Nguyễn Khánh Duy
Giới thiệu về bản thân
- Phương pháp: Đây là phương pháp thụ phấn nhân tạo (hay thụ phấn bổ sung) do con người thực hiện.
- Ý nghĩa: Phương pháp này giúp tăng khả năng thụ phấn, thụ tinh để tạo quả và hạt, từ đó nâng cao năng suất cây trồng. Nó đặc biệt hữu ích khi quá trình thụ phấn tự nhiên (nhờ gió, côn trùng) gặp khó khăn.
- Trả lời: Có thể, người nông dân thường áp dụng phương pháp này cho lúa, đặc biệt là trong sản xuất lúa giống hoặc lúa lai.
- Vì sao?
- Cây lúa là cây tự thụ phấn nhờ gió là chính. Tuy nhiên, trong những điều kiện thời tiết không thuận lợi (ít gió, mưa nhiều) hoặc khi muốn tạo ra các giống lúa lai, người ta dùng cách gạt phấn(dùng dây thừng hoặc sào gạt trên bông lúa) để hạt phấn rơi vào đầu nhụy đều hơn.
- Việc này giúp giảm tỷ lệ hạt lép, đảm bảo bông lúa chắc hạt và đồng đều.
- Vật chất di truyền: Có sự truyền đạt DNA (vật chất di truyền) từ thế hệ bố mẹ sang thế hệ con.
- Hình thành cá thể mới: Tạo ra cá thể mới có đặc điểm giống bố mẹ (sinh sản vô tính) hoặc tổ hợp đặc điểm của bố mẹ (sinh sản hữu tính).
- Sự điều hòa: Quá trình sinh sản chịu sự điều khiển của hệ nội tiết (hormone) và các yếu tố môi trường.
Khái niệm
Tạo ra cá thể mới từ một phần của cơ thể mẹ.
Có sự kết hợp giữa giao tử đực và giao tử cái tạo thành hợp tử.
Cơ sở tế bào học
Dựa trên quá trình nguyên phân.
Dựa trên quá trình giảm phân và thụ tinh.
Số lượng bố mẹ
Chỉ cần 1 cá thể gốc.
Thường cần 2 cá thể (đực và cái).
Đặc điểm di truyền
Con sinh ra giống hệt mẹ và giống hệt nhau.
Con sinh ra có biến dị, mang đặc điểm của cả bố và mẹ.
Ý nghĩa
Giúp duy trì nhanh các đặc tính tốt của loài trong môi trường ổn định.
Giúp sinh vật thích nghi tốt hơn với môi trường thay đổi nhờ sự đa dạng di truyền.
- Ví dụ: Người, chó, mèo, lợn, gà... (Con non sinh ra hoặc nở ra đã có hình dạng giống hệt bố mẹ, chỉ khác về kích thước và sự hoàn thiện của các cơ quan).
- Biến thái hoàn toàn: Con non (ấu trùng) có hình dạng, cấu tạo và sinh lí rất khác với con trưởng thành.
- Ví dụ: Bướm (Sâu → Nhộng → Bướm), ếch (Nòng nọc → Ếch), muỗi...
- Biến thái không hoàn toàn: Con non có đặc điểm gần giống con trưởng thành nhưng chưa hoàn thiện (phải trải qua nhiều lần lột xác để trở thành con trưởng thành).
- Ví dụ: Châu chấu, gián, tôm, cua...
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này, cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động của vi khuẩn ngược lại vi khuẩn có vai trò cố định N2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất. Như vậy, việc chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó lại có tác dụng bổ sung và duy trì nitrogen trong đất.
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này, cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động của vi khuẩn ngược lại vi khuẩn có vai trò cố định N2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất. Như vậy, việc chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó lại có tác dụng bổ sung và duy trì nitrogen trong đất.
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này, cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động của vi khuẩn ngược lại vi khuẩn có vai trò cố định N2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất. Như vậy, việc chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó lại có tác dụng bổ sung và duy trì nitrogen trong đất.
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này, cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động của vi khuẩn ngược lại vi khuẩn có vai trò cố định N2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất. Như vậy, việc chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó lại có tác dụng bổ sung và duy trì nitrogen trong đất.
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này, cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động của vi khuẩn ngược lại vi khuẩn có vai trò cố định N2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất. Như vậy, việc chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó lại có tác dụng bổ sung và duy trì nitrogen trong đất.
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này, cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động của vi khuẩn ngược lại vi khuẩn có vai trò cố định N2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất. Như vậy, việc chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó lại có tác dụng bổ sung và duy trì nitrogen trong đất.
Trong rễ cây đậu nành có sự cộng sinh giữa rễ cây và vi khuẩn Rhizobium. Trong mối quan hệ cộng sinh này, cây cung cấp sản phẩm quang hợp cho đời sống và hoạt động của vi khuẩn ngược lại vi khuẩn có vai trò cố định N2 tự do từ không khí thành NH3 vừa cung cấp cho cây vừa cung cấp cho đất. Như vậy, việc chuyển sang trồng đậu nành trên mảnh đất đã trồng khoai trước đó lại có tác dụng bổ sung và duy trì nitrogen trong đất.