Nguyễn Phương Thúy
Giới thiệu về bản thân
Câu 1. Xác định luận đề của văn bản Trả lời: Luận đề của văn bản là: Giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương" (trong đó nhấn mạnh vào tình huống truyện và chi tiết chiếc bóng). Câu 2. Theo người viết, truyện "Chuyện người con gái Nam Xương" hấp dẫn bởi tình huống truyện độc đáo nào? Trả lời: Đó là tình huống thắt nút bằng chi tiết chiếc bóng trên vách. Từ một lời nói ngây thơ của con trẻ về "người cha" trên vách đã dẫn đến nỗi oan khuất thấu trời và cái chết bi thảm của Vũ Nương. Câu 3. Mục đích của việc người viết nhắc đến tình huống truyện ở phần mở đầu văn bản là gì? Trả lời: Nhằm dẫn dắt người đọc vào nội dung phân tích, khẳng định sự tài hoa của Nguyễn Dữ trong việc xây dựng cốt truyện kịch tính, từ đó làm nổi bật chủ đề tư tưởng và sự hấp dẫn của tác phẩm ngay từ đầu. Câu 4. Chi tiết khách quan, chủ quan và mối quan hệ Chi tiết khách quan: Những thông tin về cốt truyện, sự kiện diễn ra trong tác phẩm (ví dụ: Vũ Nương gieo mình xuống dòng sông Hoàng Giang). Chi tiết chủ quan: Những suy nghĩ, đánh giá, cảm xúc của người viết văn bản nghị luận (ví dụ: nỗi xót xa trước cảnh đứa trẻ mồ côi, sự phê phán thói ghen tuông của người cha). Nhận xét mối quan hệ: Hai cách trình bày này kết hợp chặt chẽ, đan xen lẫn nhau. Chi tiết khách quan là cơ sở, bằng chứng; còn chi tiết chủ quan giúp sâu sắc hóa ý nghĩa của bằng chứng đó, tạo nên sức thuyết phục và cảm xúc cho bài nghị luận. Câu 5. Vì sao chi tiết chiếc bóng là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc? Trả lời: Vì nó mang tính đa diện: Thắt nút: Là nguyên nhân trực tiếp gây nên sự nghi ngờ của Trương Sinh và nỗi oan của Vũ Nương. Mở nút: Cũng chính chiếc bóng giúp Trương Sinh hiểu ra sự thật và giải oan cho vợ (dù đã muộn). Giá trị nhân văn: Tố cáo xã hội phong kiến dung túng cho sự độc đoán của người đàn ông và bày tỏ niềm thương cảm cho số phận người phụ nữ.
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính Phương thức biểu đạt chính của văn bản là Nghị luận. Câu 2. Vấn đề được đặt ra trong văn bản Vấn đề chính là: Tầm quan trọng của việc hiện thực hóa ý tưởng bằng cách viết chúng ra để đạt được thành công. Câu 3. Vì sao tác giả khuyến cáo không nên tin tưởng vào não bộ? Dựa trên ngữ cảnh của đoạn trích (dù câu hỏi này hỏi về phần văn bản phía trên đã bị che khuất một phần), có thể hiểu rằng: Não bộ có thể nảy sinh nhiều ý tưởng nhưng cũng rất dễ quên. Việc chỉ giữ ý tưởng trong đầu (tin vào trí nhớ) khiến chúng ta dễ bỏ lỡ những cơ hội phát triển ý tưởng đó thành hiện thực. Câu 4. Những lời khuyên để trở thành người thành công Để trở thành người thành công, tác giả đưa ra các lời khuyên: Sàng lọc ý tưởng: Loại bỏ những ý tưởng ít hữu ích, tập trung vào những ý tưởng có tiềm năng. Viết ý tưởng ra: Đừng chỉ dừng lại ở việc suy nghĩ, hãy ghi chép lại chúng. Phát triển ý tưởng: Bắt đầu bắt tay vào việc thực hiện và nuôi dưỡng những ý tưởng đó. Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả Chặt chẽ và logic: Tác giả đi từ việc xử lý ý tưởng đến việc hành động cụ thể (viết ra). Thuyết phục: Cách đặt vấn đề trực diện, đánh đúng vào tâm lý chung của nhiều người (có nhiều ý tưởng nhưng không thực hiện), từ đó tạo ra sức nặng cho lời khuyên. Ngôn ngữ: Giản dị, gần gũi và giàu tính khích lệ.
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thông tin. Cụ thể là bản tin hoặc bài giới thiệu về di sản văn hóa. Câu 2. Đối tượng thông tin được đề cập đến trong văn bản là gì? Đối tượng thông tin chính là: Phố cổ Hội An và việc nơi này được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới cùng với Khu đền tháp Mỹ Sơn tại Quảng Nam. Câu 3. Phân tích cách trình bày thông tin trong câu văn: "Thương cảng Hội An hình thành từ thế kỷ XVI... vang bóng một thời." Cách trình bày: Thông tin được trình bày theo trình tự thời gian (tuyến tính). Phân tích: Tác giả liệt kê các mốc thời gian quan trọng gắn liền với sự biến đổi của Hội An: Thế kỷ XVI: Giai đoạn hình thành. Thế kỷ XVII-XVIII: Giai đoạn hưng thịnh nhất. Thế kỷ XIX: Giai đoạn suy giảm. Tác dụng: Giúp người đọc dễ dàng hình dung được quá trình lịch sử dài, sự thăng trầm và biến đổi của thương cảng Hội An qua các thời kỳ. Câu 4. Phương tiện phi ngôn ngữ nào được sử dụng? Nêu tác dụng. (Lưu ý: Dựa trên phần văn bản hiển thị, phương tiện phi ngôn ngữ thường là hình ảnh, sơ đồ hoặc số liệu. Ở đoạn trích này chủ yếu thấy số liệu thời gian). Phương tiện: Các con số, mốc thời gian (4-12-1999, thế kỷ XVI, XVII-XVIII, XIX). Tác dụng: Giúp thông tin trở nên chính xác, khách quan và có tính xác thực cao. Giúp người đọc dễ dàng theo dõi và ghi nhớ các mốc lịch sử quan trọng. Câu 5. Mục đích và nội dung của văn bản trên là gì? Mục đích: Cung cấp thông tin xác thực về sự kiện Hội An trở thành di sản thế giới và tóm lược quá trình lịch sử của nơi này nhằm quảng bá, giới thiệu di sản. Nội dung: Thông báo sự kiện ngày 4-12-1999 UNESCO công nhận Phố cổ Hội An là Di sản Văn hóa thế giới. Khẳng định vị thế của tỉnh Quảng Nam khi có hai di sản thế giới (cùng với Mỹ Sơn). Tóm tắt lịch sử hình thành, phát triển và suy yếu của thương cảng Hội An.
Câu 1: Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Đoạn văn tham khảo: Ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là linh hồn, là niềm tự hào của mỗi dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ, việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Sự trong sáng ấy thể hiện ở việc sử dụng đúng chuẩn mực phát âm, chính tả, ngữ pháp và việc lựa chọn từ ngữ tinh tế, giàu sắc thái. Tuy nhiên, hiện nay một bộ phận giới trẻ đang lạm dụng "ngôn ngữ mạng", viết tắt vô tội vạ hoặc chêm xen tiếng nước ngoài một cách khiên cưỡng, làm mất đi vẻ đẹp vốn có của tiếng mẹ đẻ. Giữ gìn sự trong sáng không phải là bài trừ cái mới, mà là tiếp nhận tinh hoa một cách có chọn lọc để làm giàu thêm tiếng Việt. Mỗi cá nhân cần ý thức được trách nhiệm của mình, trau dồi vốn từ, đọc nhiều tác phẩm văn học giá trị và luôn cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói. Bảo vệ tiếng Việt chính là bảo vệ bản sắc văn hóa và sức sống của dân tộc Việt Nam.
Câu 1. Văn bản trên thuộc kiểu văn bản nào? Văn bản thuộc kiểu văn bản nghị luận (cụ thể là nghị luận xã hội/bình luận báo chí). Câu 2. Vấn đề được đề cập đến trong văn bản là gì? Vấn đề chính là hiện tượng "sính ngoại" hình thức của một số tờ báo trong nước khi tóm tắt bài viết bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối chỉ để cho "oai", gây lãng phí không gian thông tin cho người đọc nội địa. Câu 3. Để làm sáng tỏ luận điểm, tác giả đã đưa ra những lí lẽ, bằng chứng nào? Bằng chứng: Nhiều tờ báo, kể cả báo ngành của nhà nước, có "mốt" tóm tắt bài bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối. Lí lẽ: Việc làm này chủ yếu để cho "oai" chứ không thực sự phục vụ người đọc nước ngoài như mục đích ban đầu (so sánh với cách làm của nước ngoài là in mục lục để dịch bài cần đọc). Gây thiệt hại cho người đọc trong nước vì mất đi diện tích cho các thông tin hữu ích khác. Câu 4. Chỉ ra một thông tin khách quan và một ý kiến chủ quan trong văn bản. Thông tin khách quan: "khá nhiều báo, kể cả một số tờ báo của các ngành của nhà nước ta, có cái “mốt” là tóm tắt một số bài chính bằng tiếng nước ngoài ở trang cuối". (Đây là sự thật đang diễn ra). Ý kiến chủ quan: "xem ra để cho “oai”" hoặc "Phải chăng, đó cũng là thái độ tự trọng của một quốc gia khi mở cửa với bên ngoài, mà ta nên suy ngẫm." (Đây là nhận xét, đánh giá riêng của tác giả). Câu 5. Nhận xét về cách lập luận của tác giả. Chặt chẽ và sắc sảo: Tác giả sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu (cách làm của nước ngoài và cách làm "biến tướng" ở ta). Ngôn ngữ phê phán nhẹ nhàng nhưng sâu cay: Sử dụng các từ ngữ như "mốt", "cho oai" để chỉ ra sự lố lăng của hình thức. Nâng tầm vấn đề: Từ một hiện tượng nhỏ trên báo chí, tác giả nâng lên thành vấn đề về lòng tự trọng quốc gia trong bối cảnh hội nhập, khiến người đọc phải suy ngẫm.
câu 1:lục bát
Câu 2:lời đối Thoại
câu3:hệ thống từ láy phong phú và có giá trị biểu cảm cao
Câu4:xót thương ,đồng Cảm sâu sắc,Thuý kiều là người con gái nhân hậu đa cảm
câu5:bài học về lòng nhân ái ,sự đồng cảm và trân trọng cuộc sống hiện tại
My favourite community helper is Mr nam. He is a delivery person in my neighbourhood.He is a friendly qerson . Whenever he delivers something to us, he smiles happily . He sometimes asks me about my study .In addition, he is hard- working and responsible. He delivers goods to my family and other families in the neighbourhood despite the weather.sometimes he has to return twice twice to deliver us a parcel because we are not at home .l really appreciate his manner.In general, Mr Nam is a very dedicated comunity helper who makes our lìe easy and comfortalble