Phạm Khánh Ly

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Phạm Khánh Ly
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

a) Xác định kì phân bào và bộ NST: Dựa vào hình ảnh, tế bào đang ở kì giữa của quá trình nguyên phân. Dấu hiệu nhận biết là các nhiễm sắc thể (NST) kép đang co xoắn cực đại và tập trung thành một hàng trên mặt phẳng xích đạo của thoi phân bào. Do có 4 NST kép đang xếp hàng nên bộ NST lưỡng bội của loài này là 2n = 4. b) Tính số tế bào tham gia phân bào: Sau khi quá trình phân bào kết thúc, mỗi tế bào con sẽ mang bộ NST lưỡng bội của loài (2n = 4). Với tổng số 192 NST đếm được, tổng số tế bào con được tạo ra là 192 : 4 = 48 tế bào. Nếu giả định mỗi tế bào ban đầu chỉ thực hiện nguyên phân 1 lần để tạo ra số tế bào con này, thì số tế bào tham gia phân bào ban đầu là 24 tế bào (vì 1 tế bào mẹ tạo ra 2 tế bào con).

Phương pháp nhuộm Gram giúp nghiên cứu các đặc điểm quan trọng của vi khuẩn như hình dạng (cầu khuẩn, trực khuẩn, xoắn khuẩn), cách sắp xếp (đứng riêng lẻ, thành chuỗi hay thành chùm) và đặc biệt là cấu trúc thành tế bào để phân biệt vi khuẩn Gram dương (mắt quan sát thấy màu tím) và Gram âm (mắt quan sát thấy màu đỏ/hồng). Về sinh sản, vi khuẩn chủ yếu thực hiện hình thức phân đôi (ngoài ra còn có nảy chồi hoặc tạo bào tử ở một số loài), và thông qua việc soi kính hiển vi sau khi nhuộm, chúng ta hoàn toàn có thể xác định được vi khuẩn có đang trong quá trình sinh sản hay không nếu bắt gặp hình ảnh tế bào đang thắt lại hoặc kéo dài để chuẩn bị tách đôi.

Dựa vào nguồn năng lượng và nguồn carbon, vi sinh vật được chia thành 4 kiểu dinh dưỡng chính. Quang tự dưỡng sử dụng ánh sáng và CO_2 (như vi khuẩn lam, tảo), trong khi quang dị dưỡng cũng dùng ánh sáng nhưng lấy carbon từ chất hữu cơ (vi khuẩn tía không lưu huỳnh). Đối với các nhóm sử dụng năng lượng hóa học, hóa tự dưỡng lấy năng lượng từ chất vô cơ và carbon từ CO_2 (vi khuẩn nitrat hóa), còn hóa dị dưỡng — nhóm phổ biến nhất bao gồm nấm và vi khuẩn gây bệnh — lấy cả năng lượng và carbon từ các hợp chất hữu cơ có sẵn.

b)Từ \(t = 0\) đến \(t=15\text{s}\): Nam chuyển động thẳng đều, vì đồ thị là một đoạn thẳng có hệ số góc dương (độ dịch chuyển tăng đều theo thời gian).Từ \(t = 15\) đến \(t=25\text{s}\): Nam đứng yên (dừng lại), vì độ dịch chuyển giữ nguyên bằng \(30 \&\text{nbsp};\text{m}\).

c)

  1. Vận tốc trong 15 s đầu (từ 0 đến 15 s):

\(\Delta d_{1} = 30 - 0 = 30 \&\text{nbsp};\text{m} , \Delta t_{1} = 15 \&\text{nbsp};\text{s}\)\(v_{1} = \frac{\Delta d_{1}}{\Delta t_{1}} = \frac{30}{15} = 2 \&\text{nbsp};\text{m}/\text{s} .\)

  1. Vận tốc trung bình trong suốt quá trình chuyển động (từ 0 đến 25 s):

\(\Delta d = 30 - 0 = 30 \&\text{nbsp};\text{m} , \Delta t = 25 \&\text{nbsp};\text{s}\)\(v = \frac{\Delta d}{\Delta t} = \frac{30}{25} = 1,2 \&\text{nbsp};\text{m}/\text{s} .\)

a

t=26,7s

đạt 36 km/h

b

t=60s

dừng hẳn

c

s=540m

quãng đường đến khi dừng