Liễu Minh Trang

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Liễu Minh Trang
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)
Câu 1: Đoạn văn về ý nghĩa của tính sáng tạo đối với thế hệ trẻ (khoảng 200 chữ) Trong kỷ nguyên số, tính sáng tạo không chỉ là lợi thế mà còn là yếu tố sống còn đối với thế hệ trẻ. Sáng tạo là khả năng tư duy mới mẻ, tìm ra giải pháp độc đáo cho những vấn đề cũ, giúp người trẻ phá vỡ giới hạn bản thân, không rập khuôn hay thụ động. Đối với cá nhân, sáng tạo mang lại sự đột phá trong học tập và công việc, giúp nâng cao năng suất, tạo ra các sản phẩm, ý tưởng có giá trị riêng, từ đó khẳng định thương hiệu cá nhân và dễ dàng đạt được thành công trong thị trường lao động đầy cạnh tranh. Hơn nữa, nó giúp người trẻ nuôi dưỡng tư duy linh hoạt, khả năng thích ứng cao trước những thay đổi nhanh chóng của thời đại. Đối với xã hội, thế hệ trẻ sáng tạo chính là nguồn năng lượng thúc đẩy sự phát triển bền vững, biến các ý tưởng khô khan thành những dự án thiết thực, mang lại tiến bộ khoa học và văn hóa. Tuy nhiên, sáng tạo cần đi liền với đạo đức và kiến thức vững chắc, tránh sự khác biệt lập dị vô nghĩa. Tóm lại, sáng tạo là chìa khóa mở ra cánh cửa tương lai, là trách nhiệm và niềm vinh dự của thanh niên hiện nay. [123] Câu 2: Bài văn cảm nhận về con người Nam Bộ qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo (truyện Biển người mênh mông) I. Mở bài
Nguyễn Ngọc Tư là cây bút đặc sắc của văn học đương đại, nổi tiếng với những trang viết đậm đặc hồn quê Nam Bộ [Chú thích]. Truyện ngắn "Biển người mênh mông" không chỉ kể câu chuyện về tình yêu, sự cô đơn mà còn khắc họa rõ nét vẻ đẹp con người vùng đất sông nước: mộc mạc, bình dị, giàu lòng trắc ẩn và chịu nhiều đắng cay nhưng chưa bao giờ thôi hy vọng. Qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, Nguyễn Ngọc Tư đã tái hiện chân dung những con người Nam Bộ "biển người mênh mông" nhưng vô cùng tình nghĩa.
II. Thân bài
1. Nhân vật Phi: Sự kiên cường, trầm lặng và tình thương ẩn giấu
Phi hiện lên là một người đàn ông lôi thôi, ba mươi ba tuổi sống một mình sau khi ngoại qua đời. Anh mang trong mình vết thương của một tuổi thơ thiếu vắng ba, bị má bỏ rơi, sống giữa những nghi ngờ của người đời về nguồn gốc bản thân [1].
  • Sự mộc mạc, bình dị: Phi sống lôi thôi, tóc tai xấp xãi, cách ứng xử cũng không câu nệ, thể hiện lối sống tự do, phóng khoáng, không gò bó theo khuôn mẫu, một nét đặc trưng của con người miền sông nước.
  • Tình người ẩn giấu: Dù bị ba lạnh nhạt và má không quan tâm sát sao, Phi không trách móc, anh âm thầm chấp nhận cuộc sống, tự học tự làm, thể hiện sự cứng cỏi. Đặc biệt, tình cảm của Phi dành cho ngoại và sau này là sự trân trọng lời gửi gắm con bìm bịp của ông Sáu Đèo cho thấy đằng sau vẻ ngoài "lôi thôi" là một trái tim nhân hậu, sống nghĩa tình.
2. Ông Sáu Đèo: Biểu tượng của nỗi đau và sự thủy chung tình nghĩa
Ông Sáu Đèo là hiện thân của những con người sống đời sông nước, rày đây mai đó, nghèo khó nhưng tâm hồn cao thượng.
  • Chuyện đời đắng cay: Ông kể về người vợ bỏ đi sau một lần cãi vã, để lại nỗi ân hận suốt 40 năm. Nỗi đau ấy theo ông suốt cuộc đời, thể hiện qua việc "dời nhà cả thảy ba mươi ba bận", tìm kiếm không ngừng nghỉ chỉ để nói một câu "xin lỗi".
  • Tình người và sự bao dung: Dù nghèo khó, cô đơn, ông Sáu Đèo vẫn giữ trong mình tình người nồng ấm, quan tâm đến Phi. Sự tin tưởng giao con bìm bịp – vật bầu bạn cuối cùng – cho Phi khi cảm thấy mình yếu đi thể hiện sự kết nối tình thân giữa những con người xa lạ giữa chốn thị thành, đúng chất "bán anh em xa, mua láng giềng gần".
  • Sự hy vọng bền bỉ: Dù mang nỗi đau lớn, ông vẫn sống một cách nhân văn, hy vọng, và ra đi một cách nhẹ nhàng, để lại "biển người" mênh mông tình thương.
3. Đặc sắc nghệ thuật
Nguyễn Ngọc Tư sử dụng ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ (qua, bầy hầy, rầy, tía...), giọng văn kể chuyện thủ thỉ, chậm rãi, tạo nên không gian gần gũi, chân thực. Cách xây dựng tâm lý nhân vật tinh tế giúp con người Nam Bộ hiện lên vừa bi thương, vừa đẹp đẽ.
III. Kết bài
Qua nhân vật Phi và ông Sáu Đèo, "Biển người mênh mông" đã khắc họa thành công vẻ đẹp con người Nam Bộ: dù đời sống có mưu sinh vất vả, đau khổ, họ vẫn giữ được sự chân thành, vị tha và sống có tình có nghĩa. Câu chuyện của họ không chỉ là câu chuyện của riêng một vùng đất, mà còn là bài học về tình người, sự thấu cảm giữa con người với con người trong cuộc đời mênh mông này.
Câu 1. Kiểu văn bản:
  • Văn bản thông tin (kết hợp yếu tố miêu tả). [1]
Câu 2. Hình ảnh, chi tiết giao thương thú vị:
  • Người mua bán họp chợ trên xuồng, ghe (xuồng ba lá, tắc ráng, ghe máy).
  • Xuồng con len lỏi khéo léo giữa hàng trăm ghe thuyền.
  • Hàng hóa phong phú: từ trái cây, rau củ đến nông sản, đồ gia dụng, thực phẩm.
  • "Cây bẹo" (sào tre cắm trên ghe treo hàng hóa) giúp khách nhìn thấy từ xa.
  • Rao hàng bằng âm thanh: kèn bấm, kèn đạp (kèn cóc), tiếng rao lảnh lót của các cô gái bán hàng. [1]
Câu 3. Tác dụng của việc sử dụng tên địa danh:
  • Xác định không gian địa lý: Chỉ rõ nơi hình thành và phát triển của văn hóa chợ nổi (Cái Bè, Cái Răng, Phong Điền, Ngã Bảy, Ngã Năm,...).
  • Tăng tính chân thực, cụ thể: Giúp người đọc dễ hình dung và tin tưởng vào nội dung giới thiệu.
  • Thể hiện đặc trưng vùng miền: Nhấn mạnh chợ nổi là nét đặc trưng không thể tách rời của Đồng bằng sông Cửu Long. [1]
Câu 4. Tác dụng của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ (hình ảnh minh họa):
  • Giúp văn bản trực quan, sinh động, dễ hình dung về cảnh họp chợ tấp nập.
  • Tăng tính thuyết phục và hấp dẫn đối với người đọc. [1]
Câu 5. Vai trò của chợ nổi:
  • Kinh tế: Là đầu mối giao thương nông sản lớn, cung cấp nhu yếu phẩm và tạo công ăn việc làm cho người dân sông nước.
  • Văn hóa - Xã hội: Lưu giữ nét văn hóa sông nước đặc trưng, độc đáo; là không gian sinh hoạt cộng đồng thú vị.
  • Du lịch: Là điểm đến hấp dẫn, góp phần phát triển du lịch bền vững cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long. [1]

Các chi tiết không gian trong văn bản: “Héc-to từ biệt Ăng-đro-mác”

Héc-to về tới ngôi nhà êm ấm của mình, nhưng không thấy Ăng-đrô-mác cánh tay trắng ngần trong buồng như thường lệ. Nàng cùng con thơ với cô hầu gái xống áo thướt tha, đúng trên tháp canh nức nở, lòng đắng cay chan chứa nỗi buồn. Vào nhà, Héc-to không trông thấy phu nhân hiền thục của mình. Chàng bước qua ngưỡng cửa, dừng lại, hỏi mấy nô tì: “Này, các ngươi mau nói hết ta hay, phu nhân Ăng-đrô-mác đâu rồi?

Héc-to lẫy lừng, mũ trụ sáng loáng, đáp lời nàng “Phu nhân ơi, cả ta cũng lo lắng khôn nguôi về mọi điều nàng nói. Nhưng sẽ hổ thẹn xiết bao với những chiến binh và những người phụ nữ thành To-roa xống áo thướt tha, nếu ta ở lại đây, như kẻ hèn nhát, đứng nhìn từ xa, tránh không xung trận. Hơn nữa, bầu nhiệt huyết trong ta không cho phép ta làm vậy: từ lâu ta đã học cách luôn ở tuyến đầu, can trường chiến đấu, giành vinh quang cho thân phụ và bản thân

Dứt lời, Héc-to lừng danh cúi xuống muốn ôm con trai vào lòng. Nhưng cậu bé khóc ré lên, nhao nguời về phía nhũ mẫu xống áo thướt tha.

Người cha hồn hậu và người mẹ dịu hiền bật cười. Héc-to tháo ngay mũ trụ sáng loáng của mình đặt xuống đất. Rồi chàng bồng cậu con trai thân yêu lên tay, thơm nó, vừa nâng nó lên cao, đu đưa, vừa khẩn cầu con trai của thần Crô-nốt (Cronos) và các vị thần khác: “Hỡi thần Dớt và các vị thần vĩ đại! Xin hãy cho con trai tôi, cũng được như cha, nổi danh giữa những người Tơ-roa về sức mạnh và trị vì thành I-li-ông thật oai hùng.

Nói rồi, chàng trao cậu con trai yêu quý tận tay cho vợ. Người mẹ ôm chặt con vào bầu ngực thơm tho, cười qua hàng lệ. Lòng Héc-to nhói buốt. Chàng đưa tay vuốt ve nàng rồi cất lời an ủi: “Phu nhân khốn khổ của ta ơi! Nàng đừng dằn vặt lòng mình quá thế!

Dứt lời, chàng nâng mũ trụ đồng thau sáng loáng lên. Còn Ăng-đrô-mác bước về nhà, hàng lệ tuôn rơi, chốc chốc lại ngoái nhìn theo bóng hình phu quân yêu quý.

* Nhận xét : Qua các chi tiết đặc trưng của không gian sử thi rất chân thật , lãng mạn , tràn đầy tình thương yêu gia đình và đất nước . Sự dũng cảm và hy sinh không lãng phí và dành thắng lợi trong vinh quang .


Đề bài: Thuyết phục người khác từ bỏ “thói quen trì hoãn”

* Luận điểm mở đầu:

- Thực trạng của “thói quen trì hoãn”:

+ “ Thói quen trì hoãn” đã dần trở nên phổ biến với giới trẻ hiện nay

+ “Thói quen trì hoãn” đã xảy ra rất nhiều cá nhân bởi trong suy nghĩ của họ cảm thấy lười biếng và chưa muốn làm công việc của mình

+…

- Biểu hiện của “thói quen trì hoãn”:

+ Người có “thói quen trì hoãn” là người có thể là người rất ham chơi ,say mê một thứ gì đó mà không có tâm trí nghĩ đến nhiệm vụ của bản thân.

+ Người có “thói quen trì hoãn” không chỉ là người làm những công việc thừa thãi mà cũng có thể là họ chăm chú quá mức vào một công việc mà họ yêu thích mà quên mất mình còn có nhiệm vụ cần làm của bản thân.

+ Ví dụ như chúng ta vẫn còn là lứa tuổi học sinh cũng không nên dành quá nhiều thời gian cho học tập của bản thân mà cũng nên có thời gian nghỉ ngơi và cân bằng giữa việc học và giải trí để giúp bản thân có nhiều năng lượng và tâm lí tốt để có thể học tập tốt hơn.

* Các giải pháp từ bỏ “ thói quen trì hoãn”

- Để có thể bỏ được “thói quen trì hoãn” chúng ta nên sắp xếp thời gian biểu, chia đều các công việc làm của mình và nhiệm vụ cần làm của bản thân .

- Chúng ta nên dành thời gian cho những công việc có ích cho bản thân, gia đình và xã hội để cuộc sống trờ nên tốt đẹp hơn.

- Từ bỏ “ thói quen trì hoãn” giúp cho bản thân không bị áp lực công việc nhiều , không cảm thấy mệt mỏi nhiều mỗi khi làm việc …

* Tác hại của “ thói quen trì hoãn”

“Thói quen trì hoãn” khiến cho con người trở nên lười biếng, lãng phí thời gian của mình chỉ vì có quá nhiều thời gian , làm cho tư tưởng người có “thói quen trì hoãn” ngày càng lệ thuộc vào thời gian quý báu của chính mình cho những việc làm thừa thãi.

+ “ Thói quen trì hoãn” đã làm cho công việc của người có “thói quen trì hoãn” trờ nên dối trí mỗi khi cần hoàn thành nhiệm vụ của mình , không biết nên bắt đầu từ đâu và cần làm gì để hoàn thành nhiệm vụ của mình một cách tốt nhất.

* Ý nghĩa của việc từ bỏ “thói quen trì hoãn”:

- Từ bỏ “thói quen trì hoãn” giúp cho tư tưởng của con người trở nên nhẹ nhàng hơn và không còn cảm thấy áp lực công việc.

- Từ bỏ “thói quen trì hoãn” giúp chúng ta có nhiều thời gian thư giãn hơn , giúp công việc trở nên chỉnh chu và hoàn hảo nhất.

- Từ bỏ “thói quen trì hoãn” làm cho chúng ta cảm thấy cuộc sống trở nệ dễ dàng hơn, giúp ta yêu cuộc sống này hơn và giúp chúng ta biết trân trọng những gì mình đang có và thời gian quý báu của mình…