Đỗ Trương Thơ
Giới thiệu về bản thân
Câu 2 : Trong hành trình phát triển của mỗi dân tộc, văn hóa truyền thống luôn là cội nguồn tạo nên bản sắc riêng và sức mạnh tinh thần bền vững. Đối với Việt Nam – một dân tộc có bề dày hàng nghìn năm lịch sử – những giá trị văn hóa truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, đạo lí “uống nước nhớ nguồn”, tiếng Việt, áo dài, dân ca, lễ hội cổ truyền… đã trở thành linh hồn của dân tộc. Trong thời đại hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, ý thức giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống ở giới trẻ không chỉ là trách nhiệm mà còn là thước đo của lòng tự tôn dân tộc.
Văn hóa truyền thống là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần tốt đẹp được hình thành trong lịch sử lâu dài của dân tộc, được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đó không chỉ là những di sản hữu hình như đình chùa, áo dài, nhã nhạc cung đình Huế, dân ca quan họ, mà còn là những giá trị vô hình như lòng nhân ái, sự thủy chung, tinh thần hiếu học và đạo lí làm người. Chính những giá trị ấy đã góp phần tạo nên bản sắc riêng của con người Việt Nam giữa cộng đồng thế giới.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, giới trẻ có điều kiện tiếp xúc với nhiều nền văn hóa hiện đại trên thế giới. Điều đó mở ra cơ hội phát triển nhưng cũng đặt ra nguy cơ mai một bản sắc dân tộc nếu người trẻ thiếu ý thức gìn giữ truyền thống. Bởi vậy, việc bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc trở thành nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ hôm nay.
Thực tế cho thấy, nhiều bạn trẻ hiện nay đã có ý thức đáng trân trọng trong việc gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống. Những năm gần đây, hình ảnh áo dài Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều trong trường học, lễ hội và cả trên các diễn đàn quốc tế. Nhiều bạn trẻ chủ động tìm hiểu lịch sử dân tộc, quảng bá văn hóa Việt Nam qua mạng xã hội, sáng tạo nội dung về ẩm thực, du lịch và phong tục Việt để giới thiệu với bạn bè quốc tế. Không ít nghệ sĩ trẻ đã đưa chất liệu dân gian vào âm nhạc hiện đại, tạo nên những sản phẩm vừa mới mẻ vừa đậm đà bản sắc dân tộc. Những chương trình như Anh trai vượt ngàn chông gai, Táo quân, hay nhiều tiết mục kết hợp nhạc cụ dân tộc với âm nhạc hiện đại đã giúp văn hóa truyền thống đến gần hơn với giới trẻ. Điều đó cho thấy khi được tiếp cận đúng cách, văn hóa truyền thống không hề “lỗi thời” mà vẫn có sức sống mạnh mẽ trong đời sống hiện đại.
Bên cạnh đó, nhiều bạn trẻ còn tích cực tham gia bảo tồn di sản văn hóa tại địa phương, lan tỏa tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc qua những hoạt động ý nghĩa. Trong các dịp lễ lớn của đất nước, hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng xuất hiện rộng khắp trên mạng xã hội như một minh chứng cho tinh thần dân tộc mãnh liệt của thế hệ trẻ hôm nay. Đó là những tín hiệu tích cực đáng được trân trọng và phát huy.
Tuy nhiên, bên cạnh những biểu hiện tích cực ấy vẫn còn một bộ phận giới trẻ thờ ơ với văn hóa truyền thống. Một số người chạy theo lối sống thực dụng, sính ngoại, cho rằng văn hóa dân tộc là “lạc hậu”, từ đó xem nhẹ lịch sử, tiếng Việt và những giá trị đạo đức truyền thống. Có người sử dụng ngôn ngữ thiếu chuẩn mực trên mạng xã hội, ăn mặc phản cảm ở nơi tôn nghiêm hay ứng xử thiếu văn hóa nơi công cộng. Thậm chí, có những bạn trẻ không biết rõ về các ngày lễ lớn của dân tộc, không hiểu giá trị của những di sản văn hóa cha ông để lại. Những biểu hiện ấy cho thấy nguy cơ mai một bản sắc văn hóa dân tộc trong một bộ phận giới trẻ hiện nay.
Nguyên nhân của thực trạng trên xuất phát từ nhiều phía. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và làn sóng văn hóa ngoại nhập khiến giới trẻ dễ bị cuốn theo những xu hướng mới mà quên đi giá trị truyền thống. Bên cạnh đó, gia đình và nhà trường đôi khi chưa thực sự chú trọng giáo dục văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ. Một số bạn trẻ cũng thiếu ý thức tự học hỏi và tìm hiểu về cội nguồn dân tộc mình.
Giữ gìn và phát huy văn hóa truyền thống có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Văn hóa là linh hồn của dân tộc, là nền tảng tinh thần giúp đất nước phát triển bền vững. Một dân tộc có thể nghèo về vật chất nhưng không được nghèo về văn hóa. Nếu đánh mất bản sắc văn hóa, dân tộc ấy sẽ dần đánh mất chính mình. Trong thời đại hội nhập, việc giữ gìn văn hóa truyền thống còn giúp Việt Nam khẳng định vị thế và hình ảnh riêng trên trường quốc tế. Hội nhập không có nghĩa là hòa tan, mà phải biết tiếp thu tinh hoa nhân loại trên nền tảng giữ vững bản sắc dân tộc.
Để bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, trước hết mỗi người trẻ cần nâng cao nhận thức và lòng tự hào dân tộc. Cần chủ động tìm hiểu lịch sử, trân trọng tiếng Việt, giữ gìn những nét đẹp trong cách ứng xử và lối sống hằng ngày. Giới trẻ cũng cần biết chọn lọc khi tiếp nhận văn hóa nước ngoài, tránh chạy theo những xu hướng lệch lạc. Gia đình và nhà trường cần tăng cường giáo dục truyền thống cho học sinh thông qua các hoạt động trải nghiệm thực tế, tham quan di tích lịch sử, tổ chức các chương trình tìm hiểu văn hóa dân tộc. Đồng thời, Nhà nước cũng cần quan tâm hơn đến việc bảo tồn di sản và tạo điều kiện để văn hóa truyền thống được lan tỏa mạnh mẽ trong đời sống hiện đại.
Là học sinh, em nhận thức rằng giữ gìn văn hóa truyền thống không phải là điều gì quá lớn lao mà bắt đầu từ những hành động nhỏ bé mỗi ngày: yêu tiếng Việt, kính trọng ông bà cha mẹ, ứng xử văn minh, mặc trang phục phù hợp trong những dịp trang trọng và tự hào khi nhắc đến hai tiếng “Việt Nam”. Chỉ khi thế hệ trẻ biết trân trọng cội nguồn, văn hóa dân tộc mới có thể trường tồn qua thời gian.
Văn hóa truyền thống là dòng chảy bền bỉ nuôi dưỡng tâm hồn dân tộc Việt Nam suốt hàng nghìn năm lịch sử. Trong thời đại mới, giới trẻ cần trở thành những người tiếp nối và lan tỏa các giá trị tốt đẹp ấy. Bởi giữ gìn văn hóa truyền thống không chỉ là bảo vệ quá khứ mà còn là giữ gìn bản sắc để dân tộc vững vàng bước tới tương lai.
Câu 1 : Bài thơ Khán “Thiên gia thi” hữu cảm của Hồ Chí Minh thể hiện quan niệm nghệ thuật tiến bộ và sâu sắc về thơ ca. Hai câu thơ đầu khái quát đặc điểm của thơ cổ phương Đông: thường hướng đến vẻ đẹp thiên nhiên với những hình ảnh quen thuộc như “núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió”. Biện pháp liệt kê kết hợp với giọng thơ nhẹ nhàng đã gợi ra thế giới thơ ca giàu chất trữ tình, lãng mạn. Tuy nhiên, nếu thơ xưa chủ yếu thiên về cái đẹp thì ở hai câu cuối, Bác đã nêu lên quan niệm mới về thơ ca hiện đại: “Trong thơ thời nay nên có thép”. “Thép” là hình ảnh ẩn dụ cho tinh thần chiến đấu, ý chí cách mạng và trách nhiệm của người nghệ sĩ trước vận mệnh dân tộc. Không chỉ yêu cầu thơ ca phải gắn bó với cuộc sống, Hồ Chí Minh còn khẳng định: “Nhà thơ cũng phải biết xung phong”, nghĩa là người cầm bút phải dấn thân, đồng hành cùng nhân dân và thời đại. Với cấu tứ chặt chẽ, giọng thơ ngắn gọn mà hàm súc, bài thơ đã thể hiện rõ tư tưởng nghệ thuật của Hồ Chí Minh: thơ ca chân chính không chỉ phản ánh cái đẹp mà còn phải phục vụ cuộc sống, góp phần cổ vũ tinh thần đấu tranh của con người.
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên.
Bài thơ được viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật.
Câu 2. Xác định luật của bài thơ.
Bài thơ làm theo luật bằng.
- Chữ cuối câu 1: “mỹ” (thanh hỏi → thanh trắc nhưng xét toàn bài vẫn thuộc luật bằng theo cách gieo vần và niêm luật thơ thất ngôn hiện đại hóa của Bác).
- Các câu 1, 2, 4 hiệp vần “ong”: phong – xung phong.
Câu 3. Phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ mà em ấn tượng trong bài thơ.
Biện pháp tu từ liệt kê được sử dụng trong câu thơ:
“Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong”
Tác giả liệt kê hàng loạt hình ảnh thiên nhiên quen thuộc trong thơ ca cổ như núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió. Cách liệt kê ấy giúp tái hiện vẻ đẹp phong phú, thơ mộng của thơ xưa, đồng thời cho thấy thơ cổ thường thiên về miêu tả thiên nhiên, cái đẹp lãng mạn. Qua đó, Bác tạo tiền đề để nêu lên quan niệm mới về thơ ca hiện đại ở hai câu sau: thơ không chỉ có cái đẹp mà còn phải gắn với cuộc sống, với tinh thần chiến đấu và trách nhiệm thời đại.
Câu 4. Theo em, vì sao tác giả lại cho rằng:
“Hiện đại thi trung ưng hữu thiết,
Thi gia dã yếu hội xung phong.”?
Tác giả cho rằng thơ hiện đại cần “có thép” vì thơ ca không chỉ để thưởng thức cái đẹp mà còn phải phản ánh hiện thực cuộc sống, khơi dậy tinh thần đấu tranh và ý chí cách mạng của con người trong thời đại mới. Trong hoàn cảnh đất nước bị áp bức, nhân dân đau khổ, người nghệ sĩ không thể đứng ngoài cuộc mà phải có trách nhiệm với dân tộc. Vì vậy, nhà thơ cũng cần biết “xung phong”, tức là dấn
thân, chiến đấu bằng ngòi bút và bằng hành động để góp phần cứu nước, cứu dân.
Câu 5. Nhận xét về cấu tứ của bài thơ.
Bài thơ có cấu tứ chặt chẽ, giàu tính đối lập và phát triển logic. Hai câu đầu nói về đặc điểm của thơ ca cổ: thiên về vẻ đẹp thiên nhiên và cảm hứng lãng mạn. Hai câu sau chuyển sang quan niệm thơ ca hiện đại: thơ phải có tinh thần chiến đấu, người nghệ sĩ phải gắn bó với thời đại và dân tộc. Từ việc đối chiếu giữa thơ xưa và thơ nay, bài thơ thể hiện rõ quan điểm nghệ thuật tiến bộ của Hồ Chí Minh: văn chương phải phục vụ cuộc sống cách mạng.
Câu 1 : Bài làm
Hiện nay, việc bảo tồn những di tích lịch sử của dân tộc có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với đời sống con người và sự phát triển của đất nước. Di tích lịch sử không chỉ là những công trình kiến trúc cổ xưa mà còn là nơi lưu giữ những giá trị văn hóa, truyền thống và dấu ấn lịch sử của dân tộc qua nhiều thời kì. Nhờ có các di tích lịch sử, thế hệ hôm nay hiểu rõ hơn về cội nguồn dân tộc, về công lao dựng nước và giữ nước của cha ông ta. Tuy nhiên, hiện nay nhiều di tích đang bị xuống cấp nghiêm trọng do tác động của thời gian, thiên nhiên và đặc biệt là ý thức chưa tốt của một bộ phận con người như xả rác, vẽ bậy hay phá hoại cảnh quan. Vì vậy, việc bảo tồn di tích lịch sử là trách nhiệm của toàn xã hội. Nhà nước cần quan tâm đầu tư trùng tu, tôn tạo các di tích; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền để nâng cao ý thức người dân. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần có ý thức giữ gìn, bảo vệ và quảng bá những giá trị lịch sử, văn hóa của dân tộc. Chúng ta cần tích cực tham gia các hoạt động tìm hiểu lịch sử, tham quan di tích và lên án những hành vi làm ảnh hưởng đến các công trình văn hóa. Bảo tồn di tích lịch sử không chỉ là giữ lại những công trình của quá khứ mà còn là cách gìn giữ bản sắc văn hóa và niềm tự hào dân tộc cho hôm nay và mai sau.
Câu 2 : Bài làm
Trong dòng chảy thơ ca Việt Nam hiện đại, Nguyễn Trọng Tạo là một nghệ sĩ giàu cá tính sáng tạo. Thơ ông thường mang giọng điệu suy tư, giàu chất triết lí nhưng vẫn gần gũi, giàu cảm xúc. Bài thơ Đồng dao cho người lớn là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách ấy. Với hình thức ngắn gọn, nhịp điệu giống đồng dao dân gian cùng những hình ảnh giàu tính biểu tượng, bài thơ đã thể hiện những nghịch lí của cuộc sống và gửi gắm nhiều suy ngẫm sâu sắc về con người, thời gian và cuộc đời.
Ngay từ nhan đề “Đồng dao cho người lớn”, tác giả đã tạo nên một nghịch lí thú vị. “Đồng dao” vốn là những câu hát dân gian dành cho trẻ em, thường hồn nhiên, vô tư và trong sáng. Thế nhưng, nhà thơ lại viết “cho người lớn” – những con người đã trải qua nhiều va đập của cuộc đời. Nhan đề ấy như một lời nhắc nhở: khi trưởng thành, con người càng cần nhìn lại cuộc sống bằng sự tỉnh táo và chiêm nghiệm. Qua đó, tác giả muốn gửi đến người đọc những bài học sâu sắc về cuộc đời bằng giọng điệu nhẹ nhàng mà thấm thía.
Mở đầu bài thơ là những nghịch lí đầy ám ảnh:
“có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi
có con người sống mà như qua đời”
Hình ảnh “cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi” gợi nhắc về những kí ức đẹp đẽ, những giá trị tinh thần tuy đã thuộc về quá khứ nhưng vẫn sống mãi trong tâm hồn con người. Đó có thể là kỉ niệm tuổi thơ, những năm tháng chiến tranh hay những điều tốt đẹp không bao giờ mất đi trong kí ức. Đối lập với hình ảnh ấy là câu thơ “có con người sống mà như qua đời” – một lời phê phán sâu cay về lối sống vô cảm, thờ ơ, sống không lí tưởng, không khát vọng. Con người tuy tồn tại về thể xác nhưng tâm hồn đã trở nên cằn cỗi, mất đi ý nghĩa sống thực sự. Chỉ bằng hai câu thơ ngắn gọn, Nguyễn Trọng Tạo đã đặt ra một vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.
Những nghịch lí ấy tiếp tục được mở rộng trong các câu thơ sau:
“có câu trả lời biến thành câu hỏi
có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới”
Cuộc sống vốn không đơn giản, luôn tồn tại nhiều điều trái ngang và phức tạp. Có những điều tưởng như chắc chắn nhưng lại trở nên mơ hồ; có những sai lầm con người vẫn lầm tưởng là hạnh phúc. Hình ảnh “kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới” vừa mang tính hiện thực vừa giàu ý nghĩa biểu tượng, cho thấy sự tha hóa trong nhận thức và đạo đức của con người hiện đại. Qua đó, nhà thơ kín đáo phê phán những lối sống giả dối, chạy theo dục vọng cá nhân mà đánh mất những giá trị tốt đẹp của tình yêu và hạnh phúc.
Không chỉ phản ánh những nghịch lí xã hội, bài thơ còn thể hiện niềm xót xa trước những bất hạnh của con người:
“có cha có mẹ có trẻ mồ côi
có cả đất trời mà không nhà cửa”
Những câu thơ ngắn nhưng chứa đựng biết bao day dứt. Giữa cuộc sống vẫn còn những số phận bất hạnh, cô đơn và thiếu thốn tình thương. “Có cả đất trời mà không nhà cửa” là nghịch lí đau lòng về thân phận con người trong xã hội. Con người tồn tại giữa thế giới rộng lớn nhưng đôi khi vẫn lạc lõng, không có nơi thuộc về mình. Qua đó, tác giả thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc, sự đồng cảm với những mảnh đời khó khăn trong cuộc sống.
Bài thơ không chỉ có những gam màu buồn mà còn ánh lên niềm tin yêu vào cuộc đời:
“mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ
mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió”
Điệp từ “vẫn” được lặp đi lặp lại như một sự khẳng định mạnh mẽ về sức sống bất diệt của thiên nhiên và con người. Dù cuộc đời có nhiều biến động, đau khổ hay mất mát thì dòng sông vẫn chảy, cỏ vẫn xanh, con người vẫn sống và khát vọng vẫn tồn tại. “Hồn vẫn gió” là hình ảnh giàu chất thơ, gợi sự tự do, phóng khoáng và niềm tin vào những giá trị đẹp đẽ của tâm hồn. Đó chính là tinh thần lạc quan, là vẻ đẹp nhân văn mà tác giả muốn gửi gắm.
Khép lại bài thơ là triết lí sâu sắc về thời gian và kiếp người:
“có thương có nhớ có khóc có cười
có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi.”
Cuộc sống con người được tạo nên từ đủ mọi cung bậc cảm xúc: yêu thương, nhớ nhung, đau khổ và hạnh phúc. Nhưng thời gian thì trôi đi vô cùng nhanh chóng. “Cái chớp mắt” vừa là hình ảnh thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng cho sự ngắn ngủi của đời người. Qua đó, nhà thơ nhắc nhở con người hãy biết trân trọng từng khoảnh khắc sống, biết yêu thương nhiều hơn và sống có ý nghĩa hơn.
Không chỉ đặc sắc về nội dung, bài thơ còn thành công ở phương diện nghệ thuật. Tác giả sử dụng thể thơ tự do với kết cấu lặp “có…” và “mà…” tạo nên nhịp điệu giống như lời đồng dao dân gian. Ngôn ngữ thơ ngắn gọn, cô đọng nhưng giàu sức gợi. Hàng loạt biện pháp đối lập, tương phản được sử dụng hiệu quả nhằm làm nổi bật những nghịch lí của cuộc sống. Hình ảnh thơ mang tính biểu tượng, vừa gần gũi vừa giàu chiều sâu triết lí. Chính sự kết hợp giữa chất dân gian và suy tưởng hiện đại đã tạo nên nét độc đáo cho bài thơ.
Có thể nói, “Đồng dao cho người lớn” là một bài thơ giàu giá trị nhân văn và triết lí. Qua những nghịch lí của cuộc sống, Nguyễn Trọng Tạo đã giúp người đọc nhận ra nhiều điều ý nghĩa về con người và cuộc đời. Bài thơ không chỉ là tiếng nói suy tư của một tâm hồn từng trải mà còn là lời nhắc nhở mỗi người hãy biết sống sâu sắc, nhân ái và trân trọng từng khoảnh khắc của cuộc đời mình.
Câu 1 : Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin
Câu 2 : Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là Vạn Lý Trường Thành cùng những sự thật, đặc điểm lịch sử, kiến trúc và giá trị của công trình này.
Câu 3 : Những dữ liệu mà tác giả đưa ra trong văn bản là dữ liệu thứ cấp, vì được tổng hợp từ nhiều nguồn nghiên cứu, thống kê khác nhau.
Ví dụ:
“Thống kê của UNESCO cho thấy gần một phần ba công trình này đã biến mất.”
Đây là dữ liệu được trích dẫn từ tổ chức UNESCO chứ không phải do người viết trực tiếp khảo sát.
Câu 4 :
Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ:
- Hình ảnh Vạn Lý Trường Thành.
Tác dụng:
- Giúp văn bản trở nên sinh động, hấp dẫn và thu hút người đọc hơn so với chỉ sử dụng chữ viết đơn thuần.
Qua hình ảnh minh họa, người đọc có hứng thú hơn khi tiếp nhận thông tin trong văn bản. - Giúp người đọc dễ dàng hình dung quy mô rộng lớn, vẻ đẹp hùng vĩ và sự kiên cố của Vạn Lý Trường Thành.
Hình ảnh trực quan góp phần làm rõ hơn nội dung thuyết minh mà tác giả muốn truyền tải. - Tăng tính chân thực và sức thuyết phục cho văn bản, giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn giá trị lịch sử của công trình.
Đồng thời, hình ảnh còn giúp người đọc ghi nhớ nội dung văn bản dễ dàng và hiệu quả hơn. - Câu 5 :
Văn bản giúp em hiểu rõ hơn về Vạn Lý Trường Thành – một công trình kiến trúc vĩ đại và nổi tiếng của nhân loại. Qua những thông tin được cung cấp, em cảm thấy khâm phục trí tuệ, sức lao động và sự kiên trì của con người thời cổ đại khi xây dựng nên công trình đồ sộ này trong suốt hàng nghìn năm. Đồng thời, văn bản cũng giúp em nhận ra giá trị to lớn về lịch sử, văn hóa và kiến trúc mà Vạn Lý Trường Thành mang lại cho thế giới. Bên cạnh đó, việc công trình đang dần bị xuống cấp khiến em hiểu rằng các di sản lịch sử cần được bảo vệ và gìn giữ cẩn thận. Mỗi người cần có ý thức trân trọng, bảo tồn các công trình lịch sử để lưu giữ những giá trị quý báu cho các thế hệ mai sau. Văn bản còn khơi gợi trong em niềm yêu thích khám phá lịch sử và những kỳ quan nổi tiếng của nhân loại.
Câu 1. Văn bản được kể theo ngôi thứ ba Dấu hiệu : Người kể chuyện giấu mình, không xuất hiện trong câu chuyện
Câu 2. Đề tài
Tình phụ tử và bi kịch gia đình
Câu 3. Cảm nhận về lời nói của lão Goriot
Qua lời nói:
- “Con phải yêu quý cha mẹ con”
- “Ta sẽ chết mà không được gặp các con…”
Thể hiện:
- Tình yêu thương con sâu sắc, vô điều kiện của lão Goriot
- Nỗi đau đớn, tuyệt vọng tột cùng khi bị con bỏ rơi
- Sự khao khát được yêu thương, được gặp con trước khi chết
Câu 4. Vì sao lão vừa nguyền rủa vừa khao khát gặp con?
Nghe thì mâu thuẫn, nhưng rất hợp lý:
- Lão đau vì bị phản bội → nên oán trách, nguyền rủa
- Nhưng đồng thời vẫn yêu con vô điều kiện → nên vẫn mong gặp
Câu 5. Nhận xét về tình cảnh cuối đời của lão Goriot
Tình cảnh cuối đời của lão Goriot là một bi kịch vô cùng đau đớn và cảm động. Trước hết, đó là bi kịch của một con người cô đơn tuyệt đối: khi đang hấp hối, lão không có một người thân ruột thịt nào bên cạnh, chỉ có Eugène và Bianchon – những người không phải máu mủ – chăm sóc. Hai người con gái mà lão hết lòng yêu thương, hi sinh cả cuộc đời thì lại thờ ơ, không đến gặp cha lần cuối.
Không chỉ cô đơn, lão còn rơi vào cảnh nghèo túng, kiệt quệ. Lão đã dốc toàn bộ tiền bạc, tài sản để lo cho các con có cuộc sống giàu sang, nhưng cuối cùng lại chết trong thiếu thốn, bệnh tật. Điều đó làm nổi bật sự hi sinh mù quáng và tình yêu thương con vô điều kiện của lão.
Đặc biệt, lão Goriot còn phải chịu đựng nỗi đau tinh thần tột cùng. Trong những giây phút cuối, lão vừa yêu thương, vừa oán trách, vừa tuyệt vọng khi nhận ra các con không hề yêu mình như lão từng nghĩ. Những lời nói đứt quãng, mê sảng cho thấy một tâm trạng giằng xé dữ dội giữa tình phụ tử sâu nặng và sự phản bội phũ phàng.
Câu 1 :
Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp vừa chân thực vừa ám ảnh. Đó là những con người lao động nghèo khó, lam lũ, gắn bó với công việc gánh nước nặng nhọc qua năm tháng. Tác giả khắc họa họ bằng những chi tiết giàu tính gợi tả như “những ngón chân xương xẩu, móng dài và đen”, “bối tóc vỡ xối xả trên lưng áo mềm và ướt”, làm nổi bật sự vất vả, nhọc nhằn in hằn trên cơ thể. Họ hiện lên nhỏ bé, chông chênh với “đòn gánh bé bỏng chơi vơi”, nhưng lại mang sức chịu đựng phi thường. Không chỉ là hình ảnh của một cá nhân, người phụ nữ ở đây còn mang ý nghĩa biểu tượng cho biết bao thế hệ phụ nữ nông thôn Việt Nam, sống trong vòng lặp nghiệt ngã của số phận: mẹ gánh nước, con gái lớn lên lại tiếp tục gánh nước. Qua đó, tác giả bày tỏ niềm xót xa, thương cảm trước cuộc đời vất vả, bế tắc của họ, đồng thời trân trọng phẩm chất chịu thương chịu khó, bền bỉ của người phụ nữ trong cuộc sống.
Câu 2 :
Trong xã hội hiện đại với nhịp sống nhanh và nhiều áp lực, hội chứng “burnout” (kiệt sức) đang trở thành một hiện tượng ngày càng phổ biến, đặc biệt trong giới trẻ. Đây không chỉ là trạng thái mệt mỏi thông thường mà là sự suy kiệt kéo dài cả về thể chất, tinh thần và cảm xúc, khiến con người mất dần động lực, niềm tin và hứng thú với công việc cũng như cuộc sống.
Burnout thường xuất phát từ việc con người phải chịu đựng áp lực trong thời gian dài mà không có sự nghỉ ngơi, cân bằng hợp lý. Đối với giới trẻ, áp lực này đến từ nhiều phía: học tập, công việc, kỳ vọng của gia đình, và cả sự cạnh tranh khốc liệt trong xã hội. Nhiều bạn trẻ luôn tự đặt ra mục tiêu cao, mong muốn đạt được thành công sớm để khẳng định bản thân. Tuy nhiên, khi nỗ lực không mang lại kết quả như mong đợi, họ dễ rơi vào trạng thái thất vọng, chán nản. Bên cạnh đó, sự phát triển của mạng xã hội cũng góp phần làm trầm trọng thêm vấn đề. Việc thường xuyên nhìn thấy hình ảnh “thành công” của người khác khiến nhiều người vô thức so sánh và cảm thấy mình kém cỏi, từ đó gia tăng áp lực tâm lý.
Biểu hiện của burnout khá rõ rệt nhưng lại thường bị bỏ qua. Người trẻ có thể cảm thấy kiệt sức, mất ngủ, khó tập trung, dễ cáu gắt hoặc trở nên thờ ơ với những điều trước đây từng yêu thích. Họ không còn tìm thấy ý nghĩa trong công việc, học tập, thậm chí mất phương hướng trong cuộc sống. Nếu kéo dài, burnout có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng hơn như rối loạn lo âu hay trầm cảm, ảnh hưởng sâu sắc đến sức khỏe và tương lai của mỗi cá nhân.
Hậu quả của burnout không chỉ dừng lại ở cá nhân mà còn tác động đến gia đình và xã hội. Một người trẻ mất động lực sẽ khó phát huy được năng lực của mình, làm giảm hiệu suất lao động và chất lượng cuộc sống. Về lâu dài, điều này có thể tạo ra một thế hệ thiếu năng lượng, thiếu niềm tin và khó thích nghi với những biến động của xã hội. Điều đáng lo ngại là nhiều người vẫn coi việc kiệt sức là “bình thường”, như một cái giá phải trả cho thành công, mà không nhận thức được những nguy cơ tiềm ẩn phía sau.
Tuy nhiên, burnout hoàn toàn có thể phòng tránh và khắc phục nếu mỗi người có ý thức chăm sóc bản thân. Trước hết, cần học cách cân bằng giữa công việc và nghỉ ngơi, không nên ép bản thân làm việc quá sức trong thời gian dài. Việc xây dựng thói quen sinh hoạt lành mạnh như ngủ đủ giấc, tập thể dục, và dành thời gian cho sở thích cá nhân sẽ giúp tái tạo năng lượng. Bên cạnh đó, mỗi người cần hiểu rằng thành công là một hành trình dài, không nên so sánh bản thân với người khác hay đặt ra những tiêu chuẩn quá khắt khe. Khi gặp khó khăn, việc chia sẻ với gia đình, bạn bè hoặc tìm đến sự hỗ trợ tâm lý cũng là điều cần thiết.
Ngoài nỗ lực cá nhân, gia đình và xã hội cũng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu burnout. Cha mẹ cần thấu hiểu và không đặt quá nhiều áp lực thành tích lên con cái. Nhà trường và môi trường làm việc cần tạo điều kiện để người trẻ phát triển toàn diện, không chỉ chú trọng đến hiệu suất mà còn quan tâm đến sức khỏe tinh thần. Một xã hội lành mạnh là khi con người được sống, làm việc và nghỉ ngơi trong sự cân bằng.
Burnout là một vấn đề của thời đại, nhưng đồng thời cũng là lời nhắc nhở mỗi người cần sống chậm lại để lắng nghe bản thân. Đối với giới trẻ, điều quan trọng không phải là chạy nhanh đến đâu, mà là có đủ sức bền để đi được bao xa. Khi biết trân trọng sức khỏe tinh thần và học cách cân bằng cuộc sống, mỗi người sẽ không chỉ vượt qua được burnout mà còn xây dựng được một cuộc sống ý nghĩa và bền vững hơn.
Câu 1 : Thể thơ : Tự do
Dấu hiệu : Số chữ trong mỗi dòng không đồng đều
Câu 2 : phương thức biểu đạt được sử dụng trong bài thơ.
- Biểu cảm , Miêu tả ,Tự sự
Câu 3 : Việc lặp lại hai lần dòng thơ “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy” trong bài có tác dụng
- Nhấn mạnh dòng chảy thời gian kéo dài và liên tục, từ “năm năm” đến “mười lăm năm”, “ba mươi lăm năm” rồi “nửa đời”, cho thấy người kể đã chứng kiến cảnh này trong suốt một quãng đời rất dài, không phải nhất thời.
- Làm nổi bật sự tiếp nối giữa các thế hệ, khi những đứa trẻ lớn lên lại đi theo con đường của cha mẹ: con gái lại gánh nước, con trai lại đi câu cá, cho thấy một quy luật gần như định sẵn, khó thoát ra.
- Bộc lộ tâm trạng xót xa, trăn trở và suy tư sâu sắc của tác giả trước thực tại nghèo khó, khi chứng kiến con người sống trong sự lặp lại mệt mỏi mà không có lối thoát rõ ràng.
- Tạo giọng điệu trầm buồn, nhịp điệu chậm và ám ảnh cho bài thơ, khiến cảm xúc lan tỏa mạnh mẽ, giúp người đọc cảm nhận rõ hơn nỗi nặng nề của cuộc sống và thân phận con người.
- Câu 4.
- Đề tài: Cuộc sống lao động lam lũ của người dân vùng sông nước, đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ gánh nước.
- Chủ đề:
Bài thơ thể hiện nỗi xót xa trước số phận nhọc nhằn, lặp lại qua nhiều thế hệ, đồng thời gợi lên sự bế tắc và những ước mơ dang dở của con người trong cuộc sống nghèo khó. - Câu 5.
Bài thơ gợi nhiều suy nghĩ sâu sắc: - Về sự vất vả, hy sinh thầm lặng của người phụ nữ trong cuộc sống
- Về vòng lặp số phận: con cái lớn lên lại tiếp tục con đường của cha mẹ, khó thoát khỏi cảnh nghèo
- Về những ước mơ nhỏ bé nhưng mong manh (giấc mơ biển, con cá thiêng…) luôn bị thực tế khắc nghiệt vùi lấp
- Khiến người đọc thêm trân trọng lao động, đồng thời suy ngẫm về trách nhiệm thay đổi cuộc sống, hướng tới tương lai tốt đẹp hơn
Câu 1 : Bài Làm
Đoạn thơ trong “Bài thơ chưa thể đặt tên” của Nguyễn Phan Quế Mai gợi lên những cảm xúc sâu lắng về giá trị của hạt gạo và truyền thống gia đình. Hình ảnh “nâng bát cơm trên tay, tôi đếm từng hạt gạo” thể hiện sự trân trọng, biết ơn của con người trước thành quả lao động. Mỗi hạt gạo không chỉ là thức ăn mà còn kết tinh mồ hôi, công sức của “những tổ tiên tôi còng lưng gieo gặt”. Điệp từ “từng hạt” nhấn mạnh sự nâng niu, ý thức về giá trị của lao động và cuộc sống. Đặc biệt, hạt gạo còn mang vẻ đẹp tinh thần khi “thơm lời ru của bà tôi đơm lên từ lòng đất” – đó là tình yêu thương, ký ức tuổi thơ và cội nguồn dân tộc. Không gian “ngoài kia trong hoàng hôn” cùng âm vang “lời ru bà tôi vẫn se sẽ trở dòng” khiến dòng chảy truyền thống trở nên bất tận. Đoạn thơ vì thế không chỉ ca ngợi lao động mà còn khơi dậy lòng biết ơn, tình cảm gia đình và ý thức gìn giữ những giá trị bền vững của dân tộc.
Câu 2 : Bài Làm
Trong cuộc sống luôn biến động không ngừng, khả năng thích ứng trở thành một trong những phẩm chất quan trọng nhất của con người, đặc biệt là với tuổi trẻ. Ý kiến “Tuổi trẻ cần phải thích ứng trong mọi hoàn cảnh” không chỉ đúng mà còn mang ý nghĩa định hướng sâu sắc.
Thích ứng là khả năng linh hoạt thay đổi suy nghĩ, hành động để phù hợp với hoàn cảnh mới mà vẫn giữ được mục tiêu và giá trị cốt lõi. Với tuổi trẻ – giai đoạn nhiều biến động, thử thách – thì thích ứng chính là chìa khóa để trưởng thành và thành công. Thế giới hiện đại phát triển nhanh chóng với công nghệ, tri thức và cả những biến cố bất ngờ như dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế… Nếu không biết thích ứng, con người sẽ dễ bị tụt lại phía sau.
Thực tế cho thấy, những người trẻ thành công thường là những người có khả năng thích nghi tốt. Họ có thể học cái mới, thay đổi phương pháp học tập, làm việc khi cần thiết. Ví dụ, trong thời kỳ dịch COVID-19, nhiều học sinh đã nhanh chóng chuyển sang học online, tự giác hơn trong việc học và rèn luyện kỹ năng công nghệ. Hay trong cuộc sống, một người trẻ rời quê lên thành phố học tập nếu biết thích nghi với môi trường mới sẽ dễ hòa nhập và phát triển hơn.
Tuy nhiên, thích ứng không có nghĩa là dễ dàng thỏa hiệp hay đánh mất bản thân. Đó phải là sự thích ứng có chọn lọc, giữ vững giá trị đạo đức và mục tiêu sống. Nếu thích ứng một cách mù quáng, chạy theo hoàn cảnh tiêu cực, con người có thể đánh mất chính mình. Vì vậy, bên cạnh sự linh hoạt, tuổi trẻ cần có bản lĩnh, lập trường và lý tưởng sống rõ ràng.
Phê phán những bạn trẻ thụ động, ngại thay đổi, dễ nản chí khi gặp khó khăn. Họ thường đổ lỗi cho hoàn cảnh mà không tự điều chỉnh bản thân, dẫn đến thất bại. Ngược lại, cũng cần phê phán lối sống a dua, thích nghi theo hướng tiêu cực, chạy theo xu hướng lệch lạc.
Để rèn luyện khả năng thích ứng, mỗi người trẻ cần chủ động học hỏi, không ngừng trau dồi kỹ năng, đặc biệt là kỹ năng mềm như giao tiếp, giải quyết vấn đề. Đồng thời, cần rèn luyện tinh thần tích cực, dám đối mặt với thử thách và không ngại thay đổi.
Tóm lại, thích ứng là năng lực thiết yếu của tuổi trẻ trong thời đại hôm nay. Biết thích ứng đúng cách sẽ giúp con người vượt qua khó khăn, nắm bắt cơ hội và khẳng định giá trị bản thân. Tuổi trẻ chỉ thực sự tỏa sáng khi vừa linh hoạt trước hoàn cảnh, vừa kiên định với mục tiêu của mình.
Câu 1 : Thể thơ tự do
Dấu hiệu : Số chữ trong mỗi dòng không bằng nhau
Câu 2 : Hình ảnh được sử dụng để so sánh từng hạt gạo ngọt thơm là lời ru của bà
\(Câu 3 : Phân\)\(tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê - Nêu biểu hiện: Liệt kê/nêu/kể ra những điều nhân vật tôi "nghe trong khói hương": hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru gọi lúa trổ đòng. + Tác dụng: + Làm cho câu thơ thêm sinh động hấp dẫn khắc hoạ sâu sắc những sự vật khác nhau + Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà. Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thế hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước. + Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.\) Câu 4 : Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ:
- Suy nghĩ sâu sắc: Nhận ra mỗi hạt gạo làm nên bát cơm trên tay hôm nay là kết tinh bao mô hôi công sức của tố tiên, kết tinh bao yêu thương của bà trong lời ru.
- Tình cảm: Nhân vật tôi thể hiện sự trân trọng, biết ơn sâu sắc với tố tiên, tình yêu thương đối với bà.
Caau 5 :
- Hiện tại luôn được xây đắp từ quá khứ, cuộc sống ấm no trong hiện tại của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có được nhờ những thế hệ đi trước vất vả dựng xây. Vì vậy nhìn những gì có trong hiện tại, cần có thái độ trân quý, biết ơn với những người đi trước, với quá khứ,...
- Một người sẽ trưởng thành thực sự khi biết nhìn hiện tại mà thấy quá khứ, biết trân trọng những gì đang được thụ hưởng với lòng biết ơn, biết nhớ về tổ tiên, gắn kết với gia đình đặc biệt là với thế hệ trước,...
Câu 1 : Ý thức bảo vệ chủ quyền đất nước có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ ngày nay. Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, chủ quyền không chỉ là vấn đề lãnh thổ mà còn gắn với danh dự, lòng tự tôn dân tộc và sự tồn vong của quốc gia. Thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của đất nước – cần nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong việc giữ gìn từng tấc đất, vùng biển, vùng trời thiêng liêng của Tổ quốc. Ý thức ấy không chỉ thể hiện ở tinh thần sẵn sàng bảo vệ đất nước khi cần, mà còn ở những hành động cụ thể như học tập tốt, nâng cao hiểu biết về lịch sử, pháp luật, chủ quyền biển đảo, đồng thời đấu tranh với những thông tin sai lệch. Bên cạnh đó, lòng yêu nước và ý thức chủ quyền còn giúp giới trẻ có bản lĩnh vững vàng trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Khi mỗi người trẻ đều có ý thức trách nhiệm, đất nước sẽ có nền tảng vững chắc để bảo vệ độc lập, chủ quyền và phát triển bền vững.
Câu 2 :
Văn bản “Tổ quốc ở Trường Sa” của Nguyễn Việt Chiến và bài thơ “Màu xanh Trường Sơn” của Đỗ Nam Cao đều thể hiện tình yêu sâu sắc đối với Tổ quốc, song mỗi tác phẩm lại có những nét riêng độc đáo về nội dung.
Trước hết, điểm gặp gỡ của hai văn bản là cùng khẳng định tình yêu nước nồng nàn và ý thức trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc. Trong “Tổ quốc ở Trường Sa”, hình ảnh biển đảo hiện lên với những con sóng dữ, nơi ngư dân ngày đêm bám biển, sẵn sàng hy sinh để giữ gìn chủ quyền. Tác giả nhấn mạnh sự thiêng liêng của Tổ quốc qua hình ảnh “Mẹ Tổ quốc” gắn bó máu thịt với mỗi con người. Tương tự, “Màu xanh Trường Sơn” lại khắc họa hình ảnh người lính trên tuyến đường Trường Sơn gian khổ nhưng đầy ý chí. Dù phải đối mặt với mưa rừng, sốt rét, đường đi hiểm trở, họ vẫn mang trong mình niềm tin và lý tưởng cách mạng. Cả hai tác phẩm đều ca ngợi con người Việt Nam kiên cường, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.
Tuy nhiên, mỗi văn bản lại có cách thể hiện nội dung riêng biệt. “Tổ quốc ở Trường Sa” tập trung làm nổi bật hiện thực biển đảo trong thời bình nhưng vẫn tiềm ẩn nhiều hiểm nguy. Hình ảnh máu của ngư dân “chan hòa trên sóng” cho thấy sự hy sinh không ngừng nghỉ để bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bài thơ mang âm hưởng vừa tha thiết vừa hào hùng, gợi lên trách nhiệm của mỗi người trong việc giữ gìn Tổ quốc hôm nay. Trong khi đó, “Màu xanh Trường Sơn” lại gắn với bối cảnh kháng chiến chống Mỹ, tái hiện con đường Trường Sơn huyền thoại. “Màu xanh” trong bài thơ là hình ảnh biểu tượng xuyên suốt, vừa là màu của thiên nhiên,
vừa là màu của niềm tin, sức sống và lý tưởng cách mạng. Nếu “Tổ quốc ở Trường Sa” nhấn mạnh sự hy sinh nơi biển đảo, thì “Màu xanh Trường Sơn” lại ca ngợi tinh thần lạc quan, ý chí bền bỉ của người lính trong chiến tranh.
Ngoài ra, hai tác phẩm còn khác nhau ở cảm hứng chủ đạo. “Tổ quốc ở Trường Sa” mang đậm cảm hứng thời sự, hướng về chủ quyền biển đảo trong hiện tại, từ đó khơi dậy ý thức công dân. Ngược lại, “Màu xanh Trường Sơn” mang cảm hứng sử thi và lãng mạn, tái hiện một thời kỳ lịch sử hào hùng của dân tộc. Hình ảnh “màu xanh” lặp đi lặp lại đã tạo nên âm hưởng vừa nhẹ nhàng vừa sâu sắc, thể hiện niềm tin bất diệt vào tương lai.
Tóm lại, dù ra đời trong những hoàn cảnh khác nhau, cả hai tác phẩm đều góp phần làm nổi bật tình yêu Tổ quốc và tinh thần sẵn sàng hy sinh vì đất nước của con người Việt Nam. Nếu “Tổ quốc ở Trường Sa” nhắc nhở thế hệ hôm nay về trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo, thì “Màu xanh Trường Sơn” giúp ta trân trọng hơn những hy sinh của cha anh trong quá khứ. Chính sự gặp gỡ và khác biệt ấy đã làm nên giá trị sâu sắc cho mỗi tác phẩm, đồng thời góp phần bồi đắp lòng yêu nước trong mỗi con người.