Hoàng Anh Tâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Hoàng Anh Tâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng:
Thời gian: Năm 40 (sau Công nguyên).
Người lãnh đạo: Trưng Trắc, Trưng Nhị (Hai Bà Trưng).

  Khởi nghĩa Bà Triệu:
Thời gian: Năm 248.
Người lãnh đạo: Bà Triệu (Triệu Thị Trinh).

  Khởi nghĩa Lý Bí (và nhà Tiền Lý):
Thời gian: Năm 542.
Người lãnh đạo: Lý Bí.

  Khởi nghĩa Mai Thúc Loan:
Thời gian: Năm 713.
Người lãnh đạo: Mai Thúc Loan.

  Khởi nghĩa Phùng Hưng:
Thời gian: Khoảng năm 766-791.
Người lãnh đạo: Phùng Hưng.

Khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ:
Thời gian: Năm 905.
Người lãnh đạo: Khúc Thừa Dụ.

  Khởi nghĩa Dương Đình Nghệ:
Thời gian: Năm 931.
Người lãnh đạo: Dương Đình Nghệ.

  Chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền:
Thời gian: Năm 938.
Người lãnh đạo: Ngô Quyền.


Câu 2


- Biển Đông có vị trí quan trọng trong giao thông hàng hải quốc tế, tập trung các tuyến đường biển huyết mạch kết nối Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông - Đông Á.

+ Có 5 trong số 10 tuyến đường vận tải biển trọng yếu của thế giới liên quan đến Biển Đông.

+ Giao thông đường biển qua Biển Đông nhộn nhịp vào tháng thứ 2 thế giới, với nhiều tài có trọng tải trên 5000 tấn.

- Khu vực Biển Đông có nhiều eo biển quan trọng như: eo Đài Loan, Basi, Gaxpa, Kalimantan và đặc biệt là Malắcca.

a)

Nguyên nhân:

 Một số nội dung cải cách còn bộc lộ điểm hạn chế, không triệt để, gây ảnh hưởng đến khả năng thu phục và đoàn kết nhân dân.

 Công cuộc cải cách của Hồ Quý Ly được thực hiện trong hoàn cảnh đầy khó khăn và phức tạp của đất nước: vừa phải giải quyết cuộc khủng hoảng bên trong, vừa phải đối phó với nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, do đó, triều Hồ khó có khả năng tập trung mọi nguồn lực của đất nước để tiến hành cải cách.

 Các chính sách chưa triệt để, chưa phù hợp với tình hình thực tế và chưa được sự ủng hộ của nhân dân.

 b) 

Bài học:

 Muốn tồn tại và phát triển thì phải luôn có sự thay đổi để thích ứng với tình hình.

 Nội dung cải cách, đổi mới cần phù hợp với yêu cầu phát triển và điều kiện thực tiễn của đất nước.

 Tiến hành cải cách, đổi mới một cách quyết liệt, triệt để và toàn diện trong đó chú trọng đến đầu tư phát triển giáo dục, góp phần đào tạo nên những con người: yêu nước, có năng lực, bản lĩnh, tinh thần sáng tạo, ý chí quyết tâm, ham hành động,…

 Luôn chú trọng phát huy và không ngừng củng cố, nâng cao sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Câu 1:

- Đồng ý với ý kiến. 

- Giải thích: Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là thắng lợi oanh liệt, đánh dấu một mốc son trong lịch sử dân tộc Việt Nam và mở ra thời kì chiến tích huy hoàng của những cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới ách nô lệ của thực dân phong kiến phương Bắc. 

+ Cuộc khởi nghĩa của hai Bà là cuộc khởi nghĩa đầu tiên trong lịch sử Việt Nam do phụ nữ lãnh đạo.

+ Cuộc khởi nghĩa nổ ra làm chấn động cả cõi Nam.

+ Từ trong ngọn lửa của cuộc nổi dậy oanh liệt ấy tỏa ra chân lý lịch sử “Một dân tộc dù nhỏ bé nhưng tự mình đã dựng nên, làm chủ đất nước và số phận mình.

+ Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là sự kết tinh của cả một quá trình đấu tranh lâu dài, khi thì âm thầm, lúc thì lại công khai của nhân dân Việt Nam. Đây là một phong trào nổi dậy của toàn dân, vừa quy tụ vào cuộc khởi nghĩa ở Hát Môn do Hai Bà Trưng đề xướng, vừa tỏa rộng trên toàn miền Âu Lạc cũ.

+ Đây là cuộc khởi nghĩa chống sự cai trị của Trung Quốc đầu tiên của người Việt trong 1000 năm Bắc thuộc.

+ Hai Bà Trưng đã dựa vào nhân dân khôi phục lại sự nghiệp cũ của vua Hùng. Cuộc khởi nghĩa là sự phủ nhận hiên ngang cường quyền của các triều đại phương Bắc coi các dân tộc xung quanh là “Man Di” (“man tộc”, “man rợ” hay “mọi rợ”), thuộc quốc buộc phải phục tùng “thiên triều”, “thiên tử”, phủ nhận tư tưởng “tôn quân, đại thống nhất”.

+ Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng do phụ nữ là lãnh đạo khởi nghĩa, trong thế giới tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của đế chế Hán cổ đại, được xem là sự đối chọi quyết liệt về văn hóa, nếp sống, nếp tư duy của đôi bên Nam – Bắc, Việt – Hán. Vì vậy, việc Hai Bà Trưng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa phần nào đã giúp nâng cao vị thế của phụ nữ xưa trong xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.

Tục ngữ có câu: ” Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”. Quả đúng không sai, từ xa xưa, phụ nữ Việt Nam đã được Bác Hồ ngợi ca với 8 chữ vàng: ” Anh hùng – Bất khuất – Trung Hậu – Đảm Đang”. Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo là một trang sử vô cùng đẹp đẽ trong lịch sử dân tộc Việt Nam, nó làm rạng rỡ dân tộc ta nói chung và làm vẻ vang cho phụ nữ nói riêng. 


Câu 2




Trước sự đe dọa xâm lược của các nước phương Tây, Xiêm thực hiện chính sách cải cách kinh tế đặc biệt là chính sách mềm dẻo. Xiêm vừa lợi dung vị trí nước “đệm” giữa hai thế lực đế quốc Anh – Pháp vừa cắt nhượng một số vùng đất phụ thuộc (vốn là lãnh thổ của Cam-pu-chia, Lào, Mã Lai) để giữ gìn chủ quyền đất nước.


• Quá trình tái thiết và phats triển của các nước:

- Bru-nây:

+ Là một trong những nước có thu nhập đầu người vào hàng cao nhất thế giới nhờ có trữ lượng đáng kể về dầu mỏ và khí tự nhiên. 

+ Từ giữa thập niên 80 của thế kỉ XX, Chính phủ Brunây thi hành chính sách đa dạng hoá nền kinh tế, gia tăng sản xuất hàng tiêu dùng và xuất khẩu.

- Mianma:

+ Sau khi được Anh trao trả độc lập đã thực hiện chính sách tự lực hướng nội, kinh tế tăng trưởng chậm chạp. 

+ Từ cuối năm 1988, chính phủ Mianma tiến hành cải cách kinh tế và “mở cửa”, kinh tế có phần khởi sắc. Tuy nhiên, đời sống của nhân dân vẫn còn rất nhiều khó khăn.

- Đông Ti-mo:

+ Tuyên bố độc lập vào ngày 28/11/1975, sau khi Bồ Đào Nha rút khỏi nước này. Tuy nhiên, nhân dân Đông Ti-mo đã phải trải qua một thời gian dài đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của các lực lượng Inđônêxia. 

+ Ngày 20/5/2002, Đông Ti-mo đã được quốc tế công nhận là một quốc gia độc lập.


Chế độ thực dân đã để lại nhiều ảnh hưởng sâu sắc đối với các quốc gia Đông Nam Á trên các lĩnh vực:


Về chính trị, các nước Đông Nam Á đều bị mất độc lập, chủ quyền; bộ máy nhà nước phong kiến bị thực dân kiểm soát hoặc thay thế. Nhân dân sống dưới ách áp bức, từ đó xuất hiện các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc.


Về kinh tế, thực dân tiến hành khai thác thuộc địa nhằm vơ vét tài nguyên và bóc lột sức lao động. Nền kinh tế các nước phát triển lệ thuộc, mất cân đối, chủ yếu phục vụ lợi ích của chính quốc, khiến đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.


Về xã hội, xã hội bị phân hóa sâu sắc, các giai cấp mới như công nhân, tư sản dân tộc ra đời. Mâu thuẫn dân tộc và giai cấp ngày càng gay gắt, tạo điều kiện cho phong trào cách mạng phát triển.


Về văn hóa – giáo dục, thực dân thực hiện chính sách nô dịch và đồng hóa văn hóa, làm mai một giá trị truyền thống; tuy nhiên cũng làm xuất hiện một tầng lớp trí thức tiếp thu tư tưởng tiến bộ phương Tây.


Liên hệ Việt Nam, dưới ách thống trị của thực dân Pháp, Việt Nam trở thành nước thuộc địa nửa phong kiến. Nhân dân bị bóc lột nặng nề nhưng cũng từ đó hình thành các lực lượng cách mạng, tiêu biểu là giai cấp công nhân và trí thức yêu nước, dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc.


- Từ sau các cuộc phát kiến địa lí, các nước tư bản phương Tây tăng cường tìm kiếm thị trường và thuộc địa; trong khi đó, các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á đang suy yếu, khủng hoảng. Nhân cơ hội này, các nước tư bản phương Tây tiến hành xâm lược và cai trị các nước ở Đông Nam Á.

Ở Inđônêxia, từ thế kỉ XV - XVI, các thế lực thực dân Bồ Đào Nha và Hà Lan cạnh tranh ảnh hưởng. Đến thế kỉ XIX, Hà Lan hoàn thành việc xâm chiếm và thiết lập ách thống trị thực dân trên đất nước này.

Ở Philíppin: Từ thế kỉ XVI, Philíppin bị thực dân Tây Ban Nha thống trị. Sau khi thất bại trong cuộc chiến tranh với Mỹ (1898), Tây Ban Nha đã nhượng quyền quản lí thuộc địa Philíppin cho Mỹ. Từ năm 1899, Philíppin trở thành thuộc địa của Mỹ.

Ở Mã Lai, năm 1826, thực dân Anh đẩy mạnh xâm chiếm các tiểu quốc như Kêđa, Pênang,... và thành lập Mã Lai thuộc Anh vào năm 1895.

- Các nước thực dân phương Tây đã thực thi chính sách chính trị hà khắc, đàn áp phong trào đấu tranh của các tầng lớp nhân dân, vơ vét bóc lột cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hầu hết các nước Đông Nam Á hải đảo đều rơi vào tình trạng lạc hậu, phụ thuộc nặng nề vào nền kinh tế của các nước phương Tây.