Phạm Phương Trang
Giới thiệu về bản thân
. Cơ chế gây bệnh của virus
Cơ chế gây bệnh của virus dựa trên sự tương tác và phá hủy tế bào chủ:
Phá hủy tế bào: Khi virus nhân lên với số lượng lớn và giải phóng ra ngoài, chúng thường làm tan vỡ tế bào chủ, gây tổn thương trực tiếp đến các mô và cơ quan.
Tiêu tốn nguồn lực: Virus chiếm dụng nguyên liệu và năng lượng của tế bào chủ cho quá trình nhân lên, khiến tế bào không thể thực hiện các chức năng sinh lý bình thường.
Sản sinh độc tố: Một số virus khi nhân lên có thể kích thích tế bào chủ sản sinh ra các chất độc hại hoặc gây ra các phản ứng viêm quá mức (như "bão cytokine").
Gây đột biến: Một số virus có khả năng chèn hệ gene của mình vào hệ gene của tế bào chủ, có thể dẫn đến biến đổi đặc tính tế bào hoặc gây ung thư.Ở vi sinh vật nhân sơ (Vi khuẩn, Vi khuẩn cổ)
Vi sinh vật nhân sơ chủ yếu sinh sản vô tính với các hình thức phổ biến sau:
Phân đôi: Đây là hình thức phổ biến nhất. Tế bào mẹ thắt lại ở giữa, chia thành hai tế bào con giống hệt nhau.
Nảy chồi: Một phần tế bào mẹ phát triển thành chồi, sau đó tách ra thành cơ thể mới (ví dụ: vi khuẩn quang hợp màu đỏ).
Bào tử vô tính: Một số loài như xạ khuẩn sinh sản bằng cách hình thành các chuỗi bào tử ở đầu sợi nấm. Khi gặp điều kiện thuận lợi, bào tử sẽ nảy mầm thành cơ thể mới.
2. Ở vi sinh vật nhân thực (Nấm, Tảo, Động vật nguyên sinh)
Vi sinh vật nhân thực có hình thức sinh sản đa dạng và phức tạp hơn, bao gồm cả vô tính và hữu tính:
Sinh sản vô tính:
Phân đôi: Xảy ra thông qua quá trình nguyên phân (ví dụ: ở động vật nguyên sinh, tảo đơn bào).
Nảy chồi: Thường gặp ở nấm men. Tế bào con mọc ra từ tế bào mẹ, sau đó tách rời hoặc dính liền tạo thành chuỗi.
Bào tử vô tính: Sinh sản bằng các loại bào tử như bào tử trần (ở nấm mốc) hoặc bào tử kín.
Sinh sản hữu tính:
Diễn ra khi điều kiện sống khó khăn hoặc theo chu kỳ.
Hình thức bao gồm: Tiếp hợp (ở nấm men, trùng đế giày) hoặc hình thành các loại bào tử hữu tính thông qua giảm phân (bào tử túi, bào tử đảm)
Quá trình nhân lên của virus (chu trình tan) thường gồm 5 giai đoạn chính:
Giai đoạn hấp phụ: Virus sử dụng các gai glycoprotein (hoặc protein bề mặt) để bám đặc hiệu lên các thụ thể trên bề mặt tế bào chủ.
Giai đoạn xâm nhập:
Phage (virus vi khuẩn): Tiết enzyme lysozyme phá hủy thành tế bào để bơm acid nucleic vào, vỏ protein nằm bên ngoài.
Virus động vật: Đưa cả nucleocapsid vào tế bào chất, sau đó "cởi vỏ" để giải phóng acid nucleic.
Giai đoạn sinh tổng hợp: Virus điều khiển bộ máy di truyền của tế bào chủ để tổng hợp acid nucleic và các loại protein vỏ cho riêng mình.
Giai đoạn lắp ráp: Các thành phần đã tổng hợp (acid nucleic và protein vỏ) được lắp ghép lại với nhau tạo thành các hạt virus hoàn chỉnh.
Giai đoạn phóng thích: Virus phá vỡ màng tế bào chủ để ồ ạt chui ra ngoài hoặc nảy chồi từ từ, tiếp tục xâm nhiễm vào các tế bào khác.
một số thành tựu nổi bật của việc ứng dụng virus trong thực tiễn:
Trong y học và dược phẩm:
Sản xuất vaccine để phòng ngừa các bệnh truyền nhiễm (như vaccine cúm, sởi, bại liệt, COVID-19...).
Sản xuất các chế phẩm sinh học như Interferon (giúp cơ thể chống lại virus), các loại thuốc kháng sinh và hormone (như Insulin) thông qua công nghệ chuyển gene nhờ vector virus.
Liệu pháp gene: Sử dụng virus làm vật vận chuyển (vector) để đưa gene lành vào cơ thể thay thế gene bệnh, hỗ trợ điều trị các bệnh di truyền hoặc ung thư.
Trong nông nghiệp:
Sản xuất thuốc trừ sâu sinh học: Sử dụng các loại virus gây bệnh cho côn trùng (như virus Baculo) để diệt trừ sâu hại mà không gây ô nhiễm môi trường hay độc hại cho con người.
Tạo giống cây trồng kháng bệnh: Dùng virus làm vector để chuyển các gene kháng sâu bệnh, chịu hạn hoặc nâng cao năng suất vào cây trồng.
Trong nghiên cứu khoa học:
Virus được dùng làm mô hình để nghiên cứu cấu trúc di truyền, cơ chế nhân bản của ADN/ARN và các quá trình sinh học cơ bản ở cấp độ phân tử
DNA:-chức năng:DNA có chức năng mang,bảo quản,truyền đạt thông tin di truyền những chỉ dẫn cho tế bào sản sinh ra các loại protein và từ protein tạo nên mọi phân tử cần thiết cấu tạo nên tế bào
RNA:-chức năng:có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp protein :
+RNA thông tin được dùng làm khuôn để tổng hợp protein ở ribosome
+RNA vận chuyển làm nhiệm vụ vận chuyển amino acid đêbs ribosome và tếng hành dịch mã
DNA:-chức năng:DNA có chức năng mang,bảo quản,truyền đạt thông tin di truyền những chỉ dẫn cho tế bào sản sinh ra các loại protein và từ protein tạo nên mọi phân tử cần thiết cấu tạo nên tế bào
RNA:-chức năng:có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp protein :
+RNA thông tin được dùng làm khuôn để tổng hợp protein ở ribosome
+RNA vận chuyển làm nhiệm vụ vận chuyển amino acid đêbs ribosome và tếng hành dịch mã
DNA:-chức năng:DNA có chức năng mang,bảo quản,truyền đạt thông tin di truyền những chỉ dẫn cho tế bào sản sinh ra các loại protein và từ protein tạo nên mọi phân tử cần thiết cấu tạo nên tế bào
RNA:-chức năng:có chức năng tham gia vào quá trình tổng hợp protein :
+RNA thông tin được dùng làm khuôn để tổng hợp protein ở ribosome
+RNA vận chuyển làm nhiệm vụ vận chuyển amino acid đêbs ribosome và tếng hành dịch mã