Phạm Quỳnh Chi

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Quỳnh Chi
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Đặc điểm khác nhauPha sángPha tốiVị trí và điều kiện xảy ra

Vị trí: Thylakoid (màng thylakoid) của lục lạp.


Điều kiện: Bắt buộc phải có ánh sáng.

Vị trí: Stroma (chất nền) của lục lạp.


Điều kiện: Không cần ánh sáng trực tiếp (nhưng phụ thuộc vào sản phẩm của pha sáng).

Nguyên liệu và năng lượng

Nguyên liệu: $\text{H}_2\text{O}$$\text{NADP}^+$$\text{ADP}$$\text{P}_i$.


Năng lượng: Năng lượng ánh sáng mặt trời.

Nguyên liệu: $\text{CO}_2$$\text{ATP}$$\text{NADPH}$.


Năng lượng: Năng lượng hóa học tích lũy trong $\text{ATP}$ và $\text{NADPH}$ (từ pha sáng).

Sản phẩm tạo ra

$\text{O}_2$ (giải phóng ra môi trường).


$\text{ATP}$$\text{NADPH}$ (chuyển sang pha tối).

- Hợp chất hữu cơ (Đường khan/Carbohydrate - $\text{C}_6\text{H}_{12}\text{O}_6$).


$\text{ADP}$$\text{P}_i$$\text{NADP}^+$ (quay vòng lại pha sáng).

Vai trò trong chuyển hóa năng lượng- Chuyển hóa năng lượng ánh sáng (quang năng) thành năng lượng hóa học tạm thời trong các liên kết của $\text{ATP}$  $\text{NADPH}$.- Chuyển hóa năng lượng hóa học trong $\text{ATP}$  $\text{NADPH}$ thành năng lượng hóa học bền vững tích lũy trong các hợp chất hữu cơ ($\text{C}_6\text{H}_{12}\text{O}_6$).

câu 2

Trong hành trình chinh phục đỉnh cao của cuộc đời, con đường chúng ta đi không bao giờ chỉ trải đầy hoa hồng. Sẽ có những khúc quanh ngặt nghèo, những vực thẳm thử thách lòng người. Khi đó, vũ khí quan trọng nhất để con người không gục ngã chính là ý chí và nghị lực.

Ý chí là khả năng tự xác định mục tiêu cho hành động và quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để đạt được mục tiêu đó. Nghị lực là sự kết hợp giữa lòng kiên nhẫn và lòng dũng cảm, là sức mạnh tinh thần giúp con người duy trì nỗ lực bất chấp những trở ngại khách quan. Nói cách khác, ý chí và nghị lực chính là "bản lĩnh" của mỗi cá nhân trước sóng gió cuộc đời.

Tại sao chúng ta lại cần đến nghị lực? Thực tế, cuộc sống là một chuỗi những bài toán khó. Nghị lực giúp ta biến những điều "không thể" thành "có thể". Nó là điểm tựa để ta đứng dậy sau mỗi lần vấp ngã. Một người có ý chí sẽ không nhìn thấy khó khăn như một dấu chấm hết, mà coi đó là một nấc thang để rèn luyện bản thân. Thiếu đi ý chí, con người dễ trở nên nhu nhược, buông xuôi trước số phận và sớm muộn cũng bị dòng đời nhấn chìm.

Chúng ta có thể thấy rất nhiều tấm gương sáng ngời về tinh thần này. Đó là thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký – người đã dùng đôi chân mình để viết nên cuộc đời rực rỡ; hay Nick Vujicic, một người không tay không chân nhưng đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người trên thế giới về khát vọng sống. Những con người ấy chứng minh rằng: khi ý chí đủ lớn, khiếm khuyết về thân thể hay hoàn cảnh khắc nghiệt cũng không thể ngăn cản bước chân ta đi tới thành công.

Tuy nhiên, trong xã hội hiện nay, vẫn còn một bộ phận giới trẻ thiếu bản lĩnh, dễ nản lòng. Chỉ một chút thất bại trong học tập hay tình cảm đã khiến họ rơi vào tuyệt vọng, thậm chí có những hành động dại dột. Đó là lối sống đáng báo động và cần được thay đổi.

Để rèn luyện ý chí, chúng ta cần bắt đầu từ những việc nhỏ nhất: kiên trì với một thói quen tốt, không bỏ cuộc trước một bài toán khó. Chúng ta cần hiểu rằng: "Vàng càng vẩn đục càng cần lửa, người càng gian nan càng hiển tài". Thất bại không phải là đối lập của thành công, nó là một phần của hành trình đi đến thành công.

Tóm lại, ý chí và nghị lực là nguồn năng lượng vô tận để con người kiến tạo nên giá trị bản thân. Hãy giữ cho ngọn lửa nghị lực luôn cháy trong tim, bởi như một triết gia từng nói: “Đừng cầu nguyện cho một đời sống dễ dàng, hãy cầu nguyện để có sức mạnh chịu đựng một đời sống khó khăn”.

câu 1

Bài thơ trong phần Đọc hiểu là một tiếng lòng sâu sắc, chứa đựng những triết lý nhân sinh quý báu về thái độ sống của con người. Qua những hình ảnh thơ [tươi sáng/giàu sức gợi], tác giả đã khắc họa thành công bức tranh về [nội dung chính bài thơ, ví dụ: sự vươn lên của mầm non/vẻ đẹp của sự kiên trì]. Việc sử dụng khéo léo biện pháp tu từ [ẩn dụ/so sánh] không chỉ làm tăng tính biểu cảm mà còn giúp người đọc hình dung rõ nét về những thử thách mà nhân vật trữ tình phải đối mặt. Từng câu chữ như lời thúc giục, nhắc nhở chúng ta rằng khó khăn chỉ là phép thử cho lòng can đảm. Đặc biệt, thông điệp về sự lạc quan và khát vọng cống hiến ở cuối bài thơ đã tạo nên một nốt lặng đầy suy ngẫm. Tóm lại, bằng ngôn ngữ hàm súc và hình tượng nghệ thuật độc đáo, bài thơ không chỉ bồi đắp tâm hồn người đọc về mặt thẩm mỹ mà còn tiếp thêm sức mạnh tinh thần to lớn để chúng ta vững bước trên hành trình chinh phục những ước mơ.

Câu 1 (0,5 điểm).

Những phương thức biếu đạt trong bài thơ: Biếu cảm, miêu tả.

Câu 2 (0,5 điễm).

Đề tài: Nỗi buồn/ Sự đau khổ.

Câu 3 (1,0 điễm).

- HS xác định được một hình ảnh mang tính tượng trưng trong bài thơ. Chẳng hạn như một số hình ảnh:

mặt nhựt tan thành máu, hồn ( một nửa hồn tôi mất, một nửa hồn tôi bỗng dại khờ

), bông phượng nở trong màu huyết, giọt châu.

Hình ảnh hồn

tượng trưng cho cái tôi cá nhân, cho sự cô đơn, tuyệt vọng của chính thi nhân gắn liền với mặc cảm chia lìa. Khát khao yêu và được yêu, nhưng tình yêu của Hàn Mặc Tử vẫn tan vỡ, người kia vẫn ra đi, khiến cho thi sĩ ngậm ngùi, đau đớn, thất vọng.

Câu 4 (1,0 điểm).

- HS xác định được biện pháp tu từ được sử dụng trong khố thơ cuối: Câu hỏi tu từ:

Tôi vẫn còn đây hay ở đâu?/ Sao bông phượng nở trong màu huyết,/ Nhỏ xuống lòng tôi những giọt châu?

- Tác dụng:

+ Thể hiện sự bơ vơ, lạc lõng của thi nhân giữatrần thế bao la, rộng lớn này.

+ Thế hiện sự nhạy cảm của thi nhân trước thiên nhiên, cuộc đời: Dường như thiên nhiên, cuộc đời cũng thương cho số kiếp đáng thương, hoàn cảnh lạc lõng của thi nhân mà xúc động, nghẹn ngào, khóc thương cho cuộc đời chàng Hàn Mặc Tử.

Câu 5 (1,0 điểm).

  • HS dựa vào nội dung, mạch cảm xúc đế rút ra nhận xét về cấu tứ.
  • Ví dụ: Trước hết, bài thơ đi từ nỗi buồn vì không thế hồi đáp lại hết tình thương yêu, quý mến của mọi người dành cho thi nhân. Nhà thơ rất muốn đền đáp nhưng bệnh tật khiến chàng không thể đền đáp nổi những điều trân quý ấy.

Tiếp đó là nỗi đau đớn, bất lực vì tình yêu không trọn vẹn. Và cuối cùng là nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa cuộc đời mênh mông. Như vậy, bài thơ là sự vận động từ sự phiền muộn, khát khao yêu và được yêu sang nỗi khổ sở, bơ vơ, lạc lõng giữa trần thế bao la của thi nhân.

câu 1

Trong đoạn trích "Kim tiền", nhân vật Trần Thiết Chung hiện lên là hình tượng điển hình cho sự tha hóa của con người trước ma lực của đồng tiền. Ban đầu, Thiết Chung có thể là một người có khát vọng, nhưng khi đứng trước sức cám dỗ của lợi nhuận và sự giàu sang mù quáng, anh ta đã dần đánh mất bản ngã. Sự biến chuyển tâm lý của Thiết Chung được khắc họa qua thái độ thực dụng, coi trọng giá trị vật chất hơn mọi giá trị đạo đức và tình cảm gia đình. Anh ta không chỉ đại diện cho một cá nhân tham lam mà còn là hiện thân của một bộ phận xã hội đương thời: sẵn sàng đánh đổi lương tâm, danh dự để đạt được quyền lực tài chính. Qua nhân vật này, tác giả đã khéo léo phê phán lối sống sùng bái vật chất, đồng thời đưa ra lời cảnh báo đanh thép về việc con người tự biến mình thành nô lệ cho "kim tiền", dẫn đến bi kịch tinh thần không thể cứu vãn.

câu 2

Trong dòng chảy hối hả của cuộc sống hiện đại, con người thường bị cuốn vào cuộc đua tìm kiếm sự thịnh vượng. Tuy nhiên, bi kịch của nhân vật trong "Kim tiền" đã để lại bài học sâu sắc về tầm quan trọng của việc cân bằng giữa giá trị vật chất và giá trị tinh thần.

Trước hết, chúng ta cần thừa nhận rằng vật chất là nền tảng cần thiết cho cuộc sống. Cơm ăn, áo mặc, tiện nghi sinh hoạt giúp con người duy trì sự tồn tại và tạo điều kiện để phát triển. Thiếu hụt vật chất, con người dễ rơi vào cảnh túng quẫn, hạn chế khả năng tiếp cận tri thức và hưởng thụ văn hóa. Thế nhưng, nếu coi vật chất là mục đích duy nhất của cuộc đời, ta sẽ dễ dàng rơi vào cái bẫy của sự tham lam, giống như cách mà đồng tiền đã tha hóa nhân cách con người trong các tác phẩm văn học.

Ngược lại, giá trị tinh thần lại là "ngọn hải đăng" dẫn đường cho đạo đức và tâm hồn. Đó là tình yêu thương, sự tử tế, lòng tự trọng và những niềm vui giản đơn không thể mua được bằng tiền. Một người giàu có về tiền bạc nhưng nghèo nàn về tâm hồn sẽ luôn cảm thấy trống rỗng và cô độc. Khi giá trị tinh thần bị coi nhẹ, các mối quan hệ gia đình, bạn bè dễ dàng bị rạn nứt bởi sự tính toán, vụ lợi.

Sự cân bằng chính là chìa khóa để đạt được hạnh phúc thực sự. Cân bằng không có nghĩa là chia đều 50/50, mà là biết đủ về mặt vật chất để nuôi dưỡng một tâm hồn phong phú.

  • Về phía cá nhân: Chúng ta cần nỗ lực làm việc để đảm bảo kinh tế, nhưng không được phép dẫm đạp lên lương tâm hay rẻ rúng tình thân. Hãy biết dành thời gian để lắng nghe bản thân, chăm sóc những sở thích lành mạnh và bồi đắp vốn sống.
  • Về phía xã hội: Một xã hội văn minh không chỉ đo lường bằng chỉ số GDP mà còn bằng chỉ số hạnh phúc, sự công bằng và lòng nhân ái giữa người với người.

Bài học rút ra là chúng ta không nên bài trừ vật chất, nhưng tuyệt đối không được để mình trở thành nô lệ của nó. Tiền bạc nên là phương tiện để ta sống tốt hơn, làm nhiều việc thiện hơn, chứ không phải là cái gông xiềng trói buộc nhân cách.

Tóm lại, vật chất nuôi sống thân xác, nhưng tinh thần mới là thứ nuôi dưỡng linh hồn. Chỉ khi tìm được điểm giao thoa hài hòa giữa hai giá trị này, con người mới có thể đứng vững trước những sóng gió của cuộc đời và tận hưởng một cuộc sống ý nghĩa trọn vẹn.

Câu 1. (0,5 điểm)

Văn bản "Kim tiền" thuộc thế loại bi kịch.

Câu 2. (0,5 điểm)

Theo ông Cự Lợi, ông Trần Thiết Chung thất bại vì ông quá khinh rẻ đồng tiền, cố chấp và không chịu kiếm tiền.

Câu 3. (1,0 điểm)

- Hình ảnh "phân, bẩn, rác" được so sánh với

"tiền":

+ Bản chất của chúng "phân, bẩn, rác" là sự ô uế, bẩn thỉu nhưng vẫn là "vật liệu rất quý". nguồn dưỡng chất thiết yếu để tạo nên những cánh đồng lúa trĩu nặng, nhưng bông hoa thơm ngát.

+ "Tiền" có thể bị coi là thấp kém, đê tiện vì sự vụ lợi nhưng nếu biết dùng đúng cách nó cũng tạo ra những điều tốt đẹp, giúp ích cho đời.

- Qua đó, ông Cự Lợi muốn thuyết phục ông

Trần Thiết Chung:

+ Bản chất của đồng tiền không hoàn toàn xấu và tiêu cực như cách ông Trần Thiết Chung đang suy nghĩ, nó phụ thuộc vào cách sử dụng và kiểm soát của mỗi cá nhân.

+ Muốn Trần Thiết Chung hiểu rằng dù việc kiếm tiền có thể vất vả và trần tục nhưng tiền là công cụ cần thiết đế nuôi sống bản thân, gia đình và thực hiện những lí tưởng cao đẹp.

Câu 4. (1,0 điếm)

- Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục

  • Cuộc trò chuyện giữa ông Cự Lợi và ông Trần Thiết Chung kết thúc trong sự bế tắc và bất đồng quan điểm. Hai bên không ai thuyết phục được ai: "Bác có ý kiến của bác, tôi có ý kiến của tôi". Ông Chung cương quyết giữ lối sống thanh bần còn ông Cự Lợi đành để mặc bạn mình.
  • Ý nghĩa của kết thúc này:

+ Phản ánh sự xung đột gay gắt, không thế dung hòà giữa hai hệ tư tưởng trong xã hội giao thời: Một bên là lý tưởng đạo đức nho sĩ (giữ khí tiết, khinh tài lợi) và một bên là lối sống thực dụng (coi trọng sức mạnh của đồng tiền).

+ Làm nổi bật chủ đề của văn bản: Sự lựa chọn giữa tiền và nhân cách con người, mâu thuẫn giữa lí tưởng sống và nhu cầu vật chất của hiện thực đời sống.

+ Gợi suy ngẫm, chiêm nghiệm về những khó khăn khi con người phải giữ đạo đức, lí tưởng và ước mơ trong một xã hội chạy theo lợi ích kinh tế.

Câu 5. (1,0 điếm)


  • Lòng tham của con người thường không có đáy, khi chúng ta mải mê chạy theo quá nhiều danh vọng và vật chất ("tham muốn nhiều"), ta buộc phải đánh đổi bằng thời gian, sức khỏẻ và sự bình yên trong tâm hồn.
  • Khi con người chạy theo tham vọng vật chất quá mức, họ dễ đánh mất sự thanh thản, bị cuốn vào lo toan, tính toán, thậm chí phạm sai lầm để đạt mục đích.
  • Biết sống vừa phải và biết đủ sẽ giúp con người nhẹ nhõm, thanh thản và giữ được các giá trị đạo đức của bản thân.

Câu 1:

Trong dòng chảy hối hả của toàn cầu hóa, việc giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống không chỉ là trách nhiệm mà còn là cách để giới trẻ Việt Nam khẳng định bản sắc cá nhân giữa thế giới đa cực. Hiện nay, thế hệ trẻ đang có những cách tiếp cận rất sáng tạo: từ việc mặc cổ phục trong các bộ ảnh nghệ thuật, đưa chất liệu dân gian vào âm nhạc hiện đại, đến việc quảng bá du lịch vùng miền qua mạng xã hội. Tuy nhiên, vẫn tồn tại một bộ phận chạy theo lối sống hướng ngoại, lãng quên giá trị cội nguồn. Bảo tồn không có nghĩa là bảo thủ, mà là sự tiếp nối có chọn lọc. Mỗi bạn trẻ cần ý thức rằng, khi ta thấu hiểu và yêu thương một làn điệu dân ca hay một làng nghề truyền thống, ta đang góp phần giữ cho "hồn cốt" dân tộc không bị hòa tan. Giữ gìn văn hóa chính là giữ gìn tấm hộ chiếu định danh cho mỗi người Việt khi bước ra biển lớn.

Tình cảm gia đình, đặc biệt là tình bà cháu, luôn là mảnh đất màu mỡ cho những tâm hồn nghệ sĩ gieo mầm cảm xúc. Bài thơ của tác giả Lam là một tiếng lòng đầy thổn thức, đưa ta trở về với những kỷ niệm tuổi thơ bình dị trên chiếc xe đạp cũ của bà. Qua đó, tác giả không chỉ khắc họa hình ảnh người bà tần tảo mà còn gửi gắm triết lý sâu sắc về những "nguồn sáng" đích thực trong cuộc đời mỗi con người.

Mở đầu bài thơ, một không gian làng quê đậm chất trữ tình hiện ra:

"khói chiều cõng một hoàng hôn bờ vai bà cõng tâm hồn cháu bay"

Phép nhân hóa và điệp từ "cõng" ở hai dòng thơ đầu thực sự là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo. Nếu làn khói lam chiều gợi sự mênh mông của thời gian thì hình ảnh bà cõng cháu lại gợi sự ấm áp của không gian. Bà không chỉ cõng trên vai thể xác bé nhỏ của đứa cháu, mà còn "cõng" cả một tâm hồn ngây thơ, chắp cánh cho những ước mơ trẻ thơ được bay xa. Con đường tan học chiều nay vì thế mà trở nên đầy thơ mộng với "khói lay cỏ đồng", nơi bà là điểm tựa duy nhất để cháu hướng về.

Đi sâu vào mạch cảm xúc, bài thơ hiện lên như một cuốn nhật ký đầy ắp những yêu thương đời thường:

"sáng nay ông bảo điểm mười, ông cho sáng nay bà nấu thịt kho về nhà cháu sẽ ăn no bụng tròn..."

Những chi tiết rất "đời" như điểm mười, nồi thịt kho của bà hay lời hứa của ông đã chạm đến những ký ức gần gũi nhất của bất kỳ ai. Tình yêu của ông bà không nằm ở những điều cao siêu mà hiện hữu trong sự chăm chút cho từng bữa cơm, từng bước đi của cháu. Hình ảnh "bánh xe bà đạp quay tròn" trên con đường mòn gập ghềnh chính là biểu tượng cho sự nhẫn nại, kiên trì và hy sinh thầm lặng. Bà mải miết đạp xe qua bao mùa nắng mưa để đưa cháu đến bến bờ tri thức.

Điểm sáng nhất của bài thơ, cũng là nhãn tự của toàn tác phẩm, nằm ở hình ảnh so sánh đầy chiêm nghiệm:

"ngồi sau bà, cháu mải chơi mà quên ngắm một Mặt Trời cạnh bên."

Tác giả đã dùng một hình ảnh vũ trụ vĩ đại – Mặt Trời – để ví với người bà. Nếu mặt trời của tự nhiên đem lại ánh sáng cho vạn vật thì "mặt trời" của bà đem lại hơi ấm của tình thương, sưởi ấm tâm hồn đứa cháu bé nhỏ. Sự đối lập giữa đứa cháu "mải chơi", vô tư với người bà âm thầm hy sinh đã tạo nên một khoảng lặng đầy xúc động. Có đôi khi, chúng ta mải mê đuổi theo những giá trị xa xôi mà quên mất rằng hạnh phúc thực sự đang ở ngay "cạnh bên", hiền hậu và ấm áp.

Đoạn kết bài thơ mang âm hưởng của sự trưởng thành và thức tỉnh:

"đôi khi quanh quẩn, cháu quên đường về ngẩng đầu thấy giữa trời quê hai Mặt Trời dẫn lối về cháu đi."

Khi đã lớn lên, giữa những bộn bề và "quanh quẩn" của cuộc đời, hình ảnh quê hương và người bà vẫn là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất. "Hai mặt trời" – một của thiên nhiên, một của tình thân – sẽ mãi là kim chỉ nam dẫn lối cho cháu.

Về mặt nghệ thuật, bài thơ sử dụng thể thơ tự do với nhịp điệu nhẹ nhàng như lời thủ thỉ, tâm tình. Ngôn ngữ mộc mạc, gần gũi nhưng giàu sức gợi cảm thông qua các biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hóa. Cách gieo vần linh hoạt giúp bài thơ dễ đi vào lòng người, tạo nên một dư âm dịu dàng mà sâu sắc.

Tóm lại, bài thơ của Lam là một bản tình ca về lòng biết ơn. Qua hình ảnh chiếc xe đạp và "mặt trời cạnh bên", tác giả đã nhắc nhở chúng ta về giá trị của gia đình – nơi luôn có những tình yêu vĩnh cửu, soi sáng mọi dặm dài của hành trình nhân sinh.

Câu 1.

Văn bản trên giới thiệu về quần thể di tích Cố đô

Huế.

Câu 2.

Những phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản: Thuyết minh, miêu tả.

Câu 3.

Văn bản Quần thể di tích Cố đô Huế-di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam được coi là một văn bản thông tin tổng hợp vì:

  • Văn bản cung cấp thông tin cho người đọc về quần thế di tích Cố đô Huế - di sản văn hóa thế giới đầu tiên của Việt Nam bằng ngôn ngữ cô đọng, rõ ràng, dễ hiểu.
  • Văn bản có sự kết hợp giữa phương tiện ngôn ngữ và phương tiện phi ngôn ngữ.

Câu 4.

  • Phương tiện phi ngôn ngữ: Ánh Cố đô Huế.
  • Tác dụng:

+ Giúp văn bản thêm sinh động, hấp dẫn.

+ Giúp người đọc có được cái nhìn trực quan hơn về quần thể di tích Cố đô Huế.

Câu 5.

nêu được suy nghĩ, cảm nhận của bản thân về quần thể khu di tích Cố đô Huế, trong đó, HS cần thể hiện được niềm tự hào về một di tích lịch sử giàu giá trị và ý nghĩa như Cố đô Huế. Ví dụ:

Từ nội dung văn bản, em cảm nhận được quần thể di tích Cố đô Huế là niềm tự hào lớn lao của dân tộc Việt Nam. Nơi đây không chỉ lưu giữ những công trình kiến trúc nguy nga, tráng lệ mà còn chứa đựng vẻ đẹp hòa quyện giữa thiên nhiên và bàn tay con người, thế hiện trình độ nghệ thuật và tư duy thấm mỹ tinh tế của cha ông ta. Mỗi công trình, lăng tẩm, cung điện đều mang trong mình dấu ấn lịch sử, văn hóa và tâm hồn Việt Nam. Việc Cố đô Huế được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới khiến em càng thêm tự hào và ý thức được trách nhiệm của thế hệ trẻ hôm nay trong việc giữ gìn, trân trọng và phát huy giá trị di sản quý báu ấy, để Huế mãi mãi là viên ngọc sáng của đất nước.

câu 1

Trong thế giới nhân vật của A. Chekhov, Porphyry (anh gầy) là một điển hình sắc sảo cho "con người bé nhỏ" bị biến dạng bởi hệ thống cấp bậc. Sự thành công của nhân vật này nằm ở nghệ thuật khắc họa tâm lý qua ngoại hình và cử chỉ. Ban đầu, Porphyry hiện lên là một người bạn cũ hồ hởi, tràn đầy kỷ niệm. Thế nhưng, ngay khi biết người bạn mình giờ đây là một "viên chức bậc ba", bản chất nô lệ tiềm ẩn trong anh ta bùng phát một cách trơ trẽn.

Chekhov đã sử dụng những động từ mạnh như "co rúm lại", "cong gập đi", "xẹp lép lại" để hữu hình hóa sự hèn hạ. Không ai ép buộc Porphyry phải sợ hãi, chính anh ta tự nguyện đánh mất nhân cách để đổi lấy sự khúm núm của một kẻ bề dưới. Cách xưng hô chuyển từ "cậu" sang "ngài", "phu nhân" sang "tiểu thư" đầy vẻ sùng bái thái quá đã tạo nên một hiệu ứng trào phúng xót xa. Qua Porphyry, Chekhov không chỉ phê phán thói xu nịnh mà còn gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự tha hóa của con người: khi người ta tự coi mình là "cái bóng" trước quyền lực, họ đã tự khai tử chính linh hồn mình.

Câu 2:

Có một câu nói nổi tiếng rằng: "Chúng ta có thể phàn nàn vì bụi hồng có gai hoặc vui mừng vì bụi gai có hoa hồng." Câu nói đơn giản nhưng chứa đựng một triết lý sâu sắc về sự lựa chọn: Thế giới vốn không thay đổi, thứ thay đổi chính là lăng kính mà ta dùng để quan sát nó.

Cuộc đời vốn là một bản hợp xướng của những nốt thăng và nốt trầm, của niềm vui và nỗi buồn. "Bụi hồng có gai" đại diện cho những khiếm khuyết, khó khăn tồn tại ngay trong những điều tốt đẹp nhất. Ngược lại, "bụi gai có hoa hồng" lại là biểu tượng của hy vọng, của những giá trị quý giá nảy mầm từ sự khắc nghiệt. Việc chúng ta chọn "phàn nàn" hay "vui mừng" thực chất là chọn thái độ sống: bị động chịu trận hay chủ động vượt lên.

Tại sao thái độ nhìn nhận lại quan trọng đến thế? Bởi lẽ, cách bạn nhìn một vấn đề sẽ quyết định cách bạn giải quyết nó. Nếu chỉ chăm chăm vào "gai", bạn sẽ luôn sống trong cảm giác bất an, sợ hãi và u uất. Ngược lại, nếu biết tìm kiếm "hoa hồng" trong bụi gai, bạn sẽ nhìn thấy cơ hội trong thách thức. Một học sinh đối mặt với thất bại trong kỳ thi, nếu nhìn đó là "gai", họ sẽ gục ngã; nhưng nếu nhìn đó là "hoa hồng" – một bài học để hoàn thiện mình – họ sẽ đứng dậy mạnh mẽ hơn.

Tuy nhiên, nhìn đời qua lăng kính tích cực không đồng nghĩa với sự lạc quan tếu hay phớt lờ thực tế. Người khôn ngoan là người nhìn thấy cả gai lẫn hoa. Họ nhìn thấy gai để biết cách chạm vào bông hoa mà không bị thương, tức là nhận diện khó khăn để chuẩn bị phương án đối phó, chứ không phải để chùn bước.

Trong xã hội hiện đại, nơi áp lực và những điều tiêu cực dễ dàng lan tỏa, việc giữ cho mình một cái nhìn bao dung và lạc quan là vô cùng cần thiết. Thay vì oán trách bóng tối, hãy học cách thắp lên một ngọn nến. Thay vì nhìn vào những gì mình đã mất, hãy trân trọng những gì mình đang có.

Tóm lại, cuộc sống là một tấm gương, nó sẽ mỉm cười với bạn nếu bạn mỉm cười với nó. Hãy chọn cách nhìn thấy hoa hồng, bởi suy cho cùng, hạnh phúc không phải là một đích đến không có khó khăn, mà là khả năng tìm thấy vẻ đẹp ngay trong những điều bình dị và gian khổ nhất.

Câu 1. (0,5 điểm)

Thể loại: truyện ngắn.

Câu 2. (0,5 điểm)

Đoạn văn thể hiện sự thay đổi đột ngột về trạng thái, biểu cảm của gia đình anh gầy: "Anh gầy bỗng dưng tái mét mặt, ngây ra như phỗng đá, nhưng lát sau thì anh ta toét miệng cười mặt mày nhăn nhúm; dường như mắt anh ta sáng hắn lên. Toàn thân anh ta rúm ró, so vai rụt cổ khúm núm... Cả mấy thứ va-li, hộp, túi của anh ta như cũng co rúm lại, nhăn nhó... Chiếc cằm dài của bà vợ như dài thêm ra; thằng Na-pha-na-in thì rụt chân vào và gài hết cúc áo lại..." Câu 3. (1,0 điểm)

Tình huống truyện: cuộc gặp gỡ giữa hai người bạn học cũ vốn dĩ vui mừng nhưng sau khi biết được cấp bậc của người bạn cũ, anh gầy liền tỏ ra sợ hãi, khép nép và khiến cho người bạn cảm thấy xa cách, chán nản. Chính tình huống này kết hợp với cử chỉ, điệu bộ quá đổi khuôn phép của anh gầy đã đem đến tiếng cười cho câu chuyện.

Câu 4.

những điệu bộ, cử chỉ của anh gầy đối với anh béotrước và sau khi biết được cấp bậc của anh béo:

+ Trước: vui vẻ, xởi lởi giới thiệu về gia đình, công việc và cuộc sống của bản thân.

+ Sau: bất ngờ, rúm ró, khúm núm, khép nép, hành động khuôn phép, xóa đi sự thân mật gần

Câu 5.

văn bản thông qua cuộc gặp gỡ của hai người bạn cũ lâu ngày không ngày. Những tưởng mối quan hệ gần gũi này sẽ giúp họ có một cuộc trò chuyện vui vẻ, thân mật, nhưng sau khi biết cấp bậc của bạn, anh gầy ngay lập tức thay đổi thái độ thân mật ban đầu bằng sự khúm núm của những kẻ nhát gan, sợ hãi trước quyền uy, khiến cho mối quan hệ giữa hai người trở nên xa cách. Thái độ của anh gầy chính là biếu hiện cho nỗi sợ cường quyền của xã hội Nga lúc bấy giờ. Và Sê-khốp đã rất tinh ý, khéo léo khi phát hiện và thế hiện điều đó qua một tình huống truyện giản dị, xen lẫn tiếng cười trào phúng.