Phạm Thị Lan Phương
Giới thiệu về bản thân
Ước mơ là những khát vọng, mục tiêu tốt đẹp mà con người mong muốn đạt được trong cuộc sống. Tuy nhiên, để biến ước mơ thành hiện thực thì lao động đóng vai trò vô cùng quan trọng. Lao động là quá trình con người nỗ lực, cố gắng và hành động để tạo ra giá trị. Giữa lao động và ước mơ có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ: ước mơ tạo động lực để con người cố gắng, còn lao động là con đường giúp hiện thực hóa ước mơ. Nếu chỉ biết mơ ước mà không hành động, con người sẽ mãi sống trong sự viển vông. Ngược lại, lao động mà không có mục tiêu cũng dễ khiến con người mất phương hướng. Vì vậy, mỗi người cần xác định cho mình một ước mơ đúng đắn và không ngừng nỗ lực, chăm chỉ lao động để đạt được thành công trong cuộc sống.
Cau2:
Nguyễn Đình Thi là nghệ sĩ đa tài của nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ ông giàu cảm xúc, vừa phóng khoáng vừa sâu lắng. Bài thơ“Nhớ” đã thể hiện tâm trạng của nhân vật trữ tình – người chiến sĩ với nỗi nhớ da diết hòa quyện giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu đất nước.
Ngay từ đầu bài thơ, nỗi nhớ được thể hiện qua những hình ảnh thiên nhiên giàu sức gợi “Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh/Soi sáng đường chiến sĩ giữa đeof mây”.
Hình ảnh nhân hóa khiến ngôi sao như mang tâm trạng con người. Nỗi nhớ không chỉ hiện diện trong lòng người chiến sĩ mà còn lan tỏa vào thiên nhiên. Tiếp đó, hình ảnh ngọn lửa “Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh/Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây”.
Ngọn lửa vừa sưởi ấm không gian vừa sưởi ấm tâm hồn người lính. Điệp cấu trúc “nhớ ai mà” tạo nên giọng thơ tha thiết, da diết.
Tâm trạng nhân vật trữ tình được bộc lộ rõ hơn qua những câu thơ “anh yêu em như anh yêu đất nước/Vấtvà đau thương tươi thắm ngần.”
Tình yêu đôi lứa gắn bó với tình yêu Tổ quốc. Đó là tình cảm chân thành, sâu sắc và cũng là vẻ đẹp tâm hồn của con người thời kháng chiến. Nỗi nhớ ấy luôn thường trực “Anhnhớ em mỗi bước đường anh bước/Mỗi tối miếng anh ăn”.
Điệp từ “mỗi” cho thấy nỗi nhớ hiện diện trong từng khoảnh khắc đời sống. Tình yêu trở thành động lực giúp người chiến sĩ vượt qua khó khăn, gian khổ.
Qua hình ảnh giàu sức gợi, ngôn ngữ giản dị và giọng thơ thiết tha, Nguyễn Đình Thi đã khắc họa thành công tâm trạng nhân vật trữ tình với nỗi nhớ sâu nặng, tình yêu đôi lứa hòa quyện với tình yêu đất nước và lý tưởng cao đẹp. Qua đó làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn của người chiến sĩ trong thời kì kháng chiến.
Câu 1.
Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích trên là tự sự.
Câu 2
Trong đoạn trích, dì Hảo khóc vì tủi thân và đau đớn trước hoàn cảnh khốn cùng của mình. Sau một trận ốm nặng, đôi chân của dì bị tê liệt không thể đi lại được. Sự bất lực về thể xác khiến dì không thể làm việc để tự nuôi sống bản thân, phải sống phụ thuộc vào người khác và rơi vào trạng thái tuyệt vọng khi nghĩ về tương lai mờ mịt.
Câu 3.
Một biện pháp tu từ nổi bật được sử dụng trong đoạn trích là biện pháp điệp từ qua từ nghèo được lặp lại nhiều lần trong câu văn: Cái nghèo của dì Hảo, bây giờ, mới thật là cái nghèo hoàn toàn, cái nghèo sặc sụa, cái nghèo như một thứ vi trùng độc địa, nó ăn sâu vào xương tủy, nó làm cho người ta rũ liệt ra.
Tác dụng của biện pháp tu từ này là nhấn mạnh và khắc sâu mức độ bi thảm, cùng cực của cái nghèo đang bủa vây lấy cuộc đời dì Hảo. Từ nghèo được lặp đi lặp lại không chỉ làm tăng tính gợi hình, gợi cảm cho lời văn mà còn giúp người đọc cảm nhận rõ rệt sức tàn phá khủng khiếp của hoàn cảnh đói nghèo. Nó không đơn thuần là sự thiếu thốn về vật chất mà đã trở thành một nỗi ám ảnh, một căn bệnh quái ác gặm nhấm cả sức khỏe, thể xác lẫn tinh thần của nhân vật, khiến nhân vật hoàn toàn bị buông xuôi, bất lực.
Câu 4.
Qua đoạn trích, tình cảnh của nhân vật dì Hảo hiện lên vô cùng đáng thương, tội nghiệp và bế tắc. Dì phải gánh chịu một tấn bi kịch kép của số phận: vừa bị cái nghèo đói bám riết, vừa bị bệnh tật cướp đi khả năng lao động tối thiểu khi đôi chân bị tê liệt. Đối với một người lao động nghèo, việc mất đi đôi chân đồng nghĩa với việc mất đi công cụ duy nhất để sinh tồn. Tình cảnh của dì Hảo là hình ảnh thu nhỏ cho số phận đau khổ, bất hạnh của người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám, khi họ bị đẩy vào bước đường cùng, không lối thoát và phải sống một cuộc đời mòn mỏi, tàn phế cả về thể chất lẫn hy vọng.
Câu 5.
Thông điệp ý nghĩa nhất rút ra từ đoạn trích là bài học về lòng cảm thông, sự sẻ chia và tình yêu thương con người trong xã hội. Khi chứng kiến một cuộc đời đau khổ, bất hạnh và bất lực như dì Hảo, chúng ta nhận ra rằng tình người, sự đùm bọc giữa những con người với nhau khi hoạn nạn là điều vô cùng trân quý. Đồng thời, tác phẩm cũng gửi gắm lời nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng cuộc sống bình thường, trân trọng sức khỏe và may mắn mà mình đang có, từ đó có ý thức nỗ lực vươn lên, sống có ích và biết chìa tay giúp đỡ những mảnh đời kém may mắn xung quanh.
Câu 1Bối cảnh của văn bản diễn ra tại sân quần vợt (sân tennis) trong ngày hội thể thao Bắc Kỳ, nơi tổ chức trận thi đấu quần vợt lịch sử giữa nhà vô địch Xiêm (Thái Lan) và hai quán quân Đông Dương là Hải và Thụ. Đây là một sự kiện thể thao mang tính chính trị và ngoại giao quan trọng, thu hút đông đảo đám đông công chúng đủ mọi tầng lớp cùng các quan chức cấp cao của cả chính phủ bảo hộ Pháp và triều đình bản xứ đến xem.
Cau2:
Văn bản có sự đan xen rõ rệt giữa hai loại lời thoại:
Một ví dụ về lời của người kể chuyện là: Sân quần vội vã sửa soạn lại. Người ta kéo cái lưới khác. Người ta gạt lại mặt cát.
Một ví dụ về lời của nhân vật (lời của cụ cố Hồng) là: Biết thế này thì tôi đã cho nó đi học bên Tây từ thuở bé!
Câu 3:Các chi tiết miêu tả phản ứng của đám đông bao gồm: Khi thấy Hải và Thụ cố ý đánh hỏng để nhường điểm, đám đông công chúng không hiểu được lý do chính trị tinh vi bên sau nên đã đùng đùng nổi giận. Họ la hét, phản đối dữ dội, cho rằng hai cầu thủ Đông Dương phản quốc, bán nước hoặc nhận tiền hối lộ. Sự phẫn nộ lên đến đỉnh điểm khi đám đông dọa dẫm dỡ khán đài, rầm rộ biểu tình và đòi tổng sỉ vả, trừng phạt hai cầu thủ.
Từ đó, ta có thể nhận xét bản chất của đám đông trong xã hội bấy giờ là một khối người hỗn độn, mù quáng, dễ bị kích động và định hướng dư luận. Họ hoàn toàn thiếu năng lực tư duy độc lập, không có chính kiến rõ ràng hay sự thấu suốt về sự việc, mà chỉ hành động theo tâm lý bầy đàn, dễ dàng chuyển từ trạng thái tôn sùng sang thù ghét một cách cực đoan.
Câu 4:
Việc Xuân tóc đỏ cứu quốc thực chất là một màn kịch lừa đảo vô tiền khoáng hậu do chính Xuân dàn dựng phối hợp với ban tổ chức. Khi trận đấu sắp kết thúc với nguy cơ vua Xiêm bị thua (gây rạn nứt ngoại giao), Xuân tóc đỏ đã nhảy vào sân, dùng quyền tổng trọng tài để bắt Hải và Thụ phải thua cuộc nhằm giữ thể diện cho nước bạn. Khi công chúng nổi loạn vì bất bình, Xuân đã leo lên vòi phun nước, hùng hồn diễn thuyết tự nhận mình hy sinh danh tiếng cá nhân để cứu vãn hòa bình và nền an ninh quốc gia, tránh một cuộc chiến tranh với nước Xiêm.
Qua đoạn trích, nhân vật Xuân tóc đỏ hiện lên là một kẻ cơ hội, lưu manh nhưng cực kỳ láu cá, tinh ranh và có tài hùng biện thiên bẩm. Hắn thấu hiểu sâu sắc tâm lý nông cạn của đám đông và biết cách biến một tình huống nguy cấp, đáng xấu hổ thành cơ hội vàng để đánh bóng tên tuổi, tự biến mình từ một kẻ lừa đảo thành một bậc vĩ nhân, một vị anh hùng cứu quốc trong mắt xã hội thượng lưu lẫn bình dân phong kiến nửa mùa.
Cau5:
Thông qua nghệ thuật trào phúng sắc bén, Vũ Trọng Phụng đã thể hiện thái độ mỉa mai, châm biếm sâu sắc và khinh bỉ đối với toàn bộ xã hội đương thời. Tác giả phơi bày sự lố lăng, kệch cỡm của một xã hội thực dân nửa phong kiến Âu hóa rởm đời, nơi mà những giá trị thật giả bị đảo lộn hoàn toàn. Nhà văn vạch trần bộ mặt của giới thượng lưu ngu dốt, hợm hĩnh cùng chính quyền bù nhìn coi việc thể thao như trò đùa chính trị, đồng thời chế giễu đám đông quần chúng u mê, dễ dãi khi biến một tên lưu manh vô học như Xuân tóc đỏ thành biểu tượng của quốc gia. Đó là cái nhìn đầy phẫn uất và đau xót của một nhà văn hiện thực trước sự xuống cấp trầm trọng về đạo đức và văn hóa của xã hội bấy giờ.
Câu 1
Trong đoạn trích của tiểu thuyết Sống mòn, nhân vật Thứ hiện lên như một bức chân dung chân thực và đau đớn về người trí thức tiểu tư sản nghèo trước Cách mạng. Nam Cao đã xuất sắc lột tả tấn bi kịch tinh thần của Thứ khi phải đối mặt với thực tế nghiệt ngã: ước mơ vĩ nhân thời trẻ tuổi hoàn toàn sụp đổ, thay thế bằng nguy cơ phải ăn bám vợ và chết mòn ở một xó nhà quê. Giá trị của nhân vật Thứ nằm ở ý thức sống cao độ. Thứ không vô cảm; chàng biết nghẹn ngào, biết uất ức và cảm thấy nhục nhã khi chứng kiến bản thân đang mốc lên, gỉ đi hằng ngày. Nỗi đau ấy chứng minh Thứ vẫn là một con người có thiên lương, có khát vọng sống chân chính. Tuy nhiên, Thứ cũng mang nhược điểm chí mạng của tầng lớp mình, đó là sự sa sút về ý chí và sự bất lực trước hoàn cảnh. Dù nung nấu ý định phản kháng, muốn bất cần tất cả, nhưng cuối cùng Thứ lại chọn cách buông xuôi, tự nhận bản thân nhu nhược, hèn yếu và phó mặc cho con tàu mang đi. Qua nhân vật Thứ, nhà văn không chỉ cảm thương cho số phận người trí thức mà còn nghiêm khắc giải phẫu căn bệnh sầu não, thiếu dũng khí của họ, từ đó gián tiếp lên án xã hội cũ đã bóp nghẹt mọi ước mơ chính đáng của con người.
Cau2:
Hành trình trưởng thành của mỗi con người, đặc biệt là trong giai đoạn thanh xuân, luôn gắn liền với những hoài bão. Bàn về mối quan hệ giữa thời gian và khát vọng, nhà văn Gabriel Garcia Marquez từng để lại một nhận định đầy triết lý: Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ. Câu nói này đã mang đến một góc nhìn hoàn toàn mới mẻ và sâu sắc về tuổi trẻ, tuổi già và vai trò quyết định của ước mơ đối với cuộc sống con người.
Thông thường, người ta hay nghĩ rằng tuổi già là quy luật sinh học tất yếu của thời gian, khi tóc bạc, da mồi thì sức khỏe và ý chí cũng tự khắc suy giảm, khiến con người phải từ bỏ những hoài bão thời trẻ. Thế nhưng, Marquez đã đảo ngược logic đó để khẳng định một sự thật tâm lý: sự già nua thực sự của một con người không bắt đầu từ những nếp nhăn trên khuôn mặt, mà bắt đầu từ khoảnh khắc tâm hồn họ lụi tàn lửa ước mơ. Ước mơ chính là mục đích, là lý tưởng, là ngọn hải đăng dẫn đường cho mọi hành động. Khi còn ước mơ, con người còn động lực để cống hiến, còn khao khát khám phá và tràn đầy nhựa sống. Ngược lại, khi một người dửng dưng với tương lai, bằng lòng với cuộc sống quẩn quanh và không còn mong muốn thay đổi, thì dù đang ở độ tuổi đôi mươi, họ cũng đã mang một tâm hồn già cỗi, héo úa.
Đối với tuổi trẻ, ước mơ lại càng có ý nghĩa sống còn. Tuổi trẻ là khoảng thời gian con người có nhiều năng lượng nhất, ít bị ràng buộc bởi những định kiến nhất và có quyền được thử thách, được vấp ngã. Ước mơ của tuổi trẻ giống như đôi cánh giúp họ bay cao, vượt qua những giới hạn chật hẹp của hoàn cảnh để vươn tới những tầm cao mới. Nhìn vào nhân vật Thứ trong tác phẩm Sống mòn của Nam Cao, chúng ta thấy một bi kịch đau đớn khi một thanh niên có học thức lại để cho gánh nặng cơm áo làm thui chột đi ước mơ vĩ nhân, để rồi tự nhận thấy mình đang mốc lên, gỉ đi và già nua trong một kiếp sống mòn mỏi. Đó là minh chứng rõ nhất cho việc ngừng mơ ước sẽ biến tuổi trẻ thành một chuỗi ngày tù đày, tẻ nhạt.
Ngược lại, trong thực tế cuộc sống, có biết bao nhiêu con người dù tuổi tác đã cao nhưng tâm hồn họ vẫn mãi là tuổi trẻ bởi họ chưa bao giờ ngừng cống hiến và theo đuổi đam mê. Những nhà khoa học dành cả đời trong phòng thí nghiệm, những người nghệ sĩ miệt mài sáng tạo đến hơi thở cuối cùng chính là những người đã chiến thắng được thời gian nhờ sức mạnh của ước mơ.
Tuy nhiên, tuổi trẻ cũng cần tỉnh táo để phân biệt giữa ước mơ chân chính với những ảo tưởng xa rời thực tế. Một ước mơ có giá trị phải là ước mơ đi kèm với hành động nỗ lực, sự kiên trì và lòng dũng khí để đối mặt với thất bại, chứ không phải là những mộng tưởng hão huyền rồi dễ dàng buông xuôi khi gặp khó khăn.
Tóm lại, nhận định của Gabriel Garcia Marquez là một thông điệp vô giá dành cho thế hệ trẻ. Thời gian có thể làm thay đổi vóc dáng, diện mạo của chúng ta, nhưng chính thái độ sống và những ước mơ mới là thứ quyết định độ tuổi của tâm hồn. Hãy luôn nuôi dưỡng và chiến đấu cho những ước mơ của mình, bởi đó là cách duy nhất để giữ cho thanh xuân của mỗi người trở nên bất tử.
Câu 1.định điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản.:
Điểm nhìn của người kể chuyện trong văn bản là điểm nhìn ngôi thứ ba nhưng được đặt vào bên trong nhân vật Thứ (điểm nhìn hạn tri/nếm trải). Người kể chuyện không đứng ngoài quan sát một cách khách quan hoàn toàn mà thấu suốt, hòa nhập vào dòng suy nghĩ, tâm tư, những dằn vặt và cảm xúc uất ức của nhân vật Thứ để dẫn dắt câu chuyện.
Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ khi ngồi trên ghế nhà trường là:
Khi còn ngồi trên ghế nhà trường, nhân vật Thứ có những ước mơ vô cùng cao xa và bay bổng. Thứ mong muốn sau khi đỗ đạt sẽ vào đại học đường, sang Tây, trở thành một vĩ nhân đem những sự thay đổi lớn lao đến cho xứ sở của mình, chứ không bao giờ thèm mong sau này làm một ông phán tầm thường, mắt cận thị và lưng gù, tháng tháng lĩnh lương về nuôi vợ nuôi con.
Câu 3.
Trong đoạn trích trên, tác giả đã sử dụng rất thành công biện pháp tu từ liệt kê thông qua chuỗi hành động và trạng thái: mốc lên, gỉ đi, mòn, mục ra.
Tác dụng của biện pháp này là cụ thể hóa, hình tượng hóa sự tàn phá của hoàn cảnh nghèo đói đối với đời sống con người. Các động từ biến đổi theo chiều hướng tăng tiến từ mốc, gỉ đến mòn, mục không chỉ diễn tả sự lụi tàn về mặt thể xác mà còn lột tả sâu sắc sự thối rữa, tha hóa về mặt tâm hồn, trí tuệ của người trí thức khi bị gánh nặng cơm áo ghì sát đất. Qua đó, biện pháp tu từ giúp người đọc cảm nhận được nỗi đau đớn, uất ức và tuyệt vọng tột cùng của nhân vật Thứ trước nguy cơ bị cuộc đời vô nghĩa nuốt chửng.
Câu 4. Nhận xét về cuộc sống và con người của nhân vật Thứ được thể hiện trong đoạn trích:
Qua đoạn trích, cuộc sống của nhân vật Thứ hiện lên là một bi kịch điển hình của người trí thức tiểu tư sản nghèo trong xã hội cũ: một cuộc sống bế tắc, tù túng, quẩn quanh và kiệt quệ về cả vật chất lẫn tinh thần. Về con người, Thứ là một nhân vật mang tính bi kịch cao. Một mặt, Thứ là người có lý tưởng, có lòng tự trọng và ý thức sâu sắc về giá trị sự sống, biết nghẹn ngào, uất ức trước kiếp sống mòn vô nghĩa. Mặt khác, Thứ lại là một con người nhược tiểu, bất lực và hèn yếu. Dù rất muốn nổi loạn, muốn đi liều để chống lại hoàn cảnh, nhưng cuối cùng Thứ vẫn buông xuôi, chấp nhận đầu hàng và để mặc cho con tàu định mệnh mang đi, quay về với kiếp sống mà chính mình khinh ghét.
Câu 5. suy nghĩ của em về một triết lí nhân sinh được rút ra từ văn bản:
Một triết lý nhân sinh sâu sắc được rút ra từ văn bản là câu văn: Sống tức là thay đổi. Triết lý này khẳng định bản chất thực sự của sự sống không phải là sự tồn tại sinh học thuần túy, phẳng lặng và bất biến, mà phải là quá trình vận động, phát triển, dám bứt phá ra khỏi những thói quen cũ kỹ và nỗi sợ hãi để vươn tới những giá trị tốt đẹp hơn. Nếu một con người sống mà chỉ biết cắm cúi kéo cày, chịu roi như một con trâu, sợ hãi sự đổi thay và sợ hãi những cái gì chưa tới, thì cuộc đời họ chỉ là một sự tồn tại mòn mỏi, một đời tù đày không hơn không kém. Câu văn là lời nhắc nhở con người phải luôn có dũng khí đối mặt với thử thách để làm mới bản thân và làm chủ cuộc đời mình.
Cau1:
Trong đoạn trích của vở kịch, nhân vật Hăm-lét hiện lên là một con người vô cùng mưu trí, dũng cảm nhưng cũng mang một thế giới nội tâm đầy phức tạp và giằng xé. Sự mưu trí của chàng được thể hiện rõ qua việc dàn dựng vở kịch nhỏ mang tên Cái bẫy chuột. Đây là một phép thử tâm lý xuất sắc, buộc vua Clô-đi-út phải tự lộ diện tội ác giết anh đoạt ngôi mà không thể chối cãi. Đằng sau vẻ ngoài giả điên giả dại là một cái đầu lạnh, luôn khát khao tìm kiếm sự thật và thực thi công lý. Bên cạnh đó, đoạn trích còn lột tả sâu sắc chiều sâu nhân văn trong tâm hồn Hăm-lét qua lời độc thoại nội tâm trước khi gặp mẹ. Dù trong lòng tràn ngập sự căm hận, phẫn nộ và nung nấu ý chí trả thù, Hăm-lét vẫn giữ được sự tỉnh táo và sợi dây đạo đức cuối cùng. Chàng tự răn đe bản thân không được phép trở thành một kẻ tàn bạo, độc ác như bạo chúa Nê-rông. Chàng chọn cách dùng lời nói sắc bén như dao cắt để thức tỉnh lương tri của mẹ chứ quyết không dùng bạo lực vũ lực. Qua đó, Hăm-lét không chỉ là một anh hùng phục hận mà còn là biểu tượng cho bi kịch của một trí thức kiên trì bảo vệ phần nhân tính giữa một xã hội đầy rẫy sự thối nát và tội ác.
Cau2:
Cuộc sống là một bức tranh đa sắc màu, nơi cái thiện và cái ác luôn song hành, đấu tranh lẫn nhau. Trước cái ác, con người có nhiều cách ứng xử khác nhau, nhưng đáng sợ nhất có lẽ chính là sự thờ ơ. Thấu hiểu điều đó, nhà hoạt động nhân quyền Martin Luther King từng nhận định: Con người sinh ra không phải để làm ác, nhưng sự im lặng trước cái ác cũng là một tội ác. Câu nói này là một lời cảnh tỉnh sâu sắc về trách nhiệm đạo đức của mỗi cá nhân đối với cộng đồng.
Về vế đầu của nhận định, con người sinh ra không phải để làm ác khẳng định bản chất nguyên sơ của nhân loại vốn hướng thiện, đúng như câu nói của cổ nhân nhân chi sơ tính bản thiện. Không ai vừa sinh ra đã mang sẵn dòng máu độc ác, mà sự tàn nhẫn thường là hệ quả của môi trường sống, sự giáo dục sai lệch hoặc những va vấp, cám dỗ trong đời. Tuy nhiên, vế sau của câu nói mới thực sự là trọng tâm đáng suy ngẫm: sự im lặng trước cái ác cũng là một tội ác. Im lặng ở đây là thái độ dửng dưng, thờ ơ, thấy điều sai trái nhưng không dám lên tiếng phản đối, thấy người bị hại nhưng quay lưng bỏ đi vì sợ liên lụy đến bản thân. Sự im lặng này vô tình trở thành một tấm khiên che chắn, tạo điều kiện và dung túng cho cái ác tiếp tục lộng hành và nhân rộng.
Tại sao sự im lặng lại được coi là một tội ác? Bởi vì khi chúng ta chọn cách im lặng trước một hành vi bất công, chúng ta đã ngầm đồng ý với hành vi đó. Sự im lặng làm giảm đi sức mạnh của công lý và làm suy yếu những giá trị đạo đức tốt đẹp trong xã hội. Thử tưởng tượng một môi trường học đường nơi bạo lực diễn ra mà bạn bè xung quanh chỉ đứng nhìn hoặc quay phim mà không vào can ngăn, cái ác lúc đó sẽ tự đắc vì nghĩ mình quyền lực, còn nạn nhân sẽ hoàn toàn suy sụp vì sự cô độc. Sự vô cảm, ích kỷ của số đông đôi khi còn gây ra tính sát thương lớn hơn cả hành động của kẻ thủ ác, vì nó giết chết niềm tin của con người vào tình yêu thương và lẽ phải.
Trong lịch sử và cả trong cuộc sống hiện đại, có biết bao nhiêu bi kịch xảy ra không phải vì số lượng những kẻ làm ác quá nhiều, mà vì sự im lặng đáng sợ của những người tử tế. Khi con người chỉ biết vun vén cho sự an toàn của riêng mình, xã hội sẽ dần biến thành một sa mạc hoang vu của lòng người.
Dù vậy, chúng ta cũng cần hiểu rằng lên tiếng chống lại cái ác không đồng nghĩa với việc hành động liều lĩnh, mù quáng dẫn đến nguy hiểm cho bản thân. Lên tiếng cần đi đôi với sự thông minh, tỉnh táo, tìm kiếm sự trợ giúp từ những người có thẩm quyền hoặc các biện pháp an toàn để bảo vệ lẽ phải một cách hiệu quả nhất.
Tóm lại, câu nói của Martin Luther King là một bài học vô giá về lối sống có trách nhiệm. Con người không chỉ cần giữ cho bản thân không làm điều ác, mà còn phải có dũng khí để bảo vệ cái thiện. Hãy nhớ rằng xã hội sẽ tốt đẹp hơn không phải khi cái ác biến mất hoàn toàn, mà là khi những người tử tế không còn chọn cách im lặng.
Cau1:Sự việc chính trong đoạn trích là hoàng tử Hăm-lét mượn một vở tuồng có tên là Cái bẫy chuột, diễn lại cảnh mưu sát tương tự như những gì Clô-đi-út đã làm với cha mình để thử phản ứng của nhà vua. Khi đến cảnh đổ thuốc độc vào tai để giết vua, vua Clô-đi-út hoảng loạn đứng dậy, đòi thắp đuốc và bỏ đi, khiến âm mưu tội ác của ông ta bị bại lộ trước sự chứng kiến của Hăm-lét và người bạn thân Hô-ra-xi-ô. Sau đó, Hăm-lét chuẩn bị tinh thần để vào phòng gặp mẹ mình là hoàng hậu.
Cau2:Văn bản có nhiều chỉ dẫn sân khấu được đặt trong dấu ngoặc đơn hoặc in nghiêng. Một ví dụ cụ thể về chỉ dẫn sân khấu là: Đổ thuốc độc vào tai vua đang ngủ. Ngoài ra còn có các chỉ dẫn khác như: Cả bọn vào, Một người giáo đầu ra, Vai Lu-xi-a-nút ra, Tất cả vào trừ Hăm-lét.
Cau3Xung đột kịch trong đoạn trích là xung đột sâu sắc giữa một bên là hoàng tử Hăm-lét, người đại diện cho công lý, sự thật và khát vọng trả thù cho cha, với một bên là vua Clô-đi-út, kẻ đại diện cho cái ác, sự gian hùng, kẻ đã giết anh trai để đoạt ngôi báu và lấy chị dâu. Xung đột này được đẩy lên cao trào thông qua phép thử từ vở kịch nhỏ bên trong vở kịch lớn, buộc kẻ thủ ác phải tự lộ diện qua phản ứng hoảng sợ
Cau4:Lời thoại cho thấy nội tâm của Hăm-lét đang ở trong trạng thái vô cùng dữ dội, giằng xé và đầy phẫn nộ. Sau khi xác thực được tội ác của chú ruột, tâm trí chàng ngập tràn bóng tối, sự căm hận và ý chí trả thù mãnh liệt, khiến chàng có những suy nghĩ cực đoan về việc có thể làm những hành động khủng khiếp. Tuy nhiên, bên trong sự cuồng nộ đó, Hăm-lét vẫn có sự tỉnh táo, lý trí và lòng nhân ái khi tự nhắc nhở bản thân phải kiềm chế, không được để linh hồn của một kẻ bạo ngược như Nê-rông nhập vào mình, đồng thời tự dặn lòng chỉ dùng lời nói nghiêm khắc để thức tỉnh mẹ chứ quyết không ra tay sát hại mẹ.
Cau5Nội dung văn bản gợi cho người đọc suy nghĩ sâu sắc về sức mạnh của công lý và sự thật trong cuộc sống. Cái ác và tội lỗi dù có được che giấu tinh vi đến đâu thì cuối cùng cũng sẽ bị ánh sáng của sự thật vạch trần bởi tòa án lương tâm và sự trừng phạt của công lý. Bên cạnh đó, nhân vật Hăm-lét cũng để lại bài học về cách ứng xử trước hận thù. Con người trong hành trình đi tìm công lý và đấu tranh chống lại cái ác cần phải giữ được sự tỉnh táo, lý trí và lòng nhân ái, không được phép để bản thân bị biến chất hay tha hóa trở thành một cái ác khác.
Cau1:
Đoạn trích trên, trích từ tác phẩm Thuyền và biển của Xuân Quỳnh, là một tiếng lòng đầy thổn thức, lo âu nhưng cũng vô cùng mãnh liệt của người phụ nữ khi yêu. Hai câu thơ đầu gợi lên những thử thách, bão tố trong tình yêu thông qua hình ảnh mang tính dự cảm về những ngày giông bão, trắc trở. Tình yêu không phải lúc nào cũng êm đềm, và người con gái trong bài thơ nhận thức rất rõ điều đó. Tuy nhiên, đỉnh điểm của cảm xúc được dồn nén trong lời cầu khẩn tha thiết: Đừng cho tôi bỏ thân chốn này, biển hỡi!. Tiếng gọi biển vừa là sự thú nhận về sự nhỏ bé, yếu mềm của cái tôi trữ tình trước đại dương bao la của tình yêu, vừa là khát vọng sống, khát vọng yêu cháy bỏng. Nhân vật trữ tình không sợ gian khổ, chỉ sợ phải gục ngã, phải đánh mất đi tình yêu đích thực của đời mình. Qua đó, đoạn trích không chỉ khắc họa một tâm hồn yêu chân thành, thủy chung mà còn thể hiện một cái nhìn đầy tính nhân văn về sự gắn kết, vượt qua mọi nghịch cảnh để bảo vệ hạnh phúc của nữ sĩ Xuân Quỳnh.
Cau2:
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, chúng ta đi qua rất nhiều nơi, gặp gỡ rất nhiều người và đón nhận nhiều thứ tình cảm khác nhau. Thế nhưng, có một thứ tình cảm vô cùng thiêng liêng, luôn là điểm tựa vững chắc nhất cho mỗi người, đó chính là tình thân. Tình thân là sợi dây gắn kết giữa những người có cùng máu mủ, ruột già, hoặc là sự gắn bó sâu sắc giữa những người sống chung dưới một mái nhà như ông bà, cha mẹ, anh chị em. Đây là món quà vô giá mà mỗi người có được ngay từ khi chào đời.
Trước hết, tình thân là cái nôi nuôi dưỡng và hình thành nên nhân cách của mỗi con người. Từ dòng sữa mẹ, lời ru của bà cho đến những lời dạy bảo nghiêm khắc của cha, tất cả đều là những viên gạch đầu tiên xây dựng nên tâm hồn và đạo đức của một đứa trẻ. Gia đình chính là trường học đầu tiên, nơi chúng ta học cách yêu thương, sẻ chia và vị tha. Một đứa trẻ lớn lên trong vòng tay ấm áp của tình thân sẽ biết cách sống nhân hậu và biết quan tâm đến mọi người xung quanh.
Không chỉ vậy, tình thân còn là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất trước những giông bão của cuộc đời. Cuộc sống ngoài kia vốn dĩ đầy rẫy những áp lực, cạnh tranh và cả những thất bại. Khi chúng ta mệt mỏi hay vấp ngã, thế giới bên ngoài có thể quay lưng, nhưng gia đình thì không. Nhà luôn là nơi giang rộng vòng tay đón ta trở về mà không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì. Sự thấu hiểu, động viên và chở che của những người thân yêu chính là nguồn động lực to lớn giúp chúng ta vực dậy tinh thần, tiếp thêm sức mạnh để tiếp tục bước đi trên con đường đời đầy chông gai.
Bên cạnh đó, tình thân đem lại cho con người hạnh phúc đích thực và cảm giác an toàn. Những bữa cơm gia đình đầm ấm, những lời hỏi han ân cần sau một ngày làm việc vất vả tuy giản dị nhưng lại có giá trị hơn mọi thứ của cải vật chất trên đời. Nó giúp chúng ta nhận ra rằng bản thân luôn có một vị trí quan trọng đối với ai đó, từ đó xua tan đi sự cô đơn trong xã hội hiện đại.
Tuy nhiên, trong cuộc sống ngày nay, vẫn có những người chạy theo lối sống thực dụng, mải mê tìm kiếm danh vọng, tiền tài mà lãng quên đi gia đình. Có những người sẵn sàng vì lợi ích cá nhân mà rạn nứt tình cảm anh em, hay bỏ rơi cha mẹ khi già yếu. Đó là những biểu hiện đáng lên án và cần phải thay đổi.
Tóm lại, tình thân có giá trị vô cùng to lớn và không thể thay thế. Để gìn giữ thứ tình cảm thiêng liêng này, mỗi chúng ta cần phải biết trân trọng, yêu thương và dành thời gian quan tâm đến những người thân yêu từ những hành động nhỏ nhất hằng ngày. Bởi vì suy cho cùng, vinh hoa phú quý rồi cũng có thể tan biến, chỉ có tình thân là còn mãi với thời gian.
Cau1:Người kể trong văn bản là người kể chuyện ở ngôi thứ nhất, trực tiếp xuất hiện qua các đại từ nhân xưng như “Tôi”,”ta”
Cau2: Hình ảnh "biển" hiện ra vô cùng dữ dội,mênh mông
Câu 3: Văn bản thể hiện hành trình vượt qua muôn và nỗi khổ, nguy hiểm nơi biển khơi của con người để hướng về bến bờ bình an, sống sót
Cau4: Rán: Ghềnh nước hoặc những khúc sông, suối nước chảy xiết, vực sâu nguy hiểm..., các "rán nước" (từ rán thứ sáu đến rán thứ mười hai) là biểu tượng cho:
-những chặng đường gian nan, thử thách hiểm nghèonối tiếp nhau mà con người bắt buộc phải đối mặt và vượt qua trong cuộc sống.
-ranh giới mẫu mã giữa sống và cái chết đại diện cho những tai ương, hoạn nạn mang tính chất thử thách lòng dũng cảm và ý chí kiên trì của con người.
Câu5:
-âm thanh của tự nhiên, biển cả: Tiếng nước biển "sôi gầm réo".
âm thanh của con người :Tiếng kêu cầu, van xin thảm thiết, bất lực của nhân vật trữ tình trước làn nước dữ ("Biển ơi, đừng giết tôi", "Nước hỡi, đừng lôi lấy thuyền").
cảm xúc gợi ra cho người đọc là:Cảm giác lo sợ, hãi hùng, căng thẳng, trước sự cuồng nộ, lấn lướt của thiên nhiên, cõi âm ty.
• Lòng đồng cảm, xót thương sâu sắc cho số phận nhỏ bé, mỏng manh của con người khi phải đối diện với lằn ranh sinh tử.
• Sự khâm phục ngầm ẩn khi dẫu trong tiếng kêu khóc đầy bất lực ấy, con người vẫn không buông xuôi mà vẫn tiếp tục chèo chống để vượt qua ghềnh thác.