Nguyễn Bùi Minh Ngọc

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Bùi Minh Ngọc
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1.

Luận đề của đoạn trích: Điều quyết định thành bại trong đời con người không phải ở việc sở hữu tiềm năng mà ở việc sử dụng nó.

Câu 2.

Theo tác giả: Con người rất khó đi lên khi đã ở mức lưng chừng.

Câu 3.

- Biện pháp tu từ so sánh: So sánh khá năng của con người giống như những cơ bắp.

- Tác dụng:

+ Làm cho câu văn sinh động, hấp dẫn, giàu hình ảnh, tăng giá trị biếu đạt.

+ Giống như cơ bắp phải rèn luyện mới rắn rỏi, khả năng của con người phái rèn giũa mỗi ngày mới phát triển. Qua đó, tác giả nhấn mạnh sự cần thiết phải nổ lực không ngừng đế phát huy tiêm năng của con người.


Câu 4.

- Hội chứng "vừa đủ" là tâm lí hài lòng với mức tối thiếu ốn định, không cần phân đấu dù bản thân có khả năng.

- Đây là tâm lí dễ nảy sinh khi con người ở mức lưng chừng, đã có một số thứ, có tí tài năng, có cái đế mất, có cuộc sống thoải mái, dễ chịu.

- Hội chứng "vừa đi" biểu hiện ở xu hướng tận hưởng quá nhiều, không quý trọng thời gian và mất dần động lực đế vươn lên tốt hơn. Điều này khiến con người không thế sống hết với tiềm năng.

Câu 5.

Điếm tương đồng của 02 ngữ liệu:

- Cả 02 ngữ liệu đều đề cao vai trò chủ động rèn luyện, nỗ lực của con người. Theo Rosie Nguyễn sự mài giũa hằng ngày giúp khả năng của con người không bị mai một.

Theo Nguyễn Đăng Tấn sự miệt mài và nghị lực mới đem đến những giá trị cho con người.

- Cả 02 ngữ liệu đều mang đến triết lí sâu sắc về cách sống chủ động, tích cực.

Câu 1.

Động lực là yếu tố quan trọng giúp người trẻ không ngừng nỗ lực mỗi ngày. Trong một thế giới cạnh tranh và biến động, nếu thiếu động lực, con người rất dễ rơi vào trạng thái trì trệ, mất phương hướng. Động lực có thể đến từ ước mơ, khát vọng khẳng định bản thân hoặc đơn giản là mong muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi có mục tiêu rõ ràng, mỗi hành động nhỏ hằng ngày đều trở nên có ý nghĩa, giúp ta tiến gần hơn tới thành công. Tuy nhiên, động lực không phải lúc nào cũng bền vững, nó có thể bị lung lay bởi khó khăn, thất bại. Vì vậy, người trẻ cần học cách tự tạo động lực cho bản thân bằng việc kiên trì, kỷ luật và giữ vững niềm tin. Bên cạnh đó, môi trường sống tích cực, sự ủng hộ từ gia đình và bạn bè cũng góp phần nuôi dưỡng động lực. Nỗ lực mỗi ngày, dù nhỏ bé, nhưng tích lũy lâu dài sẽ tạo nên những thay đổi lớn. Khi có động lực, con người không chỉ vượt qua giới hạn của chính mình mà còn khám phá được những giá trị tốt đẹp của cuộc sống.

Câu 2

Trong bài thơ Thời gian trắng, Nguyễn Phan Quế Mai đã khắc họa một cuộc gặp gỡ đầy ám ảnh giữa cái tôi trữ tình và một người lính già Trường Sơn, qua đó gợi lên những suy tư sâu sắc về ký ức chiến tranh và sự lãng quên của con người hiện đại. Đoạn thơ mở ra bằng hình ảnh “Tôi ngồi sau xe / Lắng nghe ông kể chuyện” – một tình huống giản dị nhưng giàu ý nghĩa. Từ “nghe” được lặp lại nhiều lần tạo nên nhịp điệu trầm lắng, như dòng hồi ức đang dần mở ra.


Những gì người lính kể không chỉ là câu chuyện cá nhân mà là cả một thời kỳ lịch sử. “Nghe gió Trường Sơn”, “nghe nắng miền Trung”, “nghe tiếng súng xuyên về từ ngày tôi chưa sinh” – đó là những hình ảnh vừa cụ thể vừa mang tính biểu tượng. Thiên nhiên và chiến tranh hòa quyện, tạo nên một không gian ký ức rộng lớn, nơi quá khứ vẫn còn vang vọng. Đặc biệt, chi tiết “từ ngày tôi chưa sinh” nhấn mạnh khoảng cách thế hệ, đồng thời cho thấy những hy sinh ấy thuộc về một thời mà thế hệ sau chỉ có thể “nghe” lại.


Hình ảnh “giọt mưa” mang nhiều tầng ý nghĩa: đó là giọt nước mắt, là ký ức, là vị ngọt của chiến thắng nhưng cũng là vị đắng của mất mát. Sự đối lập “ngọt – đắng – mặn – cay” thể hiện trọn vẹn dư vị của chiến tranh còn đọng lại trong lòng người lính. Đáng chú ý là câu hỏi đầy trăn trở: “rồi có ai còn nhớ tới Trường Sơn”. Đây không chỉ là nỗi niềm riêng mà còn là lời cảnh tỉnh đối với hiện tại.


Phần cuối đoạn thơ chuyển giọng rõ rệt. Nhịp sống hiện đại “tấp nập chảy quanh tôi” khiến con người chỉ biết “vươn mình về phía trước” mà “quên đi” quá khứ. Điệp từ “quên đi” lặp lại như một lời tự vấn, đồng thời phê phán sự vô tâm của con người trước những hy sinh lớn lao. Hình ảnh “người lính già bé nhỏ / cạnh ngã tư đường” gợi lên sự đối lập giữa quá khứ hào hùng và hiện tại lặng lẽ, khiến người đọc không khỏi xót xa.


Đoạn thơ không chỉ là lời kể mà còn là lời nhắc nhở: đừng để “thời gian trắng” xóa nhòa ký ức. Qua đó, tác giả khẳng định giá trị của sự tri ân và trách nhiệm của thế hệ hôm nay trong việc gìn giữ quá khứ.



Câu 1

Hai ngữ liệu của Sương Nguyệt Minh và Maxim Gorky đều gặp nhau ở ý nghĩa: trong gian khó, sự sống vẫn hình thành một cách mạnh mẽ và thiêng liêng. Ở ngữ liệu (1), giữa đêm mưa lũ dữ dội, sự sống của đứa bé cất tiếng khóc chào đời như xé toạc màn đêm, mang theo niềm hy vọng và sự nhẹ nhõm cho con người. Không gian khắc nghiệt càng làm nổi bật giá trị của sự sống – một phép màu nhỏ bé nhưng đầy sức mạnh. Trong khi đó, ngữ liệu (2) lại khắc họa khoảnh khắc một con người ra đời trong hoàn cảnh nghèo khó, lênh đênh, nhưng vẫn hiện lên với vẻ đẹp nguyên sơ, đầy sức sống và khát vọng tồn tại. Dù hoàn cảnh khác nhau, cả hai đều cho thấy: sự sống không bị khuất phục trước nghịch cảnh, mà ngược lại, càng trở nên mãnh liệt hơn. Qua đó, hai tác giả khẳng định niềm tin vào con người và ca ngợi sức sống bền bỉ, thiêng liêng của con người trong mọi hoàn cảnh.

Câu 2

Trong mọi thời đại, tuổi trẻ luôn là lực lượng tiên phong của xã hội. Đặc biệt trong những mùa bão lũ, thiên tai – khi con người phải đối mặt với mất mát và khó khăn – vai trò của tuổi trẻ Việt Nam càng trở nên rõ nét và ý nghĩa. Tuổi trẻ không chỉ là sức mạnh về thể chất mà còn là tinh thần dấn thân, trách nhiệm và khát vọng cống hiến, góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng vững bền.


Trước hết, tuổi trẻ là lực lượng xung kích trực tiếp trong các hoạt động hỗ trợ và cứu trợ. Khi thiên tai xảy ra, hình ảnh những đoàn thanh niên tình nguyện không ngại gian khó, có mặt ở những nơi nguy hiểm nhất để cứu người, vận chuyển lương thực, dựng lại nhà cửa… đã trở nên quen thuộc. Họ là những người sẵn sàng đi đầu, dấn thân vào vùng lũ, bất chấp hiểm nguy để giúp đỡ đồng bào. Chính tinh thần ấy đã góp phần giảm thiểu thiệt hại và tiếp thêm niềm tin cho những người đang gặp hoạn nạn.


Không chỉ vậy, tuổi trẻ còn là lực lượng lan tỏa tinh thần nhân ái và đoàn kết. Trong thời đại công nghệ, nhiều bạn trẻ đã tận dụng mạng xã hội để kêu gọi quyên góp, chia sẻ thông tin, kết nối những tấm lòng hảo tâm đến với vùng thiên tai. Những hành động tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại tạo nên sức mạnh lớn, giúp cộng đồng cùng chung tay vượt qua khó khăn. Qua đó, tuổi trẻ không chỉ hành động mà còn truyền cảm hứng, khơi dậy tinh thần trách nhiệm trong toàn xã hội.


Bên cạnh đó, tuổi trẻ còn đóng vai trò quan trọng trong việc “gieo hạt giống” cho tương lai. Sau thiên tai, việc khắc phục hậu quả, tái thiết cuộc sống đòi hỏi sự bền bỉ và lâu dài. Tuổi trẻ với tri thức, sự sáng tạo và nhiệt huyết có thể tham gia vào các hoạt động xây dựng lại cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, ứng dụng khoa học công nghệ để phòng chống thiên tai hiệu quả hơn. Họ chính là những người mang theo hy vọng về một tương lai tốt đẹp hơn.


Tuy nhiên, để phát huy hết vai trò của mình, tuổi trẻ cần được trang bị không chỉ sức khỏe mà còn kiến thức, kỹ năng và ý thức trách nhiệm. Mỗi bạn trẻ cần rèn luyện bản thân, nuôi dưỡng lòng nhân ái, tinh thần kỷ luật và sự chủ động. Đồng thời, xã hội cũng cần tạo điều kiện để thanh niên được tham gia, được cống hiến và trưởng thành qua thực tiễn.


Tóm lại, trong mùa lũ và thiên tai, tuổi trẻ Việt Nam chính là lực lượng nòng cốt góp phần tạo nên sức mạnh cộng đồng. Bằng lòng dũng cảm, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến, họ không chỉ giúp con người vượt qua khó khăn trước mắt mà còn gieo những hạt giống hy vọng cho tương lai. Đó chính là vẻ đẹp đáng tự hào của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay.



Câu 1

- Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất.

- Dấu hiệu : Người kể chuyện xưng “ tôi “, trực tiếp tham gia vào sự việc và bộc lộ suy nghĩ cảm xúc cá nhân trong truyện.


Câu 2

- Không gian : Vùng lũ xã Hải Hà, phá Tam Giang

- Thời gian : khi “ trời đã sâm sẩm tối “ trong lúc mưa lũ dâng cao.


Câu 3

- Biện pháp liệt kê : ánh đèn pin, đèn bão lập loè, nhấp nháy, loang loáng trên nóc nhà, sân thượng.

- Tác dụng :

+ Hình thức : phép liệt kê kết hợp các từ láy giàu tính gợi hình ( lập loè, nhấp nháy, loang loáng ) tạo nhịp điệu dồn dập, tăng sức gợi tả cho câu văn.

+ Nội dung : khắc hoạ rõ nét khung cảnh đêm mưa lũ khắc nghiệt, đồng thời làm nổi bậy tinh thần, nghị lực của con người khi nỗ lực giữ lấy sự sống mong manh trong hiểm cảnh.


Câu 4

Nhận xét hành động của những quân nhân đồn biên phòng Cửa Phá :

- Những quân nhân đồn biên phòng không chỉ dũng cảm cứu hộ trong điều kiện nguy hiểm ( nước dâng, đêm tối, mưa lớn ) mà còn chủ động, linh hoạt xử lí các tình huống khẩn cấp ( tìm kiếm người mắc kẹt, phá mái ngói, tường nhà, đưa xuồng áp sát để kịp thời cứu sản phụ )

- Những hành động của quân nhân đồn biên phòng thể hiện tình thương và sự tận tuỵ sâu sắc với nhân dân. Họ không quản khó khắn để giúp người phụ nữ sinh con an toàn, coi việc bảo vệ tính mạng người dân là nhiệm vụ cấp bách, thiêng liêng.

Câu 5

Tình người trong nghịch cảnh là sự yêu thương, đùm bọc, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi hoạn nạn. Chính tình người giúp con người vượt qua khó khăn, làm ấm lên cuộc sống giữa hoàn cảnh khắc nghiệt. Mỗi người cần biết sống nhân ái, sẻ chia để góp phần xây đắp, lan toả những giá trị tốt đẹp trong cuộc đời.