Hoàng Thị Minh Thư
Giới thiệu về bản thân
2A+ 2G=5000
2A+3G=6500
- A+3G)−(2A+2G)=6500−5000(2𝐴+3𝐺)−(2𝐴+2𝐺)=6500−5000
⇒G=1500⇒𝐺=1500Thay 𝐺 =1500 vào phương trình (1):
2A+2×1500=5000⇒2A=2000⇒A=10002𝐴+2×1500=5000⇒2𝐴=2000⇒𝐴=1000
- (1) Roi (Tiên mao): Giúp tế bào di chuyển.
- (2) Lông (Nhung mao): Giúp tế bào bám dính vào bề mặt hoặc tiếp hợp giữa các tế bào.
- (3) Vỏ nhầy: Bảo vệ tế bào, giúp tránh bị thực bào.
- (4) Thành tế bào: Quy định hình dạng và bảo vệ tế bào.
- (5) Màng sinh chất: Kiểm soát sự trao đổi chất giữa tế bào và môi trường.
- (6) Vùng nhân (ADN): Chứa thông tin di truyền, điều khiển mọi hoạt động sống của tế bào.
- Tỉ lệ 𝑆 /𝑉 lớn: Giúp tốc độ trao đổi chất với môi trường diễn ra cực kỳ nhanh chóng.
- Sự khuếch tán nhanh: Các chất dinh dưỡng và tín hiệu hóa học dễ dàng đi đến mọi bộ phận trong tế bào mà không cần hệ thống vận chuyển phức tạp.
- Sinh trưởng và sinh sản nhanh: Nhờ quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng diễn ra nhanh, tế bào nhân sơ có khả năng nhân đôi trong thời gian ngắn, giúp quần thể thích nghi nhanh với môi trường.
- Cung cấp đầy đủ các loại chất dinh dưỡng:Không có một loại thực phẩm nào chứa đầy đủ tất cả các dưỡng chất (vitamin, khoáng chất, acid amin...) mà cơ thể cần. Việc ăn đa dạng giúp bù đắp thiếu hụt dưỡng chất giữa các loại thực phẩm khác nhau.
- Kích thích tiêu hóa và tạo cảm giác ngon miệng: Thay đổi thực đơn thường xuyên giúp tránh cảm giác nhàm chán, kích thích vị giác và hệ tiêu hóa hoạt động tốt hơn.
- Hạn chế tích tụ độc chất: Mỗi loại thực phẩm có thể chứa một lượng nhỏ dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hoặc độc tố tự nhiên khác nhau. Việc ăn đa dạng giúp giảm thiểu nguy cơ tích tụ quá mức một loại độc chất cụ thể trong cơ thể.
- Đáp ứng nhu cầu năng lượng và sự phát triển: Đảm bảo cơ thể nhận được đủ các nhóm chất thiết yếu (tinh bột, chất đạm, chất béo, vitamin và khoáng chất) để duy trì các hoạt động sống và phát triển khỏe mạnh.
1. Phân tử mRNA (ARN thông tin)
Về cấu tạo:
• Là một mạch pôlinuclêôtit ở dạng mạch thẳng, không cuộn xoắn.
• Không có các liên kết hiđrô giữa các nuclêôtit trong phân tử.
• Ở đầu 5' của mạch có một trình tự nuclêôtit đặc hiệu giúp ribôxôm nhận biết và gắn vào để dịch mã.
Về chức năng:
• Dùng làm khuôn cho quá trình dịch mã (tổng hợp chuỗi pôlipeptit).
• Truyền đạt thông tin di truyền từ gene (trên DNA) đến cấu trúc protein.
2. Phân tử tRNA (ARN vận chuyển)
Về cấu tạo:
• Là một mạch pôlinuclêôtit nhưng tự xoắn ngược lại tạo nên cấu trúc 3 thùy tròn (giống hình lá chẽ ba).
• Có liên kết hiđrô theo nguyên tắc bổ sung (A-U, G-C) ở những đoạn các nuclêôtit tự bắt cặp với nhau.
• Có 2 vùng quan trọng:
• Một đầu chứa bộ ba đối mã (anticodon) để khớp với bộ ba trên mRNA.
• Đầu 3' đối diện là nơi liên kết với axit amin đặc hiệu mà nó vận chuyển.
Về chức năng:
• Vận chuyển axit amin đặc hiệu từ môi trường tế bào chất đến ribôxôm.
• Đóng vai trò như "người phiên dịch" nhờ khả năng khớp anticodon với codon trên mRNA để đặt đúng vị trí axit amin vào chuỗi protein.
3. Phân tử rRNA (ARN ribôxôm)
Về cấu tạo:
• Thường là một mạch pôlinuclêôtit rất dài, có nhiều vùng tự xoắn kép cục bộ.
• Có liên kết hiđrô rất mạnh và dày đặc ở các vùng xoắn kép đó.
Về chức năng:
• Kết hợp với các phân tử protein đặc hiệu để cấu tạo nên ribôxôm (nhà máy tổng hợp protein).
• Tham gia giữ vững và định hình cấu trúc của ribôxôm trong suốt quá trình dịch mã.
Câu 1
Những phương thức biếu đạt trong bài thơ: Biếu cảm, miêu tả.
Câu 2
Đề tài: Nỗi buồn/ Sự đau khổ.
Câu 3
mặt nhựt tan thành máu, hôn ( một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ
), bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu.
tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng.
Câu 4
Tác dụng:
+ Thế hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữa trần thế bao la, rộng lớn này.
+ Thế hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử.
câu 5
Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thể hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thế đền đáp nối những điều trân quý ấy.Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.
Câu 1.
Văn bản "Kim tiền" thuộc thể loại bi kịch.
Câu 2.
Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.
Câu 3.
- Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với
"tiền":
+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý", là nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.
+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.
- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông
Trần Thiết Chung:
+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiếm soát của mối cá nhân.
+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết để nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.
Câu 4;
Câu 4. (1,0 điểm)
- Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điếm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.
- Ý nghĩa của kết thúc này:
+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thể dung hoa giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).
+ Làm nối bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.
+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế
Câu 5:
- Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đối bằng thời gian, sức khoẻ và sự bình yên trong tâm hồn.
- Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích.
- Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.
Câu 1
Văn hóa truyền thống là hồn cốt, là căn cước của một dân tộc, và việc giữ gìn những giá trị ấy đang trở thành sứ mệnh quan trọng của giới trẻ Việt Nam hôm nay. Hiện nay, đa số thanh niên đã có những nhận thức tích cực và hành động thiết thực để bảo tồn di sản. Chúng ta dễ dàng bắt gặp những bạn trẻ mặc cổ phục trong các bộ ảnh nghệ thuật, hay những dự án số hóa di sản, đưa nghệ thuật truyền thống như chèo, tuồng lên các nền tảng mạng xã hội như TikTok, Facebook. Điều này cho thấy ý thức của giới trẻ không chỉ dừng lại ở sự trân trọng mà còn là sự sáng tạo để "làm mới" truyền thống, giúp văn hóa dân tộc gần gũi hơn với đời sống hiện đại. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận nhỏ có tâm lý sính ngoại, thờ ơ với cội nguồn. Vì vậy, mỗi bạn trẻ cần không ngừng học tập, tìm hiểu về lịch sử, tích cực quảng bá hình ảnh đất nước với bạn bè quốc tế. Giữ gìn nét đẹp văn hóa không phải là giữ lấy tro tàn, mà là tiếp nối ngọn lửa từ quá khứ để thắp sáng tương lai, khẳng định bản sắc Việt Nam trong quá trình hội nhập toàn cầu.
Câu 2:
Tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu, luôn là mạch nguồn cảm hứng bất tận trong văn học Việt Nam. Nếu như Bằng Việt có "Bếp lửa" nồng đượm hương vị quê hương thì bài thơ trên lại mang đến một cảm xúc dịu dàng, lắng đọng qua hình ảnh chiếc xe đạp và "Mặt Trời" cạnh bên. Bài thơ là một hành trình đi từ những ký ức tuổi thơ hồn nhiên đến sự thức tỉnh đầy xúc động của người cháu về tình yêu thương vô bờ bến của bà.
Mở đầu bài thơ, tác giả vẽ nên một khung cảnh làng quê thanh bình nhưng cũng đầy ám ảnh:
“khói chiều cõng một hoàng hôn
bờ vai bà cõng tâm hồn cháu bay”Phép nhân hóa và điệp từ “cõng” được sử dụng vô cùng sáng tạo. Nếu "khói chiều" gánh vác cái hữu hình của thời gian thì "bờ vai bà" lại gánh vác cả thế giới tinh thần của cháu. Bà không chỉ chở che thân xác mà còn nâng đỡ những ước mơ, nuôi dưỡng tâm hồn cháu bằng sự nhọc nhằn của mình. Hình ảnh bà đạp xe trên con đường tan học, giữa mùi khói rạ và cỏ đồng, đã trở thành biểu tượng cho sự hy sinh thầm lặng.
Dưới góc nhìn của một đứa trẻ ngồi sau lưng bà, thế giới hiện ra thật sống động và đầy màu sắc. Đó là con sông dài, là đám bạn giỡn cười, là vườn trái mọng tươi. Những chi tiết như "điểm mười ông cho", hay "bát thịt kho bà nấu" đã cụ thể hóa tình yêu thương. Hạnh phúc của tuổi thơ đôi khi chỉ giản đơn là được "ăn no bụng tròn" và ngồi sau lưng bà hỏi những câu ngây ngô: "bao giờ đi hết đường mòn, bà ơi?". Con đường mòn ấy không chỉ là đường về nhà, mà còn là con đường đời mà bà đã dành cả đời để dẫn dắt cháu đi.
Điểm nhấn nghệ thuật đặc sắc nhất của bài thơ nằm ở hình ảnh ẩn dụ “Mặt Trời”. Khi mặt trời của tự nhiên đã lặn, cháu chợt nhận ra:
“ngồi sau bà, cháu mải chơi
mà quên ngắm một Mặt Trời cạnh bên.”
Người bà chính là "Mặt Trời" – nguồn sáng, nguồn ấm áp duy nhất và bền bỉ nhất trong cuộc đời cháu. Sự "mải chơi" của người cháu là cái vô tâm rất thật của tuổi trẻ, luôn hướng về những thứ xa xôi mà quên mất báu vật ngay cạnh mình. Để rồi khi lớn lên, giữa những bộn bề lo toan của cuộc sống, giữa những lúc "quên đường về", hình ảnh bà lại hiện ra như một kim chỉ nam. Câu kết: "hai Mặt Trời dẫn lối về cháu đi" khẳng định rằng dù bà còn hay mất, tình yêu và những lời dạy bảo của bà vẫn luôn là ánh sáng soi rọi, giúp cháu vượt qua những lạc lối trên đường đời.
Về nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu nhẹ nhàng như một lời tâm tình. Ngôn ngữ thơ giản dị, gần gũi nhưng giàu sức gợi hình, gợi cảm. Các hình ảnh đối lập giữa "đường mòn" và "đường về", giữa "quên" và "nhớ" đã làm nổi bật quá trình trưởng thành trong nhận thức của người cháu.
Tóm lại, bài thơ không chỉ là lời tri ân sâu sắc dành cho bà mà còn là lời nhắc nhở đối với mỗi chúng ta: Đừng vì mải mê đuổi theo những ánh hào quang xa lạ mà quên đi "Mặt Trời" bình dị đang tỏa sáng trong chính gia đình mình. Tình yêu thương của người thân chính là bệ phóng vững chãi nhất để mỗi người có thể tự tin bay cao, bay xa.
Câu 1.
Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô
Huế.
Câu 2.
Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả.
Câu 3.
Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế-di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp vì:
- Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu.
- Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.
Câu 4.
- Phương tiện phi ngôn ngữ: Ảnh Cố đô Huế.
- Tác dụng:
+ Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn.
+ Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế.
Câu 5
Quần thể di tích Cố đô Huế không chỉ là một công trình kiến trúc đồ sộ mà còn là hiện thân của linh hồn và trí tuệ dân tộc Việt Nam. Đọc văn bản, em cảm thấy vô cùng khâm phục sức sáng tạo của cha ông ta khi biết kết hợp hài hòa giữa bàn tay con người và vẻ đẹp kỳ vĩ của thiên nhiên, tạo nên một không gian "sơn thủy hữu tình" vừa uy nghi, vừa thơ mộng. Cố đô hiện lên như một chứng nhân lịch sử sống động, lưu giữ trọn vẹn những thăng trầm của triều đại phong kiến cuối cùng, khiến mỗi chúng ta khi nhìn vào đều dâng trào niềm tự hào tự tôn dân tộc sâu sắc. Đứng trước những bức tường rêu phong và điện đài cổ kính, em không khỏi bồi hồi, hoài niệm về một thời vàng son, đồng thời cảm nhận được sự tĩnh lặng, an nhiên trong tâm hồn. Trên tất cả, di sản này nhắc nhở chúng ta về trách nhiệm gìn giữ và bảo tồn; chúng ta cần có ý thức bảo vệ từng viên gạch, mái ngói để báu vật của quốc gia mãi mãi trường tồn, để vẻ đẹp của "bài thơ đô thị" này tiếp tục tỏa sáng trên bản đồ văn hóa thế giới.
Câu 1: Phân tích nhân vật anh gầy (khoảng 200 chữ)
Nhân vật anh gầy trong truyện ngắn của Chekhov là một hình ảnh điển hình cho kiểu "con người nhỏ bé" bị tha hóa bởi tâm lý sùng bái quyền lực. Ban đầu, anh hiện lên là một người bạn tình nghĩa, hào hứng chia sẻ về cuộc sống khó khăn nhưng bình dị của mình. Tuy nhiên, nút thắt tâm lý xảy ra khi anh biết bạn mình là quan bậc ba. Sự thay đổi từ thái độ "vồn vã" sang "khúm núm, rúm ró" không chỉ nằm ở lời nói "bẩm quan trên" mà còn ở hình thể "so vai, rụt cổ". Sự khúm núm ấy đã trở thành bản năng, khiến anh không còn nhìn bạn bằng đôi mắt của tình thân mà nhìn bằng đôi mắt của một kẻ dưới nhìn bậc bề trên. Qua nhân vật này, Chekhov đã lột trần sự thảm hại của những kẻ tự đánh mất nhân cách và lòng tự trọng trước cường quyền, biến tình bạn thiêng liêng thành sự phục tùng hèn hạ.
Caau 2: