Hoàng Thị Mai Loan
Giới thiệu về bản thân
Câu 1: Phân tích nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích "Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều" Bài làm Trong đoạn trích "Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều", nhân vật Thúy Kiều hiện lên với vẻ đẹp của một người phụ nữ thủy chung nhưng luôn đầy ắp nỗi lo âu, dự cảm về số phận. Nỗi lòng của Kiều trước hết được thể hiện qua cái nhìn đầy luyến lưu và đau đớn khi phải chia tay người chồng gần gũi bấy lâu. Không chỉ đơn thuần là nỗi buồn ly biệt "vầng trăng ai xẻ làm đôi", trong lòng nàng còn cuộn dâng những dự cảm bất lành về chuyến đi của Thúc Sinh – chuyến đi về phía người vợ cả đầy uy quyền là Hoan Thư. Qua ngòi bút tâm lí tài tình của Nguyễn Du, ta thấy một Thúy Kiều vô cùng nhạy cảm và tinh tế. Nàng thấu hiểu hoàn cảnh trớ trêu của mình và lo sợ cho hạnh phúc mong manh, bấp bênh hiện tại. Hình ảnh Thúy Kiều trong đoạn trích vừa gợi lên sự đáng thương của một thân phận lẽ mọn, vừa cho thấy sự trân trọng khát vọng hạnh phúc giản đơn của nàng. Nguyễn Du đã dành cho nhân vật một niềm đồng cảm sâu sắc, khắc họa thành công một tâm hồn đa sầu đa cảm trước ngưỡng cửa của những biến cố sắp tới. Câu 2: Nghị luận về lí tưởng của thế hệ trẻ trong cuộc sống hôm nay Bài làm Mỗi thời đại, mỗi thế hệ đều mang trên mình một sứ mệnh và những mục tiêu cao đẹp để hướng tới. Đối với thanh niên ngày nay, khi đất nước đang chuyển mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số, việc xác định cho mình một lí tưởng sống đúng đắn không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn là trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội. Lí tưởng sống có thể hiểu đơn giản là mục đích cao đẹp mà con người khao khát đạt được, là kim chỉ nam dẫn dắt mọi suy nghĩ và hành động. Đối với thế hệ trẻ hôm nay, lí tưởng không còn bó hẹp trong những khẩu hiệu cứng nhắc, mà nó hiện hữu qua khát vọng khẳng định bản thân, tinh thần cầu tiến và ý chí phụng sự Tổ quốc. Trước hết, lí tưởng của tuổi trẻ ngày nay chính là khát vọng chiếm lĩnh tri thức. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, thanh niên cần không ngừng học tập, sáng tạo để không bị bỏ lại phía sau. Một người trẻ có lí tưởng sẽ luôn tìm thấy động lực để vượt qua những cám dỗ tầm thường, tập trung vào việc trau dồi đạo đức và kỹ năng. Thứ hai, lí tưởng ấy còn gắn liền với tinh thần khởi nghiệp, dám nghĩ dám làm để kiến tạo giá trị cho bản thân và gia đình. Cao cả hơn, đó là lí tưởng cống hiến – biết sống vì người khác, tham gia các hoạt động thiện nguyện, bảo vệ môi trường và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Lí tưởng có vai trò vô cùng quan trọng. Nó giống như ngọn hải đăng giúp con người không bị mất phương hướng giữa biển đời đầy biến động. Người sống có lí tưởng sẽ luôn tràn đầy năng lượng, có bản lĩnh để đối mặt với thất bại và tìm thấy ý nghĩa thực sự của sự tồn tại. Ngược lại, một bộ phận thanh niên hiện nay đang rơi vào lối sống thực dụng, thờ ơ, không mục đích. Điều này không chỉ kìm hãm sự phát triển của cá nhân mà còn là gánh nặng cho xã hội. Tuy nhiên, chúng ta cần hiểu rằng lí tưởng không phải là những điều xa vời hay ảo tưởng. Lí tưởng phải bắt nguồn từ thực tế và được hiện thực hóa bằng những hành động cụ thể hàng ngày. Như một nhà văn từng nói: "Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta, mà cần hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay". Tóm lại, lí tưởng sống là nguồn sức mạnh vô tận giúp thế hệ trẻ vượt lên chính mình. Mỗi người trẻ cần tự hỏi mình đang đứng đâu và sẽ đi về đâu. Hãy thắp sáng ngọn lửa lí tưởng trong tim bằng sự nỗ lực không ngừng nghỉ, để thanh xuân không trôi qua một cách lãng phí và để góp phần xây dựng một Việt Nam hùng cường, giàu đẹp.
Câu 1. (0,5 điểm) Thể thơ: lục bát. Câu 2. (0,5 điểm) Sự việc được kể: Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều, về gặp Hoan Thư để trình bày việc mình đã cưới vợ lẽ. Câu 3. (1,0 điểm) – HS xác định được biện pháp tu từ được tác giả sử dụng trong hai dòng thơ là biện pháp tu từ đối. – Tác dụng: Nhấn mạnh sự lê thê của thời gian và sự dằng dặc, vô cùng của không gian trong cảm nhận của Thúy Kiều và Thúc Sinh. Câu 4. (1,0 điểm) Cảm hứng chủ đạo: tác giả thể hiện sự đồng cảm, xót thương trước khát vọng hạnh phúc nhỏ nhoi mà mong manh, bấp bênh, nhiều bất trắc của nàng Kiều. Câu 5. (1,0 điểm) – HS đặt nhan đề cho đoạn trích cần căn cứ vào nội dung chính và sự việc được kể trong đoạn trích. – HS đưa ra lí giải của bản thân sao cho logic, phù hợp với nội dung, ý nghĩa, thông điệp của đoạn trích. – Ví dụ: Ta có thể đặt tên cho đoạn trích trên là "Thúc Sinh từ biệt Thúy Kiều" hoặc "Vầng trăng ai xẻ làm đôi?" vì những nhan đề này thể hiện trọn vẹn nội dung chính của văn bản, đồng thời gợi lên cảm xúc buồn rầu của Thúy Kiều trước cảnh phu thê chia ly.
Câu 1: Phân tích nét đặc sắc của bài thơ "Những bóng người trên sân ga" Bài làm Trong dòng chảy của thơ mới, "Những bóng người trên sân ga" của Nguyễn Bính hiện lên như một bức tranh thu nhỏ về nỗi ám ảnh biệt ly. Nét đặc sắc nhất về nội dung của bài thơ chính là việc tác giả không chỉ tả cảnh sân ga mà là tả "hồn người" trong những khoảnh khắc chia cắt. Hình ảnh sân ga hiện lên không phải là nơi hội ngộ mà là một không gian đầy đau thương, nơi "những bóng người" – cách gọi đầy gợi cảm về những thân phận nhỏ bé, mờ nhạt – đang phải đối mặt với sự chia lìa. Về mặt nghệ thuật, Nguyễn Bính đã sử dụng bút pháp tương phản rất thành công: sự chuyển động ồn ào của con tàu đối lập với cái tĩnh lặng, nghẹn ngào của lòng người ở lại. Ngôn ngữ thơ giản dị, mang đậm chất chân quê nhưng lại chứa đựng sức gợi cảm sâu sắc, nhịp thơ chậm rãi như nhịp tim thổn thức của những người yêu nhau, những người bạn, người thân phải rời xa nhau. Bài thơ đã chạm đến tầng sâu nhất của nỗi buồn nhân thế, khiến sân ga trở thành một biểu tượng bất tử của sự luyến lưu trong văn học Việt Nam. Câu 2: Nghị luận về sự chủ động lựa chọn lối đi riêng và sáng tạo trong cuộc sống Bài làm Nhà thơ Mỹ Robert Frost từng có những dòng thơ đầy chiêm nghiệm: "Trong rừng có nhiều lối đi/ Và tôi chọn lối đi chưa có dấu chân người". Lời tâm sự ấy không chỉ là một lựa chọn cá nhân mà còn là lời hiệu triệu về sự chủ động, bản lĩnh dấn thân và khát khao sáng tạo trong hành trình định vị bản thân giữa cuộc đời rộng lớn. "Lối đi chưa có dấu chân người" chính là biểu tượng cho những lựa chọn mới mẻ, những con đường đầy thử thách và chưa được khai phá. Trong khi đó, việc "chủ động" thể hiện một thái độ sống tích cực, tự quyết định vận mệnh thay vì phó mặc cho hoàn cảnh hay rập khuôn theo số đông. Lời thơ của Robert Frost khẳng định một giá trị cốt lõi: sự khác biệt và sáng tạo chính là chìa khóa để mở ra những cánh cửa thành công mới. Tại sao chúng ta cần chủ động chọn lối đi riêng? Trước hết, mỗi cá nhân là một bản thể độc nhất với những năng lực và đam mê khác nhau. Nếu chỉ mải mê đi theo con đường mòn mà người khác đã vạch sẵn, chúng ta sẽ mãi là bản sao mờ nhạt, đánh mất đi bản sắc cá nhân. Thứ hai, sự sáng tạo chỉ thực sự nảy nở khi con người dám thoát khỏi vùng an toàn. Những bước tiến vĩ đại của nhân loại từ khoa học, công nghệ đến nghệ thuật đều được tạo nên bởi những con người dám bước vào "vùng đất lạ", dám nghĩ những điều chưa ai nghĩ và làm những việc chưa ai làm. Tuy nhiên, chọn lối đi riêng không có nghĩa là mù quáng, ngông cuồng hay bất chấp quy luật. Một lối đi riêng thực sự giá trị phải dựa trên nền tảng của tri thức, sự quan sát và lòng kiên trì. Sáng tạo không nhất thiết phải là những phát minh vĩ đại làm thay đổi thế giới; nó đôi khi chỉ là việc bạn tìm ra một phương pháp học tập hiệu quả hơn, một cách giải quyết vấn đề mới mẻ trong cuộc sống hàng ngày. Trong thực tế, không ít người trẻ ngày nay vẫn còn tâm lý e dè, sợ thất bại nên chọn cách sống "an phận thủ thường", đi theo đám đông để tìm cảm giác an toàn. Điều này vô tình tạo nên một sự trì trệ trong tư duy và hạn chế sự phát triển của xã hội. Nếu ai cũng sợ hãi trước những con đường mới, thì lấy đâu ra những đột phá và tiến bộ? Tóm lại, con đường dẫn đến thành công và hạnh phúc không bao giờ chỉ có một. Việc chủ động lựa chọn lối đi riêng là cách để chúng ta sống một cuộc đời rực rỡ và ý nghĩa nhất. Hãy can đảm lắng nghe tiếng nói bên trong, trau dồi bản lĩnh và đừng ngần ngại bước đi trên con đường của riêng mình, bởi như ai đó đã nói: "Đừng đi theo nơi con đường dẫn tới, hãy đi vào nơi không có lối đi và để lại dấu chân".
Câu 1. (0,5 điểm) Thể thơ: Thơ bảy chữ. Câu 2. (0,5 điểm) – Vần được gieo: Vần “ay” trong “bay” – “tay” – “này”. – Kiểu vần được gieo: Các vần này đều thuộc kiểu vần chân, bên cạnh đó “bay” – “tay” còn thuộc kiểu vần liền, “tay” – “này” thuộc kiểu vần cách. Câu 3. (1,0 điểm) – Biện pháp tu từ liệt kê được tác giả sử dụng xuyên suốt trong văn bản khi chỉ ra những cuộc chia ly trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. – Tác dụng: Khắc họa chân thực những cuộc chia ly trong những hoàn cảnh khác nhau, từ đó tô đậm nỗi buồn sâu sắc của những cuộc chia ly trên sân ga. Câu 4. (1,0 điểm) – Đề tài: Những cuộc chia ly. – Chủ đề: Nỗi buồn của những cuộc chia ly trên sân ga. Câu 5. (1,0 điểm) – Biểu hiện của yếu tố tự sự trong bài thơ: Nhân vật trữ tình xưng “tôi” đóng vai trò như một nhân chứng trực tiếp quan sát và kể lại những điều tận mắt thấy ở sân ga. Nhân vật trữ tình kể lại những cuộc chia ly trên sân ga. Mỗi cuộc chia ly giống như một lát cắt của một cuốn phim. Trong những cuộc chia ly, có những cảnh có nhân vật, hành động cụ thể, có cảnh có cả lời thoại trực tiếp: “– Mình về nuôi lấy mẹ, mình ơi!”. – Tác dụng: Tạo tính chân thực, sống động cho văn bản, giúp cho bài thơ không chỉ bộc lộ cảm xúc mà còn trở thành một tấm gương, một thước phim tua chậm, tái hiện lại khung cảnh buồn của những cuộc chia ly ở sân ga. Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho bài thơ: Yếu tố tự sự giúp người đọc như được tận mắt chứng kiến, trực tiếp lắng nghe những cuộc chia ly ấy, qua đó giúp cho người đọc dễ dàng đồng cảm hơn
Đoạn trích trong vở kịch "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long đã khắc họa thành công bi kịch tan gia bại sản của gia đình cụ Thông, qua đó gửi gắm bài học cảnh tỉnh sâu sắc. Nhân vật trung tâm là Thông Thu – người thừa kế gia sản lớn nhưng lại đẩy gia đình vào cảnh khánh kiệt chỉ trong hai năm. Qua những lời độc thoại nội tâm đầy đau đớn, Thông Thu hiện lên với sự tỉnh ngộ muộn màng. Anh ta tự phê phán lối sống "ném tiền qua cửa sổ", "đắm đuối trong bể tình dục" và cảm thấy nhục nhã khi làm "nhơ nhuốc" danh hiệu nam tử. Sự dằn vặt được đẩy lên cao trào qua hành động "nâng cốc thuốc độc lên rồi đặt xuống", thể hiện sự yếu đuối, nỗi sợ cái chết đan xen với niềm khao khát sống và trách nhiệm với người thân. Với nhịp điệu kịch dồn dập cùng ngôn ngữ nội tâm sắc sảo, Vũ Đình Long không chỉ vẽ nên chân dung một trí thức sa ngã mà còn lên án gay gắt lối sống ăn chơi trác táng, quên đi đạo đức và trách nhiệm xã hội của một bộ phận người dân thành thị đương thời.
Câu 2:
Vở kịch "Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long dù ra đời từ thế kỷ trước nhưng vẫn còn nguyên giá trị thời đại, đặc biệt là hình ảnh nhân vật Thông Thu với lối sống "ném tiền qua cửa sổ" dẫn đến cảnh khánh kiệt. Từ bi kịch của quá khứ, ta nhìn về thực tại và thấy lo ngại trước hiện trạng tiêu xài thiếu kiểm soát của một bộ phận giới trẻ ngày nay – một căn bệnh tâm lý và xã hội đang âm thầm phá hoại tương lai của nhiều người.
Trước hết, cần hiểu tiêu xài thiếu kiểm soát là lối sống chi tiêu vượt quá khả năng thu nhập, chạy theo những nhu cầu nhất thời mà không có kế hoạch tài chính cụ thể. Đây là kiểu sống "vung tay quá trán", đặt sở thích cá nhân lên trên sự an toàn kinh tế của bản thân và gia đình. Thực trạng này đang diễn ra khá phổ biến. Không khó để bắt gặp những bạn trẻ dù mức lương chỉ vài triệu đồng nhưng sẵn sàng vay nợ, trả góp để sở hữu những chiếc điện thoại đời mới nhất hay những món đồ hiệu đắt đỏ. Xu hướng "mua trước trả sau" qua thẻ tín dụng và các ứng dụng vay tiền nhanh khiến nhiều người rơi vào bẫy nợ nần khi tuổi đời còn rất trẻ. Nguyên nhân dẫn đến lối sống này đến từ cả chủ quan lẫn khách quan. Về chủ quan, đó là tâm lý thích hưởng thụ, muốn khẳng định giá trị bản thân qua vẻ bề ngoài hào nhoáng thay vì năng lực thực tế. Nhiều bạn trẻ thiếu kiến thức về quản lý tài chính cá nhân, không phân biệt được đâu là "nhu cầu" (need) và đâu là "mong muốn" (want). Về khách quan, áp lực từ mạng xã hội và hội chứng FOMO (sợ bị bỏ lại phía sau) khiến giới trẻ dễ bị cuốn theo các trào lưu tiêu dùng. Sự bùng nổ của thương mại điện tử với những chiến dịch quảng cáo đánh vào lòng tham và sự phù phiếm cũng góp phần thúc đẩy hành vi này. Hậu quả của việc chi tiêu mất kiểm soát là vô cùng nặng nề. Đối với cá nhân, nó dẫn đến vòng xoáy nợ nần, gây căng thẳng tâm lý và làm mất đi các cơ hội đầu tư cho tương lai như học tập hay phát triển sự nghiệp. Giống như Thông Thu, khi sự cố xảy ra, họ dễ rơi vào tuyệt vọng, bế tắc. Đối với gia đình, những đứa con tiêu xài hoang phí trở thành gánh nặng kinh tế, làm rạn nứt tình cảm và suy phong bại đức gia phong. Về mặt xã hội, lối sống này tạo ra một thế hệ thực dụng, lười lao động nhưng thích hưởng thụ, gây bất ổn cho nền kinh tế và đạo đức cộng đồng. Để khắc phục tình trạng này, mỗi người trẻ cần học cách quản lý tài chính cá nhân thật nghiêm túc. Hãy tập thói quen ghi chép thu chi, hạn chế mức chi tiêu và ưu tiên những điều thực sự cần thiết. Trường học và gia đình cũng cần phối hợp để giáo dục kỹ năng sống, định hướng cho con em mình về giá trị của lao động và sự giản dị.
Tóm lại, tiêu xài thiếu kiểm soát là một thói quen nguy hiểm có thể đẩy con người đến bi kịch khánh kiệt cả về vật chất lẫn tinh thần. Bài học từ "chén thuốc độc" của Thông Thu vẫn luôn là lời tỉnh cầu cho giới trẻ: Hãy chi tiêu một cách thông minh và tỉnh táo để xây dựng một tương lai bền vững, thay vì đốt cháy nó trong những cuộc vui phù phiếm nhất thời.
Câu 1. (0,5 điểm) Văn bản "Chén thuốc độc" thuộc thể loại bi kịch. Câu 2. (0,5 điểm) Hình thức ngôn ngữ chủ yếu: Độc thoại (nhân vật nói với chính mình để bộc lộ nội tâm). Câu 3. (1,0 điểm) – Các chỉ dẫn sân khấu trong văn bản: "Bóp trán nghĩ ngợi". "Nâng cốc nâng lên sắp uống lại đặt xuống.". "Lấy dao mở hộp thuốc phiện, rót vào cốc, lấy que khuấy.". "Đứng dậy lấy chai dấm thanh giấu ở dưới gầm tủ, rót vào cốc. Thò tay vào tủ lấy hộp thuốc phiện.". ... – Tác dụng của các chỉ dẫn sân khấu: Giúp người đọc hình dung được hành động, cử chỉ và trạng thái cảm xúc cụ thể của nhân vật. Thể hiện xung đột nội tâm, giằng xé gay gắt của Thông Thu (sự do dự giữa sống và chết qua hành động nâng cốc lên rồi lại đặt xuống). Câu 4. (1,0 điểm) – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Hai: Tâm lí hối hận và tự sỉ vả. Thông Thu nhận thức được sai lầm của bản thân sau khi tiêu tán gia sản, cảm thấy nhục nhã vì không làm được gì ích quốc lợi dân mà lại làm "nhơ nhuốc" thanh danh gia đình. – Tâm lí thầy Thông Thu trong hồi thứ Ba: Tâm lí tuyệt vọng và bế tắc. Khi đối mặt với cảnh tù tội, Thông Thu vô cùng sợ hãi. Hắn quyết định tìm đến cái chết để giải thoát ("Thà rằng một thác cho xong!"). – Sự thay đổi: Từ việc hối hận về quá khứ (Hồi II) chuyển sang sự hoảng loạn trước tương lai và đi đến hành động cực đoan (Hồi III). Tuy nhiên, trong sự tuyệt vọng vẫn nhen nhóm chút trách nhiệm muộn màng với gia đình (dừng lại để viết thư cho em trai). Câu 5. (1,0 điểm) Học sinh đưa ra quan điểm không đồng tình với quyết định của thầy Thông Thu và giải thích hợp lí. Gợi ý: – Tự tử là một hành động trốn chạy hèn nhát trước sai lầm của chính mình thay vì đối mặt để sửa chữa. – Cái chết không giải quyết được vấn đề mà đôi khi còn gây ảnh hưởng và liên lụy đến những người thân xung quanh. – Thầy Thông Thu nên chọn cách sống trách nhiệm hơn, lao động để trả nợ và làm lại cuộc đời, như vậy mới thực sự là "thác trong còn hơn sống đục". Cái chết trong sự bế tắc này chỉ là sự kết thúc của một nhân cách bạc nhược.
Câu 1 Nhân vật Thứ trong đoạn trích để lại nhiều suy ngẫm sâu sắc cho người đọc. Trước hết, Thứ hiện lên là một con người giàu tình cảm, sống nội tâm và luôn mang trong mình những day dứt, trăn trở. Qua lời nói, hành động và suy nghĩ của nhân vật, có thể thấy Thứ là người nhạy cảm, biết yêu thương nhưng cũng rất dễ tổn thương. Những trải nghiệm trong cuộc sống khiến Thứ phải đối diện với nhiều mâu thuẫn nội tâm, vừa khao khát hạnh phúc, vừa lo sợ mất mát, đổ vỡ. Bên cạnh đó, Thứ còn là người có ý thức về trách nhiệm, luôn suy nghĩ cho người khác hơn là cho bản thân mình. Chính điều này khiến nhân vật nhiều khi phải kìm nén cảm xúc, chấp nhận thiệt thòi. Qua hình tượng nhân vật Thứ, tác giả đã thể hiện sự cảm thông sâu sắc đối với những con người nhỏ bé trong cuộc sống, đồng thời gửi gắm thông điệp về giá trị của sự yêu thương, thấu hiểu và sẻ chia. Nhân vật Thứ vì thế không chỉ mang nét riêng cá nhân mà còn đại diện cho nhiều số phận con người trong xã hội
Câu 2: Gabriel Garcia Marquez từng viết: “Không phải người ta ngừng theo đuổi ước mơ vì họ già đi mà họ già đi vì ngừng theo đuổi ước mơ”. Câu nói đã khẳng định vai trò to lớn của ước mơ đối với con người, đặc biệt là với tuổi trẻ – quãng thời gian đẹp đẽ và nhiều khát vọng nhất trong cuộc đời. Tuổi trẻ là giai đoạn con người có đủ nhiệt huyết, đam mê và dũng khí để mơ ước. Ước mơ giống như ngọn hải đăng soi đường, giúp con người xác định phương hướng sống và có động lực để cố gắng mỗi ngày. Khi có ước mơ, tuổi trẻ không sống hoài, sống phí mà biết trân trọng thời gian, biết nỗ lực vươn lên để hoàn thiện bản thân. Ngược lại, nếu sống không ước mơ, con người dễ rơi vào trạng thái thụ động, mất phương hướng và dần đánh mất ý nghĩa của cuộc sống. Câu nói của Marquez còn nhấn mạnh rằng sự “già đi” không chỉ được tính bằng tuổi tác mà còn bằng tinh thần. Một người dù còn trẻ nhưng nếu từ bỏ ước mơ, không còn khát vọng vươn lên thì cũng đã “già”. Ngược lại, có những người lớn tuổi nhưng vẫn nuôi dưỡng ước mơ, vẫn học hỏi và cống hiến thì tinh thần của họ luôn trẻ trung. Điều đó cho thấy, ước mơ chính là nguồn năng lượng giữ cho con người luôn sống tích cực và có ý nghĩa. Tuy nhiên, ước mơ không phải là những suy nghĩ viển vông hay mơ mộng xa rời thực tế. Ước mơ cần đi kèm với hành động, sự kiên trì và nỗ lực không ngừng. Tuổi trẻ có quyền mơ lớn, nhưng cũng cần biết lập kế hoạch, chấp nhận thất bại và học cách đứng dậy sau vấp ngã. Chính trong quá trình theo đuổi ước mơ, con người trưởng thành hơn, bản lĩnh hơn và hiểu rõ giá trị của bản thân. Trong thực tế, vẫn còn nhiều bạn trẻ sống buông xuôi, dễ dàng từ bỏ ước mơ trước khó khăn, thử thách. Điều này đáng phê phán bởi tuổi trẻ chỉ đến một lần, nếu không dám mơ và dám làm thì sau này chỉ còn lại sự tiếc nuối. Mỗi người trẻ cần tự ý thức trách nhiệm của mình với bản thân, gia đình và xã hội, từ đó không ngừng nuôi dưỡng và theo đuổi ước mơ. Tóm lại, tuổi trẻ và ước mơ luôn song hành cùng nhau. Giữ được ước mơ chính là giữ cho tâm hồn luôn trẻ trung và cuộc sống luôn có ý nghĩa. Như lời Marquez, đừng để mình “già đi” chỉ vì đã sớm từ bỏ những ước mơ của chính mình.
Câu 1. Điểm nhìn trần thuật Điểm nhìn của người kể chuyện: điểm nhìn hạn tri, điểm nhìn bên trong. Người kể chuyện ngôi thứ ba, nhưng kể dựa vào cảm nhận, suy nghĩ, tâm trạng của nhân vật Thứ. Câu 2. Ước mơ của nhân vật Thứ Đỗ thành chung, đỗ tú tài Vào đại học đường, sang Tây Trở thành vĩ nhân, làm được điều lớn lao cho đất nước Câu 3. Biện pháp tu từ và tác dụng a. Điệp cấu trúc Ví dụ: “Y sẽ…”, “Đời y sẽ…”, “người ta sẽ khinh y…”, “vợ y sẽ khinh y…” Tác dụng: Nhấn mạnh sự mòn mỏi, vô nghĩa của cuộc sống tương lai Thể hiện tâm trạng bi quan, bế tắc của Thứ Tạo nhịp điệu cho câu văn, tăng sức gợi cảm b. Ẩn dụ Hình ảnh: đời – mốc lên – gỉ đi – mòn – mục ra Tác dụng: Gợi lên sinh động cuộc sống lụi tàn, vô nghĩa Làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm c. Liệt kê tăng cấp Chuỗi hình dung: không việc làm → ăn bám vợ → mốc lên → gỉ đi → mòn → mục ra Tác dụng: Làm rõ sự tha hóa dần dần của cuộc sống Nhấn mạnh cảm giác bị khinh thường của Thứ d. Nghịch ngữ “Chết mà chưa sống” Tác dụng: “Chết”: chết về tinh thần “Sống”: sống có ý nghĩa, lý tưởng Khắc họa sâu sắc bi kịch tinh thần của nhân vật Câu 4. Nhận xét về nhân vật Thứ a. Cuộc sống Khó khăn, bế tắc, mòn mỏi Phải lo kế sinh nhai, không thực hiện được hoài bão b. Con người Có hoài bão, khát vọng Đời sống nội tâm sâu sắc, ý thức rõ bi kịch của bản thân Câu 5. Triết lí nhân sinh Triết lí: Sống là làm chủ bản thân, làm chủ cuộc đời mình Ý nghĩa: Mỗi người chỉ sống một lần Nếu không làm chủ bản thân → sống vô nghĩa Chỉ khi làm chủ cuộc đời, con người mới phát huy được tiềm năng của mình