Trịnh Việt Hưng

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Trịnh Việt Hưng
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1

Kinh tế đóng vai trò là nền tảng vật chất, thúc đẩy sự hưng thịnh của toàn bộ nền văn minh:

Tạo tiềm lực quốc phòng: Nông nghiệp phát triển với chính sách "ngụ binh ư nông" giúp nhà nước có nguồn lương thực dồi dào và lực lượng dự bị quân đội hùng hậu để bảo vệ đất nước.

Thúc đẩy đô thị hóa và giao lưu văn hóa: Sự phát triển của thủ công nghiệp và thương nghiệp hình thành nên các đô thị sầm uất như Thăng Long (Kẻ Chợ), Phố Hiến, Hội An... Đây không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi giao thoa văn hoá giữa các vùng miền và với thế giới (phương Tây, Trung Hoa, Nhật Bản).

Nâng cao đời sống tinh thần: Kinh tế ổn định giúp nhân dân có điều kiện phát triển các loại hình nghệ thuật, lễ hội, xây dựng các công trình kiến trúc đồ sộ (chùa chiền, cung điện) và đóng góp cho sự phát triển rực rỡ của giáo dục, văn học.

Khẳng định vị thế quốc gia: Sự tự chủ về kinh tế giúp Đại Việt giữ vững độc lập, không bị lệ thuộc vào phương Bắc và tạo dựng được uy tín trong quan hệ giao thương khu vực.

Câu 2

Nền văn minh Đại Việt đã xây dựng được một hệ thống chính trị vững mạnh và tự chủ qua nhiều thế kỷ:

Thiết chế quân chủ trung ương tập quyền: Được xác lập và hoàn thiện từ thời Lý - Trần đến thời Lê sơ. Đỉnh cao là cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông, giúp bộ máy nhà nước hoạt động hiệu quả, chặt chẽ từ trung ương đến địa phương.

Hệ thống pháp luật: Ban hành nhiều bộ luật tiêu biểu như Hình thư (thời Lý), Quốc triều hình luật (Luật Hồng Đức thời Lê sơ) – bộ luật đầy đủ và tiến bộ nhất thời phong kiến Việt Nam, bảo vệ quyền lợi quốc gia và có những điều luật bảo vệ phụ nữ.

Công tác tuyển chọn hiền tài: Chế độ khoa cử (bắt đầu từ năm 1075) trở thành phương thức chính để tuyển chọn quan lại, tạo ra một tầng lớp trí thức có năng lực quản lý đất nước.

Chủ quyền lãnh thổ: Khẳng định mạnh mẽ nền độc lập và không ngừng mở rộng, bảo vệ bờ cõi thông qua các bản tuyên ngôn độc lập như Nam quốc sơn hà hay Bình Ngô đại cáo.

Câu 1

Giáo dục Đại Việt đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo nhân tài và xây dựng đất nước:

Hệ thống trường học: Phát triển mạnh mẽ từ trung ương đến địa phương. Năm 1076, vua Lý Nhân Tông cho thành lập Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên của Việt Nam.

Chế độ thi cử: Được tổ chức định kỳ, quy củ để tuyển chọn quan lại. Khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm 1075 (thời Lý). Đến thời Lê sơ, giáo dục và khoa cử đạt đến giai đoạn cực thịnh.

Nội dung học tập: Chủ yếu là Nho giáo (Tứ thư, Ngũ kinh), giúp xây dựng nền tảng đạo đức và lòng trung quân ái quốc.

Ghi danh nhân tài: Việc dựng bia Tiến sĩ tại Văn Miếu (bắt đầu từ năm 1484) để vinh danh những người đỗ đạt là một nét đặc sắc, khuyến khích tinh thần hiếu học

Câu 2

Văn Miếu - Quốc Tử Giám không chỉ là một công trình kiến trúc mà còn là biểu tượng của trí tuệ và văn hóa:

Trung tâm đào tạo nhân tài: Đây là nơi đào tạo hàng nghìn trí thức, quan lại chính trực cho bộ máy nhà nước qua nhiều triều đại, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế.

Thúc đẩy truyền thống hiếu học: Sự tồn tại của Quốc Tử Giám tạo ra động lực học tập trong nhân dân, hình thành truyền thống "tôn sư trọng đạo" và quý trọng người hiền tài.

Bảo tồn và phát triển văn hóa: Là nơi lưu giữ các giá trị tư tưởng, văn hóa dân tộc và các văn bia tiến sĩ – di sản tư liệu quý giá của thế giới, khẳng định nền văn hiến lâu đời của Đại Việt.

Biểu tượng của nền giáo dục: Khẳng định sự tự chủ về văn hóa và giáo dục của dân tộc Việt Nam so với các nước trong khu vực.

a. Chiều dài của lò xo là :45cm

b Để lò xo có chiều dài là 48 cm thì cần treo vật có khối lượng là:800g

. a)Cùng chiều: Xe và người chuyển động với vận tốc 3,375 m/s theo chiều cũ.

b). Ngược chiều: Xe và người chuyển động với vận tốc 0,375 m/s theo chiều cũ của xe.

a:

  • Nội dung chuyển ý đột ngột: từ việc phê phán thói quen dùng điện thoại → sang nói “nó tuy rất tiện lợi…” nhưng không xác định rõ “nó” là gì.
  • Các ý không theo một trình tự lô-gic rõ ràng, khiến mạch văn bị rời rạc.

b:

dấu hiệu :Đại từ “Nó” dùng không rõ toàn chỉ cái gì (điện thoại hay thói quen dùng điện thoại)

Sự lặp lại và chuyển ý giữa “điện thoại thông minh” – “nhu cầu con người” – “sự yên tĩnh trong tâm hồn” không có cầu nối, thiếu quan hệ từ giúp nối mạch.

c:

  • Thống nhất chủ đề: so sánh thói quen đọc sách với việc dùng điện thoại.
  • Dùng đại từ rõ ràng (“điện thoại thông minh”).
  • Thêm quan hệ từ/ từ nối: “chính vì thế”, “mặc dù… nhưng…”


a: Mặc dù có sự lặp lại từ "Hiền tài" ở các câu kề nhau (là một hình thức liên kết/lặp từ vựng), đoạn văn vẫn bị rời rạc vì các câu không liên kết chặt chẽ về mặt ý nghĩa. Mỗi câu đều đưa ra một ý kiến riêng biệt về hiền tài nhưng không phát triển ý theo một trình tự logic hoặc một mối quan hệ nhân quả, giải thích hay đối lập rõ ràng.

b:

lỗi mạch lạc :

lỗi 1:Thiếu sự phát triển ý logic

giải thích:Các ý không theo một trình tự nhất quán. Đoạn văn chuyển đột ngột từ đánh giá phẩm chất (năng lực vượt trội) sang sự tồn tại theo thời gian (thời nào cũng có) và sau đó là kết quả (được nhân dân ghi nhớ), thiếu các từ nối, từ chỉ quan hệ để dẫn dắt người đọc.

lỗi 2:Thiếu chủ đề rõ ràng (trong từng câu)

giải thích: Mặc dù chủ đề chung là "Hiền tài", nhưng mỗi câu là một câu đơn lập (chỉ nói một ý) chứ không phải là câu phát triển ý cho câu trước đó.

lỗi 3:Thiếu liên kết cú pháp

giải thích :Đoạn văn không sử dụng các phương tiện liên kết như từ nối (vì vậy, do đó, tuy nhiên, nói cách khác...) để tạo mối quan hệ giữa các câu, khiến chúng trở nên độc lập về mặt ngữ pháp và ý nghĩa.

a: Đoạn văn trên được coi là một đoạn văn vì nó thể hiện một ý tưởng trọn vẹn và thống nhất (khẳng định con người vốn giàu lòng đồng cảm và vai trò của nghệ sĩ trong việc giữ gìn lòng đồng cảm đó), được phát triển qua một chuỗi các câu có sự liên kết chặt chẽ.

b:Đưa ra quan điểm khái quát: Con người vốn là nghệ thuật, giàu lòng đồng cảm

Giải thích tại sao lòng đồng cảm bị mất đi: Do bị "cách nghĩ của người đời dồn ép". (Có sự nối tiếp ý phủ định từ câu 1).

Giới hạn đối tượng có thể giữ được lòng đồng cảm: "Chỉ có kẻ thông minh" (tức là người nghệ sĩ) mới "không khuất phục" và giữ được lòng đồng cảm dù bị áp bức bên ngoài.

Chốt lại vấn đề: Những người thông minh giữ được lòng đồng cảm ấy chính là nghệ sĩ. (Khẳng định lại và định nghĩa đối tượng).

Về Mạch lạc
​Mạch lạc trong văn bản "Hiền tài là nguyên khí của quốc gia" được thể hiện rất rõ qua sự chỉ phối của một luận đề thống nhất đối với nội dung tất cả các đoạn, các câu.
​Tức là, toàn bộ bài văn đều xoay quanh và phục vụ cho luận điểm chính là vai trò và tầm quan trọng của hiền tài đối với sự tồn vong và phát triển của đất nước.

Về Liên Kết

Xét riêng đoạn 2: Xuất hiện những từ ngữ như "vì vậy", "như thế" khiến cho các câu văn gắn nối thành một dòng liên tục, thể hiện mối quan hệ nguyên nhân - kết quả hoặc giải thích - hệ quả.

Trong mối quan hệ với đoạn 1: Đoạn 2 (chỉ gồm một câu) đã giới thiệu trước đó qua từ "rằng" (thể hiện sự tiếp nối lời trích dẫn hoặc ý giải thích cho câu trước).

​Trong mối quan hệ với đoạn 3: Đoạn 2 nêu các vấn đề mà sau đó sẽ được tiếp nối lại qua từ "lại" (trong câu "lại cho rằng"), thể hiện mối quan hệ bổ sung, đối chiếu hoặc chuyển ý.

quan điểm "chữ bầu lên nhà thơ" được triển khai bằng cách nhấn mạnh rằng tài năng không tự đến, mà một nhà thơ phải lao động miệt mài với ngôn ngữ, coi chữ là sứ mệnh cả đời để kiến tạo nên giá trị thơ ca

lý lẽ 1

Không đồng tình: Thơ gắn liền với những cảm xúc bột phát, "bốc đồng", làm thơ không cần cố gắng.

bằng chứng 1:

* Tôn-xtôi đã chừa lại nhiều lần cuốn tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình.

* Phlô-be cần nhắc chữ trên tiêu lí như một thầy lang bốc những vị thuốc cấm để giết chết người.

* Những câu thơ bốc đồng thường ngắn ngủi.

* Làm thơ không phải đánh quá (may mắn) hay trúng số độc đắc suốt đời.

lý lẽ 2

Không đồng tình: Thơ là vấn đề của những năng khiếu đặc biệt, xa lạ với lao động làm lủi và nỗ lực trau dồi học vấn

bằng chứng 2

* Những câu thơ là kết quả thành tâm kiên trì, một dạ mang đắm đuối.

* Nhà thơ cần học tập và rèn luyện suốt đời.

* Nếu sống bằng vốn trời cho sẽ sớm tàn lụi (ý của tác giả phản bác).

* Dẫn lời Pi-cát-xô nói một câu khá thâm thúy: "Người ta cần rất nhiều thời gian để trở nên trẻ."

* Dẫn lời của nhà thơ Gia-bết muốn nói rằng không có chức nhỏ thơ suốt đời.

* Dẫn lời nhận xét khá nghiêm khắc của nhà thơ lớn Đào Nha về Vích-to Huy-gô.

Nhận xét :

Luận luận chặt chẽ: Đưa dẫn chứng từ các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng

Sử dụng thủ pháp đối chiếu, so sánh: Đánh giá thơ là "đánh quá, trúng số độc đắc" (ý kiến khác) và phản bác.

​Thể hiện sự hiểu biết, trải nghiệm cá nhân rõ ràng: Tuyên bố "Tôi rất biết" và khẳng định thái độ "ghét, không mê" những nhà thơ thân đồng.