Hoàng Nguyễn Bảo Ngọc
Giới thiệu về bản thân
* mRNA (ARN thông tin) * Cấu tạo: mạch thẳng, gồm các bộ ba mã hoá. * Chức năng: mang thông tin di truyền từ ADN đến ribôxôm để tổng hợp prôtêin. * tRNA (ARN vận chuyển) * Cấu tạo: mạch đơn nhưng cuộn lại giống hình lá chẻ ba, có bộ ba đối mã. * Chức năng: vận chuyển axit amin tương ứng tới ribôxôm trong quá trình tổng hợp prôtêin. * rRNA (ARN ribôxôm) * Cấu tạo: mạch đơn cuộn xoắn phức tạp, kết hợp với prôtêin tạo ribôxôm. * Chức năng: tham gia cấu tạo ribôxôm và xúc tác quá trình tổng hợp prôtêin.
* Vị trí và điều kiện xảy ra: Pha sáng: Ở màng tilacoit của lục lạp, cần ánh sáng. Pha tối: Ở chất nền lục lạp, không cần ánh sáng trực tiếp. * Nguyên liệu và năng lượng: Pha sáng: Dùng nước và năng lượng ánh sáng. Pha tối: Dùng CO₂, ATP và NADPH. * Sản phẩm tạo ra: Pha sáng: ATP, NADPH, O₂. Pha tối: Chất hữu cơ (glucôzơ). * Vai trò trong chuyển hoá năng lượng: Pha sáng: Chuyển quang năng thành hoá năng. Pha tối: Sử dụng hoá năng để tổng hợp chất hữu cơ.
Câu 1 (khoảng 200 chữ) Bài thơ của Hàn Mặc Tử đã thể hiện sâu sắc nỗi đau, sự cô đơn và bi kịch của con người trước cuộc đời. Qua những hình ảnh giàu tính biểu tượng như “bông phượng nở trong màu huyết”, “giọt châu”, tác giả đã khắc họa một thế giới nội tâm đầy ám ảnh và đau đớn. Những câu hỏi tu từ: “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?”, “Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?” vang lên như tiếng kêu tuyệt vọng của một tâm hồn cô độc, lạc lõng giữa cuộc đời rộng lớn. Đó không chỉ là nỗi đau về thể xác mà còn là bi kịch tinh thần của nhà thơ khi phải đối diện với bệnh tật và sự chia lìa với cuộc sống. Bài thơ mang màu sắc tượng trưng, siêu thực đặc trưng trong phong cách thơ Hàn Mặc Tử. Ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, hình ảnh vừa thực vừa ảo đã tạo nên giọng điệu da diết, ám ảnh lòng người. Qua đó, người đọc cảm nhận được khát vọng được yêu thương, được sẻ chia của một tâm hồn nhạy cảm và giàu cảm xúc. --- Câu 2 (khoảng 600 chữ) Trong cuộc sống, con người không thể tránh khỏi những khó khăn, thử thách. Chính vì thế, ý chí và nghị lực trở thành yếu tố quan trọng giúp mỗi người vượt qua nghịch cảnh để vươn tới thành công. Có thể nói, ý chí và nghị lực là sức mạnh tinh thần to lớn, giúp con người đứng vững trước những biến cố của cuộc đời. Ý chí là sự quyết tâm, kiên định theo đuổi mục tiêu đã đặt ra. Nghị lực là khả năng vượt qua khó khăn, thử thách bằng tinh thần bền bỉ và không bỏ cuộc. Người có ý chí, nghị lực luôn biết cố gắng vươn lên dù hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu. Trong học tập cũng như trong cuộc sống, đây là phẩm chất vô cùng cần thiết đối với mỗi con người. Thực tế cho thấy, không ai đạt được thành công mà không phải trải qua khó khăn. Chính ý chí và nghị lực đã giúp con người vượt lên giới hạn của bản thân. Nhà bác học Thomas Edison từng thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Hay Nick Vujicic dù sinh ra không có tay chân nhưng vẫn vươn lên trở thành diễn giả nổi tiếng truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên thế giới. Những con người ấy đã chứng minh rằng chỉ cần có niềm tin và nghị lực, con người có thể vượt qua mọi nghịch cảnh. Đối với học sinh, ý chí và nghị lực giúp chúng ta không nản lòng trước những bài toán khó, những lần điểm kém hay áp lực trong học tập. Người có nghị lực sẽ biết đứng dậy sau thất bại, rút kinh nghiệm và tiếp tục cố gắng. Ngược lại, nếu thiếu ý chí, con người rất dễ buông xuôi, chán nản và bỏ cuộc giữa chừng. Khi đó, ta sẽ khó đạt được mục tiêu và dễ đánh mất cơ hội của bản thân. Tuy nhiên, ý chí và nghị lực không phải tự nhiên mà có. Mỗi người cần rèn luyện từng ngày bằng cách sống có mục tiêu, biết kiên trì và không ngại khó khăn. Bên cạnh đó, cần giữ tinh thần lạc quan, biết học hỏi từ thất bại và tin tưởng vào bản thân. Mỗi thử thách vượt qua sẽ giúp con người trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Là học sinh, chúng ta cần xây dựng cho mình tinh thần vượt khó trong học tập và cuộc sống. Khi gặp thất bại, không nên chán nản mà phải biết cố gắng hơn nữa. Đồng thời, cần học tập những tấm gương giàu nghị lực để hoàn thiện bản thân. Tóm lại, ý chí và nghị lực là chìa khóa quan trọng dẫn con người đến thành công. Cuộc sống luôn có khó khăn, thử thách nhưng nếu có bản lĩnh và sự kiên trì, chúng ta sẽ vượt qua tất cả để chạm tới ước mơ của mình.
Câu 1 (khoảng 200 chữ) Bài thơ của Hàn Mặc Tử đã thể hiện sâu sắc nỗi đau, sự cô đơn và bi kịch của con người trước cuộc đời. Qua những hình ảnh giàu tính biểu tượng như “bông phượng nở trong màu huyết”, “giọt châu”, tác giả đã khắc họa một thế giới nội tâm đầy ám ảnh và đau đớn. Những câu hỏi tu từ: “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?”, “Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?” vang lên như tiếng kêu tuyệt vọng của một tâm hồn cô độc, lạc lõng giữa cuộc đời rộng lớn. Đó không chỉ là nỗi đau về thể xác mà còn là bi kịch tinh thần của nhà thơ khi phải đối diện với bệnh tật và sự chia lìa với cuộc sống. Bài thơ mang màu sắc tượng trưng, siêu thực đặc trưng trong phong cách thơ Hàn Mặc Tử. Ngôn ngữ thơ giàu cảm xúc, hình ảnh vừa thực vừa ảo đã tạo nên giọng điệu da diết, ám ảnh lòng người. Qua đó, người đọc cảm nhận được khát vọng được yêu thương, được sẻ chia của một tâm hồn nhạy cảm và giàu cảm xúc. --- Câu 2 (khoảng 600 chữ) Trong cuộc sống, con người không thể tránh khỏi những khó khăn, thử thách. Chính vì thế, ý chí và nghị lực trở thành yếu tố quan trọng giúp mỗi người vượt qua nghịch cảnh để vươn tới thành công. Có thể nói, ý chí và nghị lực là sức mạnh tinh thần to lớn, giúp con người đứng vững trước những biến cố của cuộc đời. Ý chí là sự quyết tâm, kiên định theo đuổi mục tiêu đã đặt ra. Nghị lực là khả năng vượt qua khó khăn, thử thách bằng tinh thần bền bỉ và không bỏ cuộc. Người có ý chí, nghị lực luôn biết cố gắng vươn lên dù hoàn cảnh khắc nghiệt đến đâu. Trong học tập cũng như trong cuộc sống, đây là phẩm chất vô cùng cần thiết đối với mỗi con người. Thực tế cho thấy, không ai đạt được thành công mà không phải trải qua khó khăn. Chính ý chí và nghị lực đã giúp con người vượt lên giới hạn của bản thân. Nhà bác học Thomas Edison từng thất bại hàng nghìn lần trước khi phát minh ra bóng đèn điện. Hay Nick Vujicic dù sinh ra không có tay chân nhưng vẫn vươn lên trở thành diễn giả nổi tiếng truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên thế giới. Những con người ấy đã chứng minh rằng chỉ cần có niềm tin và nghị lực, con người có thể vượt qua mọi nghịch cảnh. Đối với học sinh, ý chí và nghị lực giúp chúng ta không nản lòng trước những bài toán khó, những lần điểm kém hay áp lực trong học tập. Người có nghị lực sẽ biết đứng dậy sau thất bại, rút kinh nghiệm và tiếp tục cố gắng. Ngược lại, nếu thiếu ý chí, con người rất dễ buông xuôi, chán nản và bỏ cuộc giữa chừng. Khi đó, ta sẽ khó đạt được mục tiêu và dễ đánh mất cơ hội của bản thân. Tuy nhiên, ý chí và nghị lực không phải tự nhiên mà có. Mỗi người cần rèn luyện từng ngày bằng cách sống có mục tiêu, biết kiên trì và không ngại khó khăn. Bên cạnh đó, cần giữ tinh thần lạc quan, biết học hỏi từ thất bại và tin tưởng vào bản thân. Mỗi thử thách vượt qua sẽ giúp con người trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Là học sinh, chúng ta cần xây dựng cho mình tinh thần vượt khó trong học tập và cuộc sống. Khi gặp thất bại, không nên chán nản mà phải biết cố gắng hơn nữa. Đồng thời, cần học tập những tấm gương giàu nghị lực để hoàn thiện bản thân. Tóm lại, ý chí và nghị lực là chìa khóa quan trọng dẫn con người đến thành công. Cuộc sống luôn có khó khăn, thử thách nhưng nếu có bản lĩnh và sự kiên trì, chúng ta sẽ vượt qua tất cả để chạm tới ước mơ của mình.
Câu 1. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ là: Biểu cảm (phương thức chính): bộc lộ nỗi đau, cô đơn, tuyệt vọng của nhân vật trữ tình. Miêu tả: khắc họa hình ảnh thiên nhiên, cảm xúc và trạng thái tâm hồn. Tự sự: kể lại những cảm nhận, suy nghĩ của nhân vật trữ tình. --- Câu 2. Đề tài của bài thơ là: Nỗi đau, sự cô đơn và bi kịch của con người trước cuộc đời; đồng thời thể hiện khát vọng được yêu thương, sẻ chia của nhân vật trữ tình. --- Câu 3. Một hình ảnh thơ mang tính tượng trưng là: “bông phượng nở trong màu huyết”. Hình ảnh “màu huyết” gợi màu đỏ như máu, tượng trưng cho nỗi đau, sự mất mát và bi kịch của cuộc đời nhà thơ. “Bông phượng” vốn tượng trưng cho tuổi trẻ, tình yêu và mùa hè, nhưng khi đặt trong “màu huyết” lại mang vẻ đẹp đau thương, ám ảnh. → Hình ảnh này thể hiện tâm trạng đau đớn, tuyệt vọng nhưng vẫn chan chứa cảm xúc mãnh liệt của Hàn Mặc Tử. --- Câu 4. Khổ thơ cuối sử dụng nổi bật biện pháp tu từ câu hỏi tu từ: “Tôi vẫn còn đây hay ở đâu? Ai đem bỏ tôi dưới trời sâu?” Tác dụng: Diễn tả tâm trạng hoang mang, cô đơn và đau đớn tột cùng của nhân vật trữ tình. Thể hiện cảm giác lạc lõng, bị cuộc đời bỏ quên giữa không gian rộng lớn. Làm giọng thơ trở nên day dứt, ám ảnh, giàu cảm xúc. Ngoài ra còn có hình ảnh ẩn dụ “màu huyết”, “giọt châu” góp phần tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ. --- Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ: Bài thơ có cấu tứ độc đáo, giàu cảm xúc và mang màu sắc tượng trưng, siêu thực đặc trưng trong thơ Hàn Mặc Tử. Cảm xúc được triển khai từ cảnh vật bên ngoài đến thế giới nội tâm đầy đau đớn, cô đơn của nhân vật trữ tình. Hình ảnh thơ vừa thực vừa ảo, tạo nên không gian nghệ thuật huyền ảo, ám ảnh và giàu giá trị biểu cảm.
Câu 1. Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô Huế. Câu 2. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả. Câu 3. Văn bản Quần thế di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tống hợp Vì: - Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu. - Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ. Câu 4. - Phương tiện phi ngôn ngữ: Ánh Cố đô Huê. - Tác dụng: + Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn. + Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế. Câu 5. HS nêu được suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về quần thể khu di tích Cố đô Huế, trong đó, HS cần thể hiện được niềm tự hào về một di tích lịch sử giàu giá trị và ý nghĩa như Cố đô Huế. Ví dụ: Từ nội dung văn bản, em cảm nhận được quần thế di tích Cố đô Huế là niềm tự hào lớn lao của dân tộc Việt Nam. Nơi đây không chỉ lưu giữ những công trình kiến trúc nguy nga, tráng lệ mà còn chứa đựng vẻ đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và bàn tay con người, thế hiện trình độ nghệ thuật và tư duy thẩm mỹ tinh tế của cha ông ta. Mỗi công trình, lăng tẩm, cung điện đều mang trong mình dấu ấn lịch sử, văn hóa và tâm hồn Việt Nam. Việc Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới khiến em càng thêm tự hào và ý thức được trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc giữ gin, trân trọng và phát huy giá trị di sản quý báu ấy, để Huế mãi mãi là viên ngọc sáng của đất nước.
Câu 1. Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô Huế. Câu 2. Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả. Câu 3. Văn bản Quần thế di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tống hợp Vì: - Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thể di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu. - Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ. Câu 4. - Phương tiện phi ngôn ngữ: Ánh Cố đô Huê. - Tác dụng: + Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn. + Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế. Câu 5. Từ nội dung văn bản, em cảm nhận được quần thế di tích Cố đô Huế là niềm tự hào lớn lao của dân tộc Việt Nam. Nơi đây không chỉ lưu giữ những công trình kiến trúc nguy nga, tráng lệ mà còn chứa đựng vẻ đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và bàn tay con người, thế hiện trình độ nghệ thuật và tư duy thẩm mỹ tinh tế của cha ông ta. Mỗi công trình, lăng tẩm, cung điện đều mang trong mình dấu ấn lịch sử, văn hóa và tâm hồn Việt Nam. Việc Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới khiến em càng thêm tự hào và ý thức được trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc giữ gin, trân trọng và phát huy giá trị di sản quý báu ấy, để Huế mãi mãi là viên ngọc sáng của đất nước.
Câu 1 Trong văn bản Anh béo và anh gầy, nhân vật anh gầy hiện lên là một con người giàu lòng tự trọng và có suy nghĩ tích cực. Dù có thân hình gầy gò, anh không mặc cảm hay tự ti về ngoại hình của mình. Trái lại, anh luôn vui vẻ, lạc quan và biết chấp nhận bản thân. Khi bị đem ra so sánh với anh béo, anh gầy vẫn giữ thái độ bình tĩnh, khéo léo và hài hước. Điều đó cho thấy anh là người có bản lĩnh và biết nhìn cuộc sống theo hướng tích cực. Bên cạnh đó, nhân vật còn gửi gắm thông điệp ý nghĩa về cách đánh giá con người. Giá trị của một người không nằm ở ngoại hình mà ở nhân cách, thái độ sống và cách đối xử với mọi người. Anh gầy tuy không có vẻ ngoài nổi bật nhưng lại có tâm hồn đẹp, biết sống chân thành và tự tin. Qua nhân vật này, tác giả nhắc nhở chúng ta cần biết tôn trọng sự khác biệt, không nên chế giễu hay đánh giá người khác chỉ qua vẻ bề ngoài. Đồng thời, mỗi người cũng cần học cách yêu quý bản thân và sống lạc quan trước mọi hoàn cảnh. --- Câu 2 Trong cuộc sống, mỗi người đều phải đối mặt với những khó khăn, thử thách và cả những điều không như mong muốn. Có ý kiến cho rằng: “Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng.” Câu nói đã gợi ra bài học sâu sắc về cách nhìn nhận vấn đề trong cuộc sống. Trước hết, “bụi hồng có gai” tượng trưng cho những khó khăn, trở ngại tồn tại bên cạnh điều tốt đẹp; còn “bụi gai có hoa hồng” lại nhấn mạnh vẻ đẹp và giá trị ẩn sau thử thách. Cùng một sự việc nhưng nếu nhìn theo hướng tiêu cực, con người sẽ chỉ thấy đau khổ, thất vọng. Ngược lại, nếu nhìn bằng thái độ tích cực, ta sẽ nhận ra niềm vui, cơ hội và ý nghĩa của cuộc sống. Vì vậy, cách nhìn nhận quyết định cảm xúc, suy nghĩ và hành động của mỗi người. Người có suy nghĩ tích cực thường sống lạc quan, biết vượt qua khó khăn và luôn tìm được động lực để tiến lên. Khi gặp thất bại trong học tập, thay vì chán nản, họ xem đó là cơ hội để rút kinh nghiệm và hoàn thiện bản thân. Trong đại dịch hay thiên tai, nhiều người vẫn giữ tinh thần yêu đời, giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn. Chính thái độ sống tích cực đã tạo nên sức mạnh tinh thần lớn lao. Ngược lại, nếu chỉ nhìn vào mặt tiêu cực của vấn đề, con người sẽ dễ bi quan, mất niềm tin và không thể phát triển. Những lời than phiền liên tục không giúp khó khăn biến mất mà chỉ khiến bản thân thêm mệt mỏi. Người tiêu cực thường bỏ lỡ nhiều cơ hội tốt đẹp vì họ chỉ tập trung vào trở ngại trước mắt. Tuy nhiên, sống tích cực không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn khó khăn. Chúng ta cần nhìn nhận thực tế nhưng phải biết hướng đến điều tốt đẹp để có thêm niềm tin và động lực. Một thái độ sống lạc quan sẽ giúp con người mạnh mẽ hơn trước nghịch cảnh. Câu nói trên là lời nhắn nhủ ý nghĩa về cách sống tích cực trong cuộc đời. Hãy học cách nhìn vào “hoa hồng” thay vì chỉ chú ý đến “gai nhọn”, bởi khi biết suy nghĩ lạc quan, chúng ta sẽ cảm nhận cuộc sống ý nghĩa và tươi đẹp hơn.
Câu 1: Thể loại: truyện ngắn. Câu 2. Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy: "Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhan nhúm; dường như mắt anh ta sáng hẳn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cố khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc căm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..." Câu 3. Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản. Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đồi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện. Cầu 4. Những điệu bộ, cử chỉ của anh gầy đối với anh béo trước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo: + Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân. + Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần gũi ban đầu khiến cho người bạn cảm thấy e ngại, chán nản. Câu 5. Nội dung: văn bản thông qua cuộc gặp gỡ của hai người bạn cũ lâu ngày không ngày. Những tưởng mối quan hệ gần gũi này sẽ giúp họ có một cuộc trò chuyện vui vẻ, thân mật, nhưng sau khi biết cấp bậc của bạn, anh gầy ngay lập tức thay đối thái độ thân mật ban đầu bằng sự khúm núm của những kẻ nhát gan, sợ hãi trước quyền uy, khiến cho mối quan hệ giữa hai người trở nên xa cách. Thái độ của anh gầy chính là biểu hiện cho nỗi sợ cường quyền của xã hội Nga lúc bấy giờ. Và Sê-khốp đã rất tinh ý, khéo léo khi phát hiện và thể hiện điều đó qua một tình huống truyện giản dị, xen lẫn tiếng cười trào phúng.