Nguyễn Mai Chi
Giới thiệu về bản thân
Câu 1.
Bài thơ Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” của Hồ Chí Minh thể hiện quan niệm tiến bộ về thơ ca và vai trò của người nghệ sĩ trong thời đại mới. Hai câu đầu gợi ra đặc điểm quen thuộc của thơ xưa với những hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ như “sơn thủy”, “yên hoa”, “tuyết nguyệt phong”. Biện pháp liệt kê đã làm hiện lên một thế giới thơ mộng, giàu chất cổ điển, đồng thời cho thấy thơ ca truyền thống thường nghiêng về cảm hứng thưởng ngoạn thiên nhiên. Tuy nhiên, đến hai câu sau, tác giả đã đưa ra quan niệm mới mẻ: “Hiện đại thi trung ưng hữu thiết”. “Thép” ở đây là tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng và trách nhiệm của thơ ca đối với cuộc đời. Không chỉ thơ ca cần có “thép”, mà “thi gia dã yếu hội xung phong” – nhà thơ cũng phải biết dấn thân, hòa mình vào cuộc đấu tranh của dân tộc. Bài thơ vừa kế thừa vẻ đẹp cổ điển của thơ Đường, vừa mang tinh thần hiện đại sâu sắc. Qua đó, Hồ Chí Minh khẳng định: văn học chân chính không chỉ hướng đến cái đẹp mà còn phải phục vụ con người và đất nước.
Câu 2.
Trong dòng chảy hội nhập và phát triển của thời đại, văn hóa truyền thống dân tộc chính là cội nguồn làm nên bản sắc riêng của mỗi quốc gia. Những giá trị văn hóa được vun đắp qua hàng nghìn năm lịch sử không chỉ là niềm tự hào mà còn là nền tảng tinh thần của dân tộc Việt Nam. Vì vậy, ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống ở giới trẻ hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Văn hóa truyền thống là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần được ông cha ta sáng tạo, lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đó có thể là tiếng Việt, áo dài, phong tục tập quán, lễ hội dân gian, nghệ thuật truyền thống, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, hiếu học, hiếu nghĩa… Những giá trị ấy góp phần tạo nên bản sắc dân tộc Việt Nam – một dân tộc giàu lòng nhân ái, kiên cường và đậm đà tình nghĩa.
Trong xã hội hiện đại, giới trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống. Nhiều bạn trẻ hôm nay đã có ý thức gìn giữ nét đẹp dân tộc bằng những hành động thiết thực như mặc áo dài trong các dịp lễ, tìm hiểu lịch sử dân tộc, quảng bá ẩm thực và du lịch Việt Nam, học và biểu diễn nghệ thuật truyền thống như chèo, cải lương, quan họ… Không ít người còn sử dụng mạng xã hội để lan tỏa vẻ đẹp văn hóa Việt đến bạn bè quốc tế. Điều đó cho thấy thế hệ trẻ đang dần nhận thức được trách nhiệm của mình đối với di sản dân tộc.
Tuy nhiên, bên cạnh những tín hiệu tích cực vẫn còn một bộ phận giới trẻ thờ ơ với văn hóa truyền thống. Nhiều người chạy theo lối sống thực dụng, sính ngoại, coi nhẹ tiếng Việt, lịch sử và các giá trị dân tộc. Có những hành vi thiếu văn minh tại di tích lịch sử, lễ hội; hoặc tiếp nhận văn hóa nước ngoài một cách thiếu chọn lọc, dẫn đến sự mai một bản sắc dân tộc. Đây là thực trạng đáng lo ngại bởi nếu thế hệ trẻ không biết trân trọng truyền thống thì những giá trị quý báu của cha ông sẽ dần bị lãng quên.
Để giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống, trước hết mỗi người trẻ cần nâng cao hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân tộc; chủ động học hỏi và tham gia các hoạt động văn hóa cộng đồng. Nhà trường và gia đình cần tăng cường giáo dục lòng yêu quê hương, niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Đồng thời, cần kết hợp giữa bảo tồn và đổi mới để văn hóa truyền thống trở nên gần gũi hơn với đời sống hiện đại. Việc ứng dụng công nghệ, truyền thông số để quảng bá văn hóa dân tộc cũng là hướng đi cần thiết trong thời đại ngày nay.
Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống không phải là trách nhiệm của riêng ai mà là nhiệm vụ chung của cả cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước. Khi biết trân trọng cội nguồn và gìn giữ bản sắc dân tộc, chúng ta không chỉ góp phần bảo vệ di sản cha ông mà còn làm cho văn hóa Việt Nam ngày càng tỏa sáng trong quá trình hội nhập quốc tế.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật (mỗi câu 7 chữ, gồm 4 câu).
Câu 2.
Bài thơ làm theo luật bằng của thơ Đường.
- Các tiếng cuối câu 1, 2, 4 thuộc thanh bằng và hiệp vần với nhau: phong – phong.
- Bố cục chặt chẽ, hài hòa đúng đặc trưng thơ thất ngôn tứ tuyệt.
Câu 3.
Biện pháp tu từ em ấn tượng là liệt kê trong câu thơ:
“Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong”
(núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió)
Tác dụng:
- Gợi ra một thế giới thơ ca cổ điển quen thuộc với những hình ảnh thiên nhiên đẹp đẽ, thơ mộng.
- Thể hiện đặc điểm của thơ xưa thường thiên về cảm hứng ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, ít gắn với hiện thực đấu tranh của cuộc sống.
- Qua đó làm nổi bật quan niệm mới mẻ của Hồ Chí Minh ở hai câu sau: thơ hiện đại không chỉ có vẻ đẹp lãng mạn mà còn phải mang tinh thần chiến đấu.
Câu 4.
Tác giả cho rằng thơ hiện đại cần có “thép” vì:
- Hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ đang chịu cảnh áp bức, chiến tranh, nhân dân đau khổ nên văn học không thể chỉ nói chuyện thiên nhiên, tình cảm riêng tư.
- “Thép” tượng trưng cho tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng, lòng yêu nước và sức mạnh cổ vũ con người hành động.
- Nhà thơ không chỉ là người rung cảm trước cái đẹp mà còn phải là người chiến sĩ tiên phong, dùng ngòi bút phục vụ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.
→ Quan niệm ấy thể hiện tư tưởng nghệ thuật tiến bộ của Hồ Chí Minh: thơ ca phải gắn với cuộc đời và có trách nhiệm với dân tộc.
Câu 5.
Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, giàu tính đối lập:
- Hai câu đầu nói về đặc điểm của thơ xưa: thiên về vẻ đẹp thiên nhiên, cảm hứng lãng mạn cổ điển.
- Hai câu sau nêu quan niệm thơ hiện đại: phải có chất thép, tinh thần chiến đấu và trách nhiệm xã hội.
→ Cách triển khai từ “xưa” đến “nay”, từ thơ ca thưởng ngoạn đến thơ ca chiến đấu đã làm nổi bật tư tưởng nghệ thuật mới mẻ, sâu sắc của Hồ Chí Minh.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ (mỗi dòng có 8 tiếng), mang âm hưởng tự do, linh hoạt trong cách gieo vần và ngắt nhịp.
Câu 2.
Nhịp thơ khá linh hoạt, thường ngắt và tạo nên giọng điệu trầm buồn, day dứt.
→ Nhịp thơ không đều đặn mà biến hóa theo cảm xúc, góp phần thể hiện nỗi đau, sự băn khoăn và ám ảnh trong tình yêu.
Câu 3.
- Đề tài: Tình yêu.
- Chủ đề: Bài thơ thế hiện quan niệm của Xuân Diệu về tình yêu - yêu là chấp nhận mất mát, đaukhổ, cô đơn, bởi tình yêu không phải lúc nào cũng được đáp lại.
Qua đó, nhà thơ bộc lộ tâm trạng buồn bã, hoài nghi nhưng vẫn tha thiết với tình yêu.
Câu 4.
Hình ảnh: "sa mạc cô liêu"
- Đây là hình ảnh mang tính tượng trưng cho cuộc đời trống trải, khô cằn khi thiếu tình yêu hoặc
khi tình yêu không được đáp lại. - "Sa mạc" gợi sự rộng lớn nhưng hoang vắng, không có sự sống → giống như tâm hôn con người khi
yêu mà không được yêu lại. - Qua đó, tác giả nhấn mạnh: tìnhyêu vừa là nguồn sống, vừa có thể khiến con người rơi vào cô đơn tuyệt đối.
Câu 5.
tình yêu:
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc về
- Tình yêu không chỉ là hạnh phúc mà còn chứa đựng đau khổ, hi sinh và cả sự bất trắc.
- Khi yêu, con người thường cho đi nhiều hơn nhận lại, và điều đó có thể dẫn đến tổn thương.
- Tuy vậy, tình yêu vẫn là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu, khiến con người trở nên sâu sắc
và giàu cảm xúc hơn.
→Từ đó, em nhận ra cần trân trọng tình cảm chân thành, biết yêu đúng cách và giữ gìn những mối quan hệ ý nghĩa trong cuộc sống.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tám chữ (mỗi dòng có 8 tiếng), mang âm hưởng tự do, linh hoạt trong cách gieo vần và ngắt nhịp.
Câu 2.
Nhịp thơ khá linh hoạt, thường ngắt và tạo nên giọng điệu trầm buồn, day dứt.
→ Nhịp thơ không đều đặn mà biến hóa theo cảm xúc, góp phần thể hiện nỗi đau, sự băn khoăn và ám ảnh trong tình yêu.
Câu 3.
- Đề tài: Tình yêu.
- Chủ đề: Bài thơ thể hiện quan niệm của Xuân Diệu về tình yêu – yêu là chấp nhận mất mát, đau khổ, cô đơn, bởi tình yêu không phải lúc nào cũng được đáp lại. Qua đó, nhà thơ bộc lộ tâm trạng buồn bã, hoài nghi nhưng vẫn tha thiết với tình yêu.
Câu 4.
Hình ảnh: “sa mạc cô liêu”
- Đây là hình ảnh mang tính tượng trưng cho cuộc đời trống trải, khô cằn khi thiếu tình yêu hoặc khi tình yêu không được đáp lại.
- “Sa mạc” gợi sự rộng lớn nhưng hoang vắng, không có sự sống → giống như tâm hồn con người khi yêu mà không được yêu lại.
- Qua đó, tác giả nhấn mạnh: tình yêu vừa là nguồn sống, vừa có thể khiến con người rơi vào cô đơn tuyệt đối.
Câu 5.
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ sâu sắc về tình yêu:
- Tình yêu không chỉ là hạnh phúc mà còn chứa đựng đau khổ, hi sinh và cả sự bất trắc.
- Khi yêu, con người thường cho đi nhiều hơn nhận lại, và điều đó có thể dẫn đến tổn thương.
- Tuy vậy, tình yêu vẫn là một nhu cầu tinh thần không thể thiếu, khiến con người trở nên sâu sắc và giàu cảm xúc hơn.
→ Từ đó, em nhận ra cần trân trọng tình cảm chân thành, biết yêu đúng cách và giữ gìn những mối quan hệ ý nghĩa trong cuộc sống.
Câu 1.
Di tích lịch sử là những dấu ấn quý giá của dân tộc, lưu giữ truyền thống, văn hóa và những bài học của cha ông qua bao thế hệ. Vì vậy, việc bảo tồn các di tích lịch sử hiện nay có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trước hết, bảo tồn di tích giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về cội nguồn dân tộc, từ đó bồi dưỡng lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Những công trình như Hoàng thành Thăng Long, cố đô Huế hay địa đạo Củ Chi không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn là minh chứng cho trí tuệ, ý chí và tinh thần bất khuất của con người Việt Nam. Bên cạnh đó, các di tích còn góp phần phát triển du lịch, thúc đẩy kinh tế và quảng bá hình ảnh đất nước với bạn bè quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay nhiều di tích đang bị xuống cấp do tác động của thời gian và ý thức chưa tốt của một số người. Vì thế, mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức giữ gìn, không xâm hại hay phá hoại các công trình lịch sử. Nhà nước cũng cần đầu tư trùng tu, bảo vệ và tuyên truyền rộng rãi để di sản dân tộc được gìn giữ lâu dài cho các thế hệ mai sau.
Câu 2.
Trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại, Nguyễn Trọng Tạo là một nhà thơ có phong cách giàu suy tư và giàu tính triết lí. Bài thơ “Đồng dao cho người lớn” là một tác phẩm tiêu biểu, thể hiện những chiêm nghiệm sâu sắc của tác giả về cuộc đời, con người và những nghịch lí tồn tại trong xã hội. Với hình thức ngắn gọn nhưng hàm chứa nhiều tầng ý nghĩa, bài thơ đã để lại nhiều cảm xúc và suy ngẫm cho người đọc.
Ngay từ nhan đề “Đồng dao cho người lớn”, tác giả đã tạo nên một sự đối lập thú vị. Đồng dao vốn là những câu hát dân gian dành cho trẻ nhỏ, hồn nhiên và trong trẻo. Nhưng ở đây, bài thơ lại dành cho “người lớn” — những con người từng trải, nhiều suy tư và đối mặt với vô vàn nghịch lí của cuộc sống. Nhan đề ấy gợi cảm giác vừa quen thuộc vừa mới lạ, đồng thời báo hiệu nội dung giàu tính triết lí của tác phẩm.
Bài thơ là chuỗi những hình ảnh đối lập, nghịch lí phản ánh hiện thực cuộc đời. Tác giả viết:
“có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời”
Hình ảnh “cánh rừng chết vẫn xanh” gợi lên sức sống của kỉ niệm, của thiên nhiên trong tâm hồn con người dù thực tại có đổi thay. Trái lại, “con người sống mà như qua đời” lại là lời cảnh tỉnh về những con người sống vô cảm, mất đi ý nghĩa tồn tại. Qua đó, nhà thơ bộc lộ nỗi day dứt trước sự tha hóa của con người trong cuộc sống hiện đại.
Những nghịch lí tiếp tục xuất hiện:
“có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới”
Các hình ảnh ấy phản ánh sự đảo lộn của các giá trị đạo đức và nhận thức trong xã hội. Điều tưởng như đúng đắn lại trở nên mơ hồ, những điều sai trái đôi khi bị ngộ nhận thành hạnh phúc. Nhà thơ không trực tiếp phê phán mà nhẹ nhàng gợi ra để người đọc tự suy ngẫm.
Đặc biệt, bài thơ còn thể hiện sự cảm thông sâu sắc với những số phận bất hạnh:
“có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có cả đất trời mà không nhà cửa”
Giữa cuộc đời rộng lớn vẫn có những con người cô đơn, thiếu thốn tình thương và nơi nương tựa. Những câu thơ ngắn nhưng gợi biết bao xót xa về thân phận con người trong xã hội.
Tuy nhiên, bài thơ không chìm trong bi quan mà vẫn ánh lên niềm tin vào sự sống:
“mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió”
Điệp từ “vẫn” được lặp lại nhiều lần như khẳng định sức sống bền bỉ của cuộc đời. Dù có buồn đau, mất mát hay nghịch lí, cuộc sống vẫn tiếp diễn, thiên nhiên vẫn tươi đẹp và tâm hồn con người vẫn khao khát tự do, yêu thương.
Khép lại bài thơ là câu thơ giàu tính triết lí:
“có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.”
Thời gian trôi đi rất nhanh, đời người ngắn ngủi như một cái chớp mắt. Câu thơ khiến người đọc suy ngẫm về giá trị của cuộc sống và cách con người sống sao cho ý nghĩa.
Về nghệ thuật, bài thơ gây ấn tượng bởi thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị nhưng giàu sức gợi. Biện pháp điệp cấu trúc “có…”, “mà…” được sử dụng liên tiếp tạo nhịp điệu như lời đồng dao, vừa gần gũi vừa ám ảnh. Hệ thống hình ảnh đối lập, nghịch lí giàu tính biểu tượng giúp bài thơ mang chiều sâu triết lí.
Có thể nói, “Đồng dao cho người lớn” là tiếng lòng suy tư của Nguyễn Trọng Tạo trước cuộc đời nhiều biến động. Bài thơ không chỉ phản ánh hiện thực mà còn gửi gắm niềm tin vào sức sống của con người và cuộc đời. Qua đó, tác phẩm nhắc nhở mỗi người biết trân trọng cuộc sống, sống có ý nghĩa và giữ gìn những giá trị tốt đẹp của tâm hồn.
Câu 1.
Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin thuyết minh giới thiệu về Vạn Lý Trường Thành
Câu 2.
Đối tượng thông tin được đề cập trong văn bản là Vạn Lý Trường Thành của Trung Quốc cùng những sự thật, đặc điểm, lịch sử và giá trị của công trình này.
Câu 3.
Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp vì được tổng hợp từ các nguồn khác như UNESCO, Travel China Guide, Daily Mail
Ví dụ:
“Thống kê của UNESCO cho thấy gần một phần ba công trình này đã biến mất.”
→ Đây là dữ liệu được trích dẫn từ tổ chức UNESCO nên là dữ liệu thứ cấp.
Câu 4.
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản là:
- Cách đánh số thứ tự từ 1 đến 10 cho các mục thông tin.
- Dấu ngoặc kép trong từ “biến mất”.
Tác dụng:
- Giúp thông tin được trình bày rõ ràng, khoa học, dễ theo dõi.
- Nhấn mạnh những nội dung quan trọng, tạo sự chú ý và tăng sức hấp dẫn cho văn bản.
Câu 5.
Văn bản giúp em hiểu thêm về lịch sử, quy mô và giá trị to lớn của Vạn Lý Trường Thành — một công trình kiến trúc vĩ đại của nhân loại. Đồng thời, em cảm thấy khâm phục sức lao động và trí tuệ của con người thời xưa khi xây dựng nên công trình đồ sộ này. Văn bản cũng gợi cho em ý thức cần bảo tồn các di sản văn hóa, lịch sử trước sự tàn phá của thời gian và con người.
Câu 1.
Trong đoạn trích, nhân vật lão Goriot hiện lên là một người cha giàu tình yêu thương nhưng có số phận vô cùng bi thảm. Dù đang hấp hối, ông vẫn đau đáu mong được gặp các con gái lần cuối. Những lời kêu gọi tuyệt vọng: “Anastasie, Delphine ơi, hãy đến đây đi” cho thấy tình phụ tử tha thiết, sâu nặng của lão Goriot. Điều đáng thương là dù bị các con lợi dụng, bỏ rơi và đối xử bạc bẽo, ông vẫn luôn bao dung, yêu thương chúng vô điều kiện. Có lúc ông đau đớn nguyền rủa các con, nhưng ngay sau đó lại tìm cách bênh vực và tha thứ cho chúng. Điều ấy thể hiện tình yêu con mù quáng, hi sinh đến quên mình của một người cha. Đồng thời, nhân vật còn là biểu tượng cho bi kịch của những con người sống trong xã hội đồng tiền, nơi tình thân bị lợi ích vật chất làm cho méo mó. Qua hình tượng lão Goriot, Balzac bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc trước số phận bất hạnh của con người và lên án sự vô tâm, ích kỉ của những đứa con bất hiếu trong xã hội đương thời.
Câu 2.
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, sự phát triển của công nghệ cùng nhịp sống bận rộn đã khiến khoảng cách giữa cha mẹ và con cái ngày càng lớn. Sự xa cách ấy đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại đối với nhiều gia đình và xã hội.
Sự xa cách giữa cha mẹ và con cái là tình trạng các thành viên trong gia đình thiếu sự quan tâm, chia sẻ và thấu hiểu lẫn nhau. Dù sống chung dưới một mái nhà nhưng nhiều người lại ít trò chuyện, ít lắng nghe nhau, thậm chí trở nên lạnh nhạt về mặt tình cảm. Đây là thực trạng khá phổ biến trong xã hội hiện đại.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự xa cách ấy. Trước hết, áp lực công việc và cuộc sống khiến cha mẹ quá bận rộn, không có nhiều thời gian dành cho con cái. Nhiều bậc phụ huynh chỉ quan tâm đến việc kiếm tiền hoặc đặt nặng thành tích học tập mà quên đi nhu cầu được yêu thương, sẻ chia của con. Về phía con cái, sự phát triển của mạng xã hội và thiết bị điện tử khiến nhiều bạn trẻ sống khép kín, ít giao tiếp với gia đình. Bên cạnh đó, khoảng cách thế hệ cũng khiến cha mẹ và con cái khó đồng cảm với nhau về suy nghĩ, lối sống và quan điểm.
Sự xa cách trong gia đình để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Khi thiếu sự quan tâm và thấu hiểu, con cái dễ cảm thấy cô đơn, mất niềm tin và tìm đến những mối quan hệ tiêu cực bên ngoài. Nhiều bạn trẻ rơi vào trạng thái stress, trầm cảm hoặc có những hành động lệch lạc vì không được gia đình lắng nghe. Đối với cha mẹ, sự lạnh nhạt của con cái khiến họ đau lòng, hụt hẫng và cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của mình. Hơn thế, một gia đình thiếu gắn kết sẽ làm suy giảm các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Tuy nhiên, sự xa cách ấy hoàn toàn có thể được xóa bỏ nếu mỗi người biết yêu thương và thấu hiểu nhau hơn. Cha mẹ cần dành thời gian quan tâm, lắng nghe con thay vì chỉ áp đặt hay trách mắng. Con cái cũng cần học cách chia sẻ, yêu thương và trân trọng sự hi sinh của cha mẹ. Những bữa cơm gia đình, những cuộc trò chuyện chân thành hay chỉ đơn giản là sự quan tâm mỗi ngày đều có thể giúp các thành viên xích lại gần nhau hơn. Ngoài ra, mỗi người cũng cần hạn chế phụ thuộc vào điện thoại, mạng xã hội để dành nhiều thời gian cho gia đình.
Gia đình luôn là nơi bình yên và quan trọng nhất đối với mỗi con người. Vì vậy, mỗi chúng ta cần biết giữ gìn, vun đắp tình cảm gia đình bằng sự yêu thương, sẻ chia và thấu hiểu. Đừng để đến khi mất đi mới nhận ra rằng những người thân yêu chính là điều quý giá nhất trong cuộc đời.
Câu 1.
Văn bản được kể theo ngôi thứ ba. Người kể chuyện giấu mình, gọi tên các nhân vật như “lão Goriot”, “Eugène”, “Bianchon”…
Câu 2.
Đề tài của văn bản là: tình phụ tử và bi kịch của người cha bị con cái ruồng bỏ trong xã hội đồng tiền, ích kỉ.
Câu 3.
Lời nói của lão Goriot gợi cho em nhiều cảm xúc xót xa, đau đớn. Dù bị các con đối xử tệ bạc, ông vẫn dành cho con tình yêu thương vô điều kiện và đến phút cuối vẫn nghĩ cho con. Qua câu nói ấy, ta thấy lão Goriot là một người cha giàu đức hi sinh, luôn yêu thương con hết lòng. Đồng thời, câu nói cũng cho thấy nỗi bất hạnh tột cùng của ông: sắp chết nhưng không được gặp các con gái lần cuối. Điều đó khiến người đọc cảm thương sâu sắc cho số phận cô độc, đáng thương của lão Goriot và thêm trân trọng tình cảm gia đình, đạo hiếu của con cái đối với cha mẹ.
Câu 4.
Lão Goriot vừa nguyền rủa vừa khao khát gặp các con vì tình yêu thương con của ông quá lớn lao và sâu nặng. Những lời mắng chửi xuất phát từ sự đau đớn, thất vọng khi bị con bỏ rơi, nhưng sâu thẳm trong trái tim ông vẫn luôn yêu thương và tha thứ cho các con. Đối với lão Goriot, các con là lẽ sống, là niềm hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời. Vì vậy, ngay cả trong giây phút hấp hối, ông vẫn mong được nhìn thấy, được chạm vào các con lần cuối.
Câu 5.
Lúc cuối đời, lão Goriot rơi vào tình cảnh vô cùng bi thảm và cô độc. Ông đau đớn về thể xác, tuyệt vọng về tinh thần, bị chính những người con mà mình yêu thương hết mực bỏ rơi. Cả cuộc đời hi sinh vì con nhưng đến khi hấp hối, ông vẫn không được các con ở bên chăm sóc. Cái chết của lão Goriot thể hiện bi kịch của một người cha giàu tình thương nhưng bị xã hội đồng tiền và lối sống ích kỉ làm cho tan nát hạnh phúc gia đình. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận con người và phê phán sự vô tâm, bạc bẽo của con cái đối với cha mẹ.
Câu 1 :
Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ của Nguyễn Quang Thiều hiện lên với vẻ đẹp vừa chân thực vừa ám ảnh. Họ là những người đàn bà gánh nước sông, mang trên mình dáng vẻ lam lũ: “ngón chân xương xẩu”, “móng dài và đen”, mái tóc “vỡ xối xả” trên lưng áo ướt. Những chi tiết ấy không chỉ tả thực sự nhọc nhằn mà còn gợi lên cả một đời cơ cực, thiếu thốn. Công việc gánh nước lặp đi lặp lại qua “năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời” khiến cuộc sống của họ trở nên quẩn quanh, bế tắc. Tuy vậy, trong sự lam lũ ấy vẫn ẩn chứa một vẻ đẹp bền bỉ và giàu sức chịu đựng. Hình ảnh “một bàn tay bám vào đòn gánh… bàn tay kia bám vào mây trắng” vừa tả thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng: họ không chỉ gánh nặng mưu sinh mà còn ôm giữ những ước mơ mong manh. Người phụ nữ vì thế trở thành biểu tượng cho những phận người nhỏ bé, âm thầm hi sinh, sống kiên cường giữa cuộc đời nhiều nhọc nhằn.
Câu 2 :
Trong xã hội hiện đại, khi nhịp sống ngày càng nhanh và áp lực không ngừng gia tăng, hội chứng “burnout” (kiệt sức) đang trở thành một vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt ở giới trẻ. Đây không chỉ là trạng thái mệt mỏi thông thường mà là sự suy kiệt cả về thể chất lẫn tinh thần do căng thẳng kéo dài.
Burnout thường biểu hiện qua cảm giác chán nản, mất động lực, kiệt quệ năng lượng và thậm chí là hoài nghi chính bản thân mình. Nhiều bạn trẻ rơi vào tình trạng này khi phải đối mặt với áp lực học tập, công việc, kỳ vọng từ gia đình và xã hội. Trong thời đại mạng xã hội, việc so sánh bản thân với người khác càng khiến họ dễ cảm thấy mình kém cỏi, từ đó dẫn đến căng thẳng kéo dài. Ngoài ra, lối sống thiếu cân bằng – làm việc quá sức, ngủ không đủ, ít vận động – cũng là nguyên nhân khiến burnout ngày càng phổ biến.
Hệ quả của burnout không hề nhỏ. Nó làm giảm hiệu suất học tập, làm việc, khiến con người mất đi niềm vui sống, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm lý. Một số người trở nên thu mình, xa cách xã hội, hoặc dễ cáu gắt, mất kiểm soát cảm xúc. Nếu không được nhận diện và khắc phục kịp thời, burnout có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng hơn như trầm cảm.
Tuy nhiên, burnout không phải là điều không thể vượt qua. Điều quan trọng là mỗi người cần học cách lắng nghe bản thân và điều chỉnh nhịp sống hợp lý. Việc sắp xếp thời gian khoa học, cân bằng giữa học tập, công việc và nghỉ ngơi là rất cần thiết. Bên cạnh đó, duy trì các hoạt động lành mạnh như thể dục, đọc sách, trò chuyện với người thân cũng giúp giải tỏa căng thẳng. Quan trọng hơn, mỗi người cần hiểu rằng không ai có thể hoàn hảo, và việc tiến bộ từng bước nhỏ đã là một thành công đáng ghi nhận.
Về phía gia đình và xã hội, cần tạo ra môi trường tích cực, giảm bớt áp lực thành tích và khuyến khích sự phát triển toàn diện. Nhà trường và nơi làm việc cũng nên quan tâm đến sức khỏe tinh thần của học sinh, nhân viên, thay vì chỉ chú trọng đến kết quả.
Burnout là một tín hiệu cảnh báo rằng chúng ta đang đi quá nhanh mà quên chăm sóc chính mình. Đối với giới trẻ, việc nhận thức đúng và hành động kịp thời sẽ giúp họ không chỉ vượt qua kiệt sức mà còn xây dựng được một cuộc sống cân bằng, bền vững và ý nghĩa hơn.
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do
Câu 2.
Các phương thức biểu đạt được sử dụng: biểu cảm (chủ yếu), kết hợp với miêu tả và tự sự
Câu 3.
Việc lặp lại câu thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:
- Nhấn mạnh thời gian dài đằng đẵng, sự lặp lại dai dẳng của cảnh sống.
- Gợi cảm giác ám ảnh, xót xa trước cuộc sống nhọc nhằn, bế tắc của con người.
- Tăng tính nhạc điệu và tạo điểm nhấn cho cảm xúc của bài thơ.
Câu 4.
- Đề tài: Cuộc sống lao động vất vả của những người dân nghèo ven sông.
- Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước số phận cơ cực, luẩn quẩn của con người và những ước mơ nhỏ bé nhưng không lối thoát.
Câu 5.
Bài thơ gợi cho em nhiều suy nghĩ về cuộc sống. Hình ảnh những người đàn bà gánh nước, những đứa trẻ lớn lên rồi lại lặp lại cuộc đời của cha mẹ cho thấy một vòng luẩn quẩn nghèo khó đầy ám ảnh. Điều đó khiến em cảm thấy xót xa và trân trọng hơn những con người lao động vất vả trong xã hội. Đồng thời, bài thơ cũng nhắc nhở mỗi người cần cố gắng học tập, nỗ lực vươn lên để thay đổi số phận, không để cuộc đời trôi qua trong sự bế tắc và lặp lại.