Nguyễn Linh Nhi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Nguyễn Linh Nhi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Trong hành trình trưởng thành của mỗi con người, giáo dục luôn đóng vai trò là ngọn hải đăng dẫn đường. Tuy nhiên, từ lâu trong xã hội vẫn tồn tại một cuộc tranh luận ngầm về việc đâu là giá trị cốt lõi cần ưu tiên cho học sinh. Có một quan điểm cho rằng: "Với học sinh, kỹ năng sống không quan trọng như trí thức". Cách tư duy này dường như đã bám rễ sâu vào tiềm thức của nhiều phụ huynh và nhà giáo dục theo lối mòn cũ. Nhưng nếu nhìn vào thực tế khốc liệt của thế kỷ XXI, ta sẽ thấy đây là một quan niệm lệch lạc, gây cản trở sự phát triển toàn diện của thế hệ trẻ. Tôi hoàn toàn phản đối quan điểm này. Trước hết, chúng ta cần hiểu rõ bản chất của hai khái niệm này. Trí thức là hệ thống những hiểu biết, lý thuyết về tự nhiên và xã hội mà học sinh tiếp thu qua sách vở, trường lớp. Đó là những công thức toán học, những mốc son lịch sử hay những định luật vật lý. Trong khi đó, kỹ năng sống là khả năng thích nghi, cách chúng ta đối nhân xử thế, giải quyết vấn đề, quản lý cảm xúc và làm việc tập thể. Trí thức cung cấp cho ta cái "biết", còn kỹ năng sống dạy ta cái "làm". Nếu ví trí thức là phần cứng của một chiếc máy tính thì kỹ năng sống chính là phần mềm điều hành. Một chiếc máy có cấu hình mạnh đến đâu mà không có phần mềm tương thích thì cũng chỉ là một khối sắt vô dụng. Tại sao quan điểm xem nhẹ kỹ năng sống lại nguy hiểm? Bởi nó tạo ra những "người thừa tài năng nhưng thiếu bản lĩnh". Thực tế đã chứng minh, có rất nhiều học sinh sở hữu bảng điểm "vàng", thuộc lòng mọi lý thuyết nhưng khi bước ra khỏi cổng trường lại trở nên ngơ ngác trước cuộc đời. Họ không biết cách thuyết phục một cộng sự, không biết cách đối phó với những áp lực tâm lý và thậm chí không biết cách chăm sóc bản thân khi xa gia đình. Một học sinh giỏi toán có thể tính được quỹ đạo của một hành tinh, nhưng nếu thiếu kỹ năng giao tiếp và thấu cảm, họ sẽ không bao giờ kết nối được với những con người xung quanh mình. Khi đó, trí thức dù cao siêu đến mấy cũng chỉ là những "ốc đảo" cô độc. Hơn thế nữa, trong thị trường lao động hiện đại, trí thức chỉ là điều kiện cần, còn kỹ năng sống mới là điều kiện đủ. Các tập đoàn lớn hiện nay khi tuyển dụng không chỉ nhìn vào tấm bằng đại học loại xuất sắc. Họ tìm kiếm những ứng viên có tư duy phản biện, khả năng chịu đựng áp lực và kỹ năng làm việc nhóm. Một nghiên cứu của Đại học Harvard từng chỉ ra rằng: 85% sự thành công của một người trong công việc đến từ các kỹ năng mềm (kỹ năng sống), và chỉ có 15% đến từ kiến thức chuyên môn. Như vậy, việc coi nhẹ kỹ năng sống chẳng khác nào chúng ta đang tước đi 85% cơ hội thành công của học sinh trong tương lai. Chúng ta cũng cần nhìn nhận kỹ năng sống như một "tấm khiên" bảo vệ học sinh trước những tệ nạn và cạm bẫy xã hội. Trí thức có thể giúp bạn nhận biết đâu là đúng, đâu là sai trên lý thuyết, nhưng chính kỹ năng từ chối, kỹ năng bảo vệ bản thân mới giúp bạn không sa ngã trước sự lôi kéo của cái xấu. Một học sinh hiểu rõ về tác hại của ma túy (trí thức) nhưng thiếu bản lĩnh để nói "không" trước sự khích bác của bạn bè (kỹ năng) thì kiến thức đó vẫn không thể bảo vệ được họ. Tuy nhiên, khi phản đối quan điểm trên, chúng ta cũng cần tỉnh táo để không rơi vào cực đoan ngược lại – tức là coi thường việc học kiến thức. Trí thức là nền tảng, là bệ phóng. Nếu không có kiến thức, kỹ năng sống sẽ trở nên sáo rỗng và thiếu đi chiều sâu văn hóa. Một người khéo léo trong giao tiếp nhưng rỗng tuếch về kiến thức sẽ chỉ là một kẻ "khéo miệng" chứ không thể trở thành một nhà lãnh đạo có tầm nhìn. Mối quan hệ giữa trí thức và kỹ năng sống là mối quan hệ cộng sinh, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Để thay đổi quan niệm này, cần có sự phối hợp từ nhiều phía. Nhà trường không nên chỉ chạy theo thành tích điểm số mà cần lồng ghép các bài học thực tiễn, các buổi ngoại khóa rèn luyện kỹ năng. Phụ huynh nên bớt áp lực về thứ hạng, thay vào đó hãy khuyến khích con em mình tham gia các hoạt động xã hội, học cách tự lập và chịu trách nhiệm với những quyết định của mình. Quan trọng nhất, chính bản thân học sinh cần ý thức được rằng: học không chỉ là để thi, mà học là để sống và cống hiến. Tóm lại, quan điểm cho rằng kỹ năng sống không quan trọng bằng trí thức là một cái nhìn một chiều và lạc hậu. Trong bối cảnh thế giới phẳng, kiến thức có thể tra cứu chỉ sau một cú nhấp chuột trên Google, nhưng kỹ năng sống thì phải trải qua rèn luyện, va vấp mới có được. Hãy ngừng việc cân đo đong đếm xem cái nào quan trọng hơn, mà hãy học cách kết hợp chúng lại một cách hoàn hảo. Chỉ khi sở hữu cả trí thức vững chắc và kỹ năng sống thuần thục, học sinh mới thực sự trở thành những công dân toàn cầu, đủ sức mạnh để làm chủ cuộc đời mình và đóng góp cho xã hội.

Câu 1:

Dựa trên nội dung đoạn trích, dưới đây là câu trả lời cho Câu 1: Văn bản tập trung bàn về tầm quan trọng và giá trị của lòng kiên trì trong cuộc sống. Bên cạnh đó, nội dung văn bản còn làm rõ các khía cạnh sau: Vai trò kiên trì Là cầu nối để thực hiện lý tưởng, là bệ phóng và nấc thang dẫn đến thành công.Sức mạnh vượt qua nghịch cảnh: Giúp con người tiếp tục nỗ lực, vượt qua những trở ngại, thất bại và thách thức lớn.Dẫn chứng thực tế: Lấy câu chuyện của Thomas Edison làm minh chứng cho việc kiên trì thử nghiệm để đạt được thành tựu vĩ đại.Lời khuyên hành động: Cần biết tự động viên, ghi nhận những tiến bộ nhỏ và không ngừng nỗ lực để duy trì động lực hướng tới mục tiêu.

câu 2:

Câu văn: "Kiên trì là cầu nối để thực hiện lí tưởng, là bến phà và là nấc thang dẫn đến thành công."

câu 3:

a. Phép nối: Sử dụng quan hệ từ "Tuy nhiên" để nối câu 1 và câu 2.

b. Phép thế: Cụm từ "đạt đến mục tiêu của mình" (ở câu 2) thay thế/lặp lại ý tưởng về kết quả của sự kiên trì đã nêu ở câu trước.

câu 4:

Tác dụng: Trực tiếp giới thiệu vấn đề (lòng kiên trì), giúp người đọc dễ dàng nắm bắt chủ đề ngay từ đầu. Đồng thời, nó tạo tiền đề để triển khai các luận điểm phân tích về vai trò của kiên trì ở các đoạn sau.

Câu 5:

Nhận xét: Tác giả sử dụng bằng chứng về Thomas Edison – một nhân vật nổi tiếng thế giới. Đây là bằng chứng tiêu biểu, xác thực và giàu sức thuyết phục. Nó minh chứng sống động cho việc thất bại không phải là dấu chấm hết mà là bước đệm nếu có lòng kiên trì.

câu 6:

Trong hành trình học tập, tôi đã thấm thía sâu sắc rằng sự kiên trì chính là chìa khóa để vượt qua mọi rào cản. Có thời điểm, tôi từng cảm thấy vô cùng bế tắc với môn Tiếng Anh và đã có ý định từ bỏ vì rào cản từ vựng quá lớn. Tuy nhiên, thay vì dừng lại, tôi quyết tâm mỗi ngày chỉ học đúng năm từ mới và kiên trì rèn luyện không nghỉ ngày nào. Sau ba tháng nhìn lại, tôi kinh ngạc khi thấy vốn từ của mình đã tăng lên đáng kể và tôi không còn sợ hãi mỗi khi mở sách giáo khoa ra nữa. Chính trải nghiệm này đã chứng minh ý kiến của tác giả là hoàn toàn đúng đắn: nếu giữ vững lòng kiên trì, chúng ta sẽ đủ sức mạnh để vượt qua những trở ngại khó khăn nhất. Chỉ cần không bỏ cuộc, mục tiêu dù xa đến đâu cũng sẽ nằm trong tầm tay của chúng ta.




a) Tam giác ABC cân tại A nên:

AB = AC

BD là phân giác góc B

nên: \(\hat{ABD}=\hat{DBF}\)

Tam giác BAF cân tại B nên: BA = BF

có BD là cạnh chung.

Suy ra: tam giác BAD = tam giác BFD

b)Từ câu a có: AD = DF

Tam giác BDE cân tại B nên: BD = BE

Xét hai tam giác BDDBEF suy ra: DE = DF

Vậy tam giác DEF cân tại D.

Gọi số máy cày của ba đội lần lượt là: a,b,c (a,b,c\(\in\) N*)

ta có: b - C = 5 .

Vì cùng cày ba cánh cánh đồng có cùng diện tích nên số máy cày và số thời gian làm sẽ tỉ lệ nghịch với nhau:

\(5a=6b=8c\)

-> \(\frac{a}{24}=\frac{b}{20}=\frac{c}{15}\)

Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau:

\(\frac{a}{24}=\frac{b}{20}=\frac{c}{15}\) \(\frac{b-c}{20-15}=1\)

suy ra: a= 5

b= 6

c= 8

Vậy số máy cày của ba đội lần lượt là: 5 máy, 6 máy, 8 máy.

a) P(x) - Q(x) = \(-x^3-2x^2-2x+5\)

b) P(1) = \(1^3-3.1^{^2}+1+1=0\)

Q(1)= \(2.1^3-1^2+3.1-4=0\)

vậy x=1 là nghiệm của cả P(x) và Q(x)

a)\(\frac{x}{-4}=\frac{-11}{2}\)

2x = (-11). (-4)

2 X = 44

x = 22.

vậy x = 22.

b)\(\frac{15-x}{x+9}=\frac35\)

(15-X)5 = 3 (x+9)

75-5x = 3x + 27.

75 -27 = 3x+5x.

8 X= 48

x = 6

vậy x = 6.

Gọi số người trong mỗi đội lần lượt là: a,b,c (người) (a,b,c \(\in\) N* )

ta có : b-c=5

Vì cùng một khối lượng công việc nên số người trong đội và số thời gian làm sẽ tỉ lệ nghịch với nhau: 2a=3b=4c

\(\frac{a}{6}=\) \(\frac{b}{4}\) \(=\frac{c}{3}\)

Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau : \(\frac{a}{6}=\) \(\frac{b}{4}\) \(=\frac{c}{3}\) = \(\frac{b-c}{4-3}\) =5

suy ra a = 5.6 = 30

b = 5.4 = 20

c = 5.3 = 15

Vậy số người của đội 1, đội 2, đội 3 lần lượt là:30 người, 20 người, 15 người.

a)Nối A và H, giao điểm của BD và AH là: O

Xét tam giác ABH có : \[\hat{HBO}=\hat{OBA}\] \(\rarr\) tam giác HBA cân tại B

\(\rarr\) BA=BH

mà BH<BC ( vì H \(\in\) BC )

nên BA<BC

b) Tam giác ABD và tam giác HBD là hai tam giác vuông có :

cạnh huyền BD chung

\(\hat{ABD}=\hat{HBD}\)

Vậy tam giác ABD=tam giác HBD

\(\rarr\) DA=DH

c) Xét tam giác DHC, ta thấy:

\(\hat{DHC}\) là góc vuông \(\rarr\) DC>DH

mà DA=DH nên DC>DA

a) Gọi số đo các góc của tam giác ABC lần lượt là : a, b, c.

ta có: a+b+c=180

và a, b, c tỉ lệ với 2; 4; 6

nên : \(\frac{a}{2}=\frac{b}{4}=\frac{c}{6}\)

Áp dụng tính chất của dãy tỉ số bằng nhau:

\(\frac{a}{2}=\frac{b}{4}=\frac{c}{6}\) = \(\frac{a+b+c}{2+4+6}=\frac{180}{12}\) =15

suy ra : a= 15.2 = 30 độ

b= 15.4 = 60 độ

c= 15.6 = 90 độ

Vậy 3 góc có số đo lần lượt là : 30 độ, 60 độ, 90 độ.

b) Ta thấy : \(\hat{C}\) >\(\hat{B}\) >\(\hat{A}\)

nên BC<AC<AB.

a) k=\(\frac{-4}{5}\)

b) y=\(\frac{-4}{5}\) x

c) x = -10 \(\rarr\) y =\(\frac{-4}{5}\) (-10) =8

x = 2 \(\rarr\) y =\(\frac{-4}{5}\) .2 = \(\frac{-8}{5}\)