩm du lịch độc đáo thu hút du khách trong và ngoài nước, góp phần quảng bá hình ảnh con người Việt Nam hiền hòa, sáng tạo.
- Kết luận: Chợ nổi không chỉ là nơi mua bán mà còn là biểu tượng của tinh thần gắn bó với thiên nhiên, là di sản văn hóa quý báu cần được bảo tồn và phát triển.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1
Đoạn thơ đã khắc họa một bức tranh mùa thu Hà Nội vừa dịu dàng vừa man mác buồn. Những tín hiệu đặc trưng của mùa thu như “gió heo may”, “xào xạc lạnh”, “lá vàng khô lùa trên phố” gợi nên một không gian se lạnh, yên tĩnh và đầy chất thơ. Âm thanh “xào xạc” kết hợp với hình ảnh lá vàng khiến bức tranh thu trở nên sống động, giàu cảm giác. Trong khung cảnh ấy, con người hiện lên với tâm trạng cô đơn qua hình ảnh “ta lặng lẽ một mình”, từ đó khơi gợi nỗi nhớ “người xa” đầy da diết. Tuy nhiên, mùa thu Hà Nội không chỉ mang nét buồn mà còn rất đẹp và giàu sức sống qua hình ảnh “hàng sấu”, “trái vàng ươm”, “chùm nắng hạ”. Những chi tiết này thể hiện sự giao mùa tinh tế giữa hạ và thu, tạo nên vẻ đẹp riêng biệt của Hà Nội. Qua đó, đoạn thơ không chỉ là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng, thể hiện một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế trước cảnh sắc và con người.
Câu 2
Trong thời đại ngày nay, trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển với tốc độ chóng mặt và trở thành một trong những công nghệ có ảnh hưởng sâu rộng nhất đến đời sống con người. Sự phát triển như vũ bão của AI vừa mở ra nhiều cơ hội lớn, vừa đặt ra không ít thách thức, đòi hỏi con người phải có cái nhìn đúng đắn và cách ứng xử phù hợp.
Trước hết, AI mang lại nhiều lợi ích to lớn trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống. Trong y học, AI giúp chẩn đoán bệnh nhanh và chính xác hơn, hỗ trợ bác sĩ đưa ra phương án điều trị hiệu quả. Trong giáo dục, AI cá nhân hóa việc học, giúp học sinh tiếp cận kiến thức phù hợp với năng lực của mình. Bên cạnh đó, AI còn góp phần tự động hóa sản xuất, nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm thời gian cho con người. Có thể nói, AI đang dần trở thành một công cụ đắc lực, giúp cuộc sống con người tiện nghi và hiện đại hơn.
Tuy nhiên, sự phát triển mạnh mẽ của AI cũng đặt ra nhiều vấn đề đáng lo ngại. Một trong những thách thức lớn nhất là nguy cơ con người bị thay thế trong nhiều công việc, dẫn đến thất nghiệp và bất ổn xã hội. Ngoài ra, việc phụ thuộc quá nhiều vào AI có thể khiến con người trở nên thụ động, giảm khả năng tư duy độc lập và sáng tạo. Bên cạnh đó, những vấn đề liên quan đến đạo đức, bảo mật thông tin và quyền riêng tư cũng đang trở thành mối quan tâm lớn khi AI ngày càng can thiệp sâu vào đời sống cá nhân.
Trước những cơ hội và thách thức đó, con người cần có thái độ chủ động và tỉnh táo. Mỗi người cần không ngừng học tập, nâng cao kỹ năng để thích nghi với sự thay đổi của công nghệ. Đồng thời, cần sử dụng AI một cách hợp lí, coi AI là công cụ hỗ trợ chứ không phải thay thế hoàn toàn vai trò của con người. Nhà nước và các tổ chức cũng cần xây dựng những quy định chặt chẽ nhằm kiểm soát và định hướng sự phát triển của AI theo hướng tích cực, phục vụ lợi ích chung của xã hội.
Tóm lại, AI là thành tựu lớn của trí tuệ con người, mang lại nhiều lợi ích nhưng cũng tiềm ẩn không ít rủi ro. Điều quan trọng là con người phải biết làm chủ công nghệ, sử dụng AI một cách thông minh và có trách nhiệm, để công nghệ thực sự trở thành động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của xã hội.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là: biểu cảm (kết hợp tự sự và miêu tả).
Câu 2
Những từ ngữ, hình ảnh thể hiện năm khốn khó:
- “năm khốn khó”
- “đồng sâu lụt, bờ đê sụt lở”
- “mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn”
- “chịu đói suốt ngày tròn”
- “co ro bậu cửa”
- “có gì nấu đâu mà nhóm lửa”
→ Những chi tiết này cho thấy cuộc sống nghèo đói, thiên tai, thiếu thốn và sự vất vả, lam lũ của người mẹ và gia đình.
Câu 3
Biện pháp tu từ: nói quá kết hợp ẩn dụ
- “tiếng lòng con chẳng thể nào vang vọng / tới vuông đất mẹ nằm lưng núi quê hương”
Tác dụng:
- Nhấn mạnh khoảng cách âm – dương không thể vượt qua
- Thể hiện nỗi đau mất mẹ sâu sắc, nỗi nhớ thương và sự bất lực của người con
Câu 4
Câu thơ: “Mẹ gánh gồng xộc xệch hoàng hôn.”
→ Gợi hình ảnh người mẹ tần tảo, lam lũ, phải gánh gồng vất vả từ sáng đến chiều tối.
→ “Xộc xệch” diễn tả sự nặng nhọc, chật vật; “hoàng hôn” vừa là thời gian cuối ngày, vừa gợi cuộc đời nhiều nhọc nhằn, hi sinh của mẹ.
Câu 5
Đoạn thơ gửi gắm thông điệp sâu sắc về tình mẫu tử thiêng liêng và sự hi sinh thầm lặng của người mẹ. Dù trong hoàn cảnh nghèo khó, mẹ vẫn tần tảo, gánh gồng, chắt chiu từng chút để nuôi con khôn lớn. Khi mẹ không còn, người con mới thấm thía nỗi đau mất mát và sự day dứt vì chưa kịp báo đáp. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết yêu thương, trân trọng và quan tâm đến cha mẹ khi còn có thể, bởi tình mẹ là vô giá và không gì có thể thay thế.
CÂU CHỦ ĐỀ
Cần thuyết phục mọi người từ bỏ thói quen sử dụng điện thoại quá nhiều để bảo vệ sức khỏe, nâng cao hiệu quả học tập và chất lượng cuộc sống.
LUẬN ĐIỂM MỞ ĐẦU
Thực trạng, biểu hiện của thói quen:
• Nhiều người, đặc biệt là học sinh, sử dụng điện thoại trong thời gian dài mỗi ngày.
• Thường xuyên lướt mạng xã hội, xem video, chơi game ngay cả khi đang học hoặc trước giờ ngủ.
• Hình thành thói quen cầm điện thoại mọi lúc, mọi nơi, khó kiểm soát thời gian sử dụng.
dụng.
LUẬN ĐIỂM BỔ SUNG
Các giải pháp từ bỏ:
• Lập thời gian biểu hợp lí, giới hạn thời gian sử dụng điện thoại mỗi ngày.
• Tắt thông báo không cần thiết, để điện thoại xa bàn học và giường ngủ.
• Thay thế bằng các hoạt động lành mạnh như đọc sách, chơi thể thao, trò chuyện trực tiếp.
• Nhờ sự nhắc nhở, giám sát của gia đình và thầy cô.
LUẬN ĐIỂM BỔ SUNG
Tác hại của thói quen:
• Gây mỏi mắt, đau đầu, ảnh hưởng đến giấc ngủ và sức khỏe.
• Giảm khả năng tập trung, kết quả học tập sa sút.
• Hạn chế giao tiếp trực tiếp, dễ sống khép kín, phụ thuộc vào thế giới ảo.
• Lãng phí thời gian, ảnh hưởng đến sự phát triển bản thân.
ĐÁNH GIÁ TỔNG KẾT, LIÊN HỆ
Ý nghĩa của việc từ bỏ thói quen:
• Giúp cơ thể khỏe mạnh, tinh thần thoải mái hơn.
• Nâng cao hiệu quả học tập và kỹ năng giao tiếp.
• Tạo thói quen sống tích cực, chủ động và có kỉ luật.
• Mỗi người cần tự ý thức thay đổi để hoàn thiện bản thân và xây dựng lối sống lành mạnh.
Nhân vật anh hùng lý tưởng: Đăm Săn hiện thân cho ước mơ, khát vọng và sức mạnh của cộng đồng Ê-đê.
Ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhịp điệu mạnh mẽ, kết hợp với cách kể lặp, so sánh phóng đại đặc trưng của sử thi.
Các yếu tố kì ảo, thần thoại, làm tăng vẻ huyền diệu và tôn vinh tầm vóc con người.
Giá trị nhân văn sâu sắc: ca ngợi sức mạnh, niềm tin, ý chí chinh phục và khát vọng vươn lên của con người.
→ Tất cả góp phần làm nên sức sống lâu bền và vẻ đẹp hùng tráng của sử thi Đăm Săn trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
Không gian trục ngang (nhà – rừng):
Gắn với đời sống con người Ê-đê, thể hiện hoạt động lao động, sinh hoạt, chiến đấu của cộng đồng.
Là nơi Đăm Săn xuất phát và thể hiện sức mạnh trước buôn làng, thiên nhiên.
→ Thể hiện mối quan hệ giữa con người với cộng đồng và môi trường sống.
Không gian trục dọc (người – trời):
Là không gian siêu nhiên, nơi Nữ Thần Mặt Trời ngự trị.
Việc Đăm Săn đi lên không gian ấy là sự vượt thoát giới hạn con người, biểu hiện ý chí chinh phục và khát vọng vươn tới cái đẹp, cái cao cả.
→ Hai mảng không gian kết hợp giúp tô đậm tầm vóc phi thường của người anh hùng
- Khát vọng chinh phục và khẳng định bản thân của người anh hùng sử thi. Đăm Săn muốn chiến thắng cả những thế lực siêu nhiên – biểu tượng cho thử thách lớn nhất.
- Tinh thần dũng cảm, kiên cường, không khuất phục trước thiên nhiên và số phận.
- Đồng thời, đó còn là biểu hiện của ước mơ cộng đồng Ê-đê: con người làm chủ thế giới, làm chủ tự nhiên để mang lại ánh sáng, sự sống, hạnh phúc cho buôn làng.
→ Hành động ấy mang ý nghĩa biểu tượng cho sức mạnh và lý tưởng anh hùng trong văn hóa Tây Nguyên.
Trong nhiều nền văn hóa, Mặt Trời là biểu tượng của ánh sáng, sự sống, sức mạnh và quyền năng thiêng liêng. Mặt Trời chiếu sáng muôn loài, mang lại sự sinh trưởng cho vạn vật, nên thường được tôn thờ như một vị thần tối cao.
Ở các dân tộc Tây Nguyên, Mặt Trời còn tượng trưng cho sự công bằng, lẽ phải và khát vọng vươn lên của con người. Vì vậy, hành trình đi bắt Nữ Thần Mặt Trời của Đăm Săn thể hiện ước mơ chinh phục tự nhiên, khẳng định sức mạnh con người.