Đoàn Bảo Lâm

Giới thiệu về bản thân

Chào mừng bạn đến với trang cá nhân của Đoàn Bảo Lâm
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
xếp hạng Ngôi sao 1 ngôi sao 2 ngôi sao 1 Sao chiến thắng
0
(Thường được cập nhật sau 1 giờ!)

Câu 1:

Giữ gìn bản sắc quê hương có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với thế hệ trẻ hiện nay. Bản sắc quê hương là những nét đẹp về truyền thống, văn hóa, phong tục, lối sống và con người của mỗi vùng đất. Trong thời đại hội nhập, nhiều giá trị mới xuất hiện khiến giới trẻ dễ bị cuốn theo lối sống hiện đại mà quên đi cội nguồn của mình. Vì vậy, việc giữ gìn bản sắc quê hương giúp mỗi người thêm yêu quê hương, trân trọng những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Đó có thể là gìn giữ tiếng nói, trang phục, lễ hội, món ăn hay những phong tục đẹp của quê hương. Khi hiểu và tự hào về quê hương, thế hệ trẻ sẽ có ý thức bảo vệ và phát huy những giá trị văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, hiện nay vẫn có một số bạn trẻ thờ ơ với truyền thống, chạy theo lối sống thực dụng, xa rời cội nguồn. Mỗi học sinh cần nâng cao ý thức học tập, tìm hiểu lịch sử và văn hóa quê hương để góp phần gìn giữ bản sắc dân tộc trong thời đại mới.

Câu 2:

Quê hương luôn là nguồn cảm hứng bất tận trong văn học Việt Nam. Nếu văn bản ở phần Đọc hiểu khắc họa vẻ đẹp của con người làng biển cùng tình yêu quê hương tha thiết thì bài thơ “Về làng” của Đỗ Việt Tuyển lại gợi lên nỗi nhớ quê da diết của con người khi xa quê. Cả hai tác phẩm đều thể hiện tình yêu quê hương sâu nặng nhưng mỗi văn bản lại có cách thể hiện riêng, tạo nên những giá trị nội dung đặc sắc.

Trong văn bản ở phần Đọc hiểu, quê hương hiện lên qua hình ảnh làng chài ven biển với những con người lao động vất vả nhưng giàu nghị lực. Hình ảnh “mẹ tôi bạc đầu sau những đêm đợi biển” cho thấy nỗi nhọc nhằn, lo âu của người mẹ nơi miền biển. Cuộc sống của họ luôn đối mặt với sóng gió, hiểm nguy nhưng vẫn bền bỉ bám biển để mưu sinh. Đặc biệt, câu thơ “Làng là mảnh lưới trăm năm” đã khắc họa truyền thống lâu đời, sự gắn bó bền chặt giữa con người với quê hương biển cả. Qua đó, tác giả ca ngợi vẻ đẹp của người dân làng biển: cần cù, nhẫn nại, giàu tình yêu thương và thủy chung với quê hương.

Trong khi đó, bài thơ “Về làng” của Đỗ Việt Tuyển lại tập trung thể hiện nỗi nhớ quê hương da diết của con người xa quê. Hình ảnh “mòn lối con đê đầu làng”, “cánh đồng ngang”, “khói bếp lam chiều”, “cánh diều tuổi thơ” đều là những hình ảnh bình dị, thân thuộc của làng quê Việt Nam. Những hình ảnh ấy gợi lên không gian quê hương yên bình, đậm chất truyền thống. Đặc biệt, câu thơ “Tôi đi từ độ đến giờ/ Tóc xanh đã bạc mà chưa tới làng” thể hiện nỗi nhớ quê sâu nặng cùng sự day dứt của con người khi phải xa quê quá lâu. Quê hương không chỉ là nơi chôn nhau cắt rốn mà còn là nơi lưu giữ tuổi thơ, kỉ niệm và những giá trị tinh thần thiêng liêng nhất.

Điểm giống nhau của hai văn bản là đều thể hiện tình yêu quê hương tha thiết và niềm trân trọng những giá trị truyền thống. Quê hương trong cả hai tác phẩm đều hiện lên gần gũi, bình dị nhưng vô cùng thiêng liêng. Đồng thời, cả hai tác giả đều sử dụng những hình ảnh giàu sức gợi để khơi dậy cảm xúc trong lòng người đọc.

Tuy nhiên, mỗi tác phẩm lại có nét riêng. Văn bản Đọc hiểu thiên về ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động nơi làng biển cùng truyền thống bền bỉ của quê hương. Còn bài thơ “Về làng” lại nghiêng về cảm xúc hoài niệm, nỗi nhớ quê da diết của người con xa xứ. Một bên là vẻ đẹp của sự gắn bó, kiên cường trong lao động; một bên là nỗi nhớ và khát vọng được trở về với quê hương yêu dấu.

Qua hai văn bản, người đọc càng hiểu hơn ý nghĩa của quê hương đối với mỗi con người. Quê hương là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống tốt đẹp. Vì vậy, mỗi người cần biết yêu quý, gìn giữ và góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp hơn.


Câu 1.

Thể thơ tự do. (Các dòng thơ có độ dài ngắn khác nhau, không gò bó về số chữ hay cách gieo vần).

Câu 2.

"Cánh buồm nghiêng": Biểu tượng cho sự vất vả, bấp bênh nhưng cũng đầy sức sống của ngư dân.

"Mảnh lưới trăm năm": Biểu tượng cho sự gắn bó lâu đời, bền bỉ và nghề nghiệp đặc trưng truyền đời của người dân làng chài.

"Khoang thuyền ước vọng": Biểu tượng cho khát vọng về một cuộc sống ấm no, đầy đủ sau mỗi chuyến ra khơi.

Câu 3.

Ý nghĩa: Sự hi sinh và lòng kiên nhẫn: Hình ảnh "mẹ bạc đầu" và "đợi biển" gợi lên sự tàn phá của thời gian và nỗi lo âu khắc khoải của người phụ nữ hậu phương.

Cảm xúc: Thể hiện niềm xúc động, sự thấu hiểu và lòng biết ơn sâu sắc của tác giả trước những nhọc nhằn của người thân.

Chủ đề: Làm nổi bật sự khắc nghiệt của nghề biển và vẻ đẹp tâm hồn của con người miền biển: luôn kiên cường, nhẫn nại và đầy tình yêu thương trong gian khó.

Câu 4.

Sự gắn kết bền chặt: "Mảnh lưới" không chỉ là công cụ lao động mà còn là sợi dây liên kết giữa các thế hệ, giữa con người với biển cả.

Bề dày lịch sử: Từ "trăm năm" khẳng định truyền thống lâu đời, sức sống mãnh liệt của làng chài qua bao thăng trầm, bão táp.

Đặc trưng văn hóa: Cuộc sống của dân làng gắn liền mật thiết với biển; mọi hơi thở, nếp nhà ("mái nhà hình mắt lưới") đều thấm đẫm vị mặn mòi và đặc trưng của nghề biển.

Câu 5.

Lao động bền bỉ và nhẫn nại chính là chiếc chìa khóa vạn năng giúp con người mở ra những giá trị đích thực trong cuộc sống. Giống như những ngư dân kiên trì bám biển dù sóng gió, sự nhẫn nại giúp chúng ta vượt qua những nghịch cảnh và thử thách nghiệt ngã của cuộc đời. Khi chúng ta lao động bằng tất cả tâm huyết và sự kiên trì, ta không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn rèn luyện được bản lĩnh và ý chí vững vàng. Những thành quả có được từ sự bền bỉ luôn có giá trị bền vững và mang lại niềm hạnh phúc tự hào sâu sắc. Trong xã hội hiện đại nhiều biến động, đức tính này càng trở nên quan trọng để mỗi cá nhân khẳng định vị thế và đóng góp hữu ích cho cộng đồng. Cuối cùng, chính thái độ lao động kiên tâm ấy sẽ dệt nên một cuộc đời ý nghĩa và rạng rỡ.


Câu1:

Hình tượng người phụ nữ trong bài thơ hiện lên với vẻ đẹp vừa chân thực vừa xót xa. Đó là những con người lao động nghèo, ngày ngày gánh nước bên bờ sông với dáng vẻ lam lũ, vất vả. Những chi tiết như “ngón chân xương xẩu”, “móng dài và đen”, “tóc vỡ xối xả” đã khắc họa rõ nét sự cực nhọc và thiếu thốn của họ. Không chỉ vất vả về thể xác, cuộc đời họ còn mang nặng nỗi buồn khi phải gánh trên vai trách nhiệm mưu sinh và gia đình. Hình ảnh “một bàn tay bám vào đòn gánh, bàn tay kia bám vào mây trắng” vừa thực vừa gợi cảm giác mong manh, như một ước mơ thoát khỏi cuộc sống cơ cực. Đáng chú ý, cuộc đời ấy dường như lặp lại qua nhiều thế hệ: con gái tiếp tục gánh nước, con trai lại ra biển với những giấc mơ xa vời. Qua đó, tác giả thể hiện niềm thương cảm sâu sắc và đặt ra nỗi trăn trở về vòng luẩn quẩn của nghèo đói. Hình tượng người phụ nữ vì thế không chỉ đáng thương mà còn đáng trân trọng.

Câu2:

Trong xã hội hiện đại, hội chứng “burnout” (kiệt sức) đang trở thành vấn đề phổ biến, đặc biệt ở giới trẻ. Đây là trạng thái mệt mỏi kéo dài cả về thể chất lẫn tinh thần, khiến con người mất động lực, giảm hiệu suất học tập và làm việc. Burnout không chỉ là sự mệt mỏi thông thường mà là hệ quả của áp lực tích tụ lâu ngày không được giải tỏa.

Nguyên nhân của burnout đến từ nhiều phía. Trước hết là áp lực học tập, công việc ngày càng lớn khi giới trẻ phải cạnh tranh gay gắt để khẳng định bản thân. Bên cạnh đó, mạng xã hội cũng góp phần khiến nhiều người rơi vào trạng thái so sánh, tự tạo áp lực phải thành công nhanh chóng. Ngoài ra, việc thiếu kỹ năng quản lý thời gian, không cân bằng giữa học tập, làm việc và nghỉ ngơi cũng khiến tình trạng kiệt sức trở nên trầm trọng hơn.

Burnout gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng. Người bị burnout thường cảm thấy chán nản, mất phương hướng, thậm chí có thể rơi vào trạng thái lo âu hoặc trầm cảm. Hiệu quả công việc giảm sút, các mối quan hệ xung quanh cũng bị ảnh hưởng. Về lâu dài, tình trạng này còn ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể chất.

Để hạn chế burnout, mỗi người cần học cách cân bằng cuộc sống. Việc xây dựng thời gian biểu hợp lý, dành thời gian nghỉ ngơi và chăm sóc bản thân là rất quan trọng. Ngoài ra, cần học cách chấp nhận giới hạn của bản thân, không chạy theo những tiêu chuẩn quá cao. Gia đình và xã hội cũng cần tạo môi trường tích cực, giảm áp lực không cần thiết cho giới trẻ.

Tóm lại, burnout là vấn đề đáng quan tâm trong xã hội hiện nay. Việc nhận thức đúng và có biện pháp phòng tránh sẽ giúp giới trẻ duy trì sức khỏe tinh thần, từ đó phát triển bền vững hơn trong học tập và cuộc sống.


Câu 1.

Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. không bị ràng buộc số câu, số chữ, vần nhịp linh hoạt

Câu 2.

Các phương thức biểu đạt trong bài thơ gồm:

Biểu Cảm thể hiện cảm xúc xót xa, thương cảm khắc họa hình ảnh người phụ nữ gánh nước, cảnh sông nước.Tự Sự kể lại những điều “tôi thấy” qua nhiều năm.

Câu 3.

Việc lặp lại câu: “Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi năm và nửa đời tôi thấy” có tác dụng:

Nhấn mạnh thời gian dài đằng đẵng, lặp đi lặp lại cảnh đời cơ cực.

Thể hiện sự ám ảnh, day dứt của tác giả trước số phận con người.

Gợi ra tính bền bỉ nhưng đầy khổ cực của cuộc sống người dân.

Tăng nhịp điệu và cảm xúc cho bài thơ.


Câu 4.

Đề tài: Cuộc sống của những người lao động nghèo vùng sông nước.

Chủ đề: Bài thơ thể hiện niềm thương cảm sâu sắc trước cuộc đời vất vả, lam lũ của người phụ nữ, đồng thời phản ánh vòng luẩn quẩn của nghèo khó qua nhiều thế hệ.

Câu 5.

Bài thơ gợi cho em suy nghĩ:

Cần trân trọng những con người lao động vất vả trong cuộc sống.

Thấy được sự hi sinh thầm lặng của người phụ nữ.

Nhận ra thực tế còn nhiều mảnh đời khó khăn cần được quan tâm.

Từ đó, mỗi người cần sống có trách nhiệm hơn, biết chia sẻ và cố gắng vươn lên.


Câu 1.

Bài thơ viết theo thể thơ tự do (không bị ràng buộc số câu, số chữ, vần điệu linh hoạt).

Câu 2.

Nhịp thơ linh hoạt, biến đổi theo cảm xúc.

Có những câu nhịp chậm, trầm (như “Yêu, là chết ở trong lòng một ít”) tạo cảm giác suy tư.

Có câu dồn dập, day dứt → thể hiện tâm trạng bất an, khắc khoải trong tình yêu.

Câu 3.

Đề tài: Tình yêu.

Chủ đề: Diễn tả những cảm xúc phức tạp, mâu thuẫn của con người khi yêu: vừa say đắm, vừa đau khổ, lo âu, mất mát.

Câu 4.

Gợi ý phân tích hình ảnh: “Yêu, là chết ở trong lòng một ít”

Đây là hình ảnh ẩn dụ đặc sắc.

“Chết” không phải là cái chết thật mà là sự hi sinh, mất mát trong tâm hồn.

Khi yêu, con người trao đi tình cảm dễ tổn thương, đau khổ nếu không được đáp lại.

Nhấn mạnh bản chất vừa đẹp vừa buồn của tình yêu.

Câu 5.

Cảm nhận, suy nghĩ:

Bài thơ khiến em hiểu rằng tình yêu không chỉ có hạnh phúc mà còn có nỗi buồn, sự hi sinh.

Nhắc nhở con người cần trân trọng tình cảm, yêu chân thành nhưng cũng nên biết giữ gìn bản thân.

Thấy được tâm hồn tinh tế, sâu sắc của Xuân Diệu trong việc diễn tả tình yêu.

Câu 1.

Bài thơ viết theo thể thơ tự do (không bị ràng buộc số câu, số chữ, vần điệu linh hoạt).

Câu 2.

Nhịp thơ linh hoạt, biến đổi theo cảm xúc.

Có những câu nhịp chậm, trầm (như “Yêu, là chết ở trong lòng một ít”) tạo cảm giác suy tư.

Có câu dồn dập, day dứt thể hiện tâm trạng bất an, khắc khoải trong tình yêu.

Câu 3.

Đề tài: Tình yêu.

Chủ đề: Diễn tả những cảm xúc phức tạp, mâu thuẫn của con người khi yêu: vừa say đắm, vừa đau khổ, lo âu, mất mát.

Câu 4.

Gợi ý phân tích hình ảnh: “Yêu, là chết ở trong lòng một ít”

Đây là hình ảnh ẩn dụ đặc sắc.

“Chết” không phải là cái chết thật mà là sự hi sinh, mất mát trong tâm hồn.

Khi yêu, con người trao đi tình cảm dễ tổn thương, đau khổ nếu không được đáp lại.

Nhấn mạnh bản chất vừa đẹp vừa buồn của tình yêu.

Câu 5.

Cảm nhận, suy nghĩ:

Bài thơ khiến em hiểu rằng tình yêu không chỉ có hạnh phúc mà còn có nỗi buồn, sự hi sinh.

Nhắc nhở con người cần trân trọng tình cảm, yêu chân thành nhưng cũng nên biết giữ gìn bản thân.

Thấy được tâm hồn tinh tế, sâu sắc của Xuân Diệu trong việc diễn tả tình yêu.

Câu1:

Việc bảo tồn các di tích lịch sử của dân tộc hiện nay là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng và cấp thiết. Những công trình như Vạn Lý Trường Thành hay ở Việt Nam như Hoàng Thành Thanh Long không chỉ là dấu ấn của quá khứ mà còn là minh chứng cho trí tuệ, sức lao động và bản sắc văn hóa của con người qua các thời kì. Tuy nhiên, nhiều di tích đang bị xuống cấp do tác động của thời gian, thiên nhiên và đặc biệt là ý thức chưa tốt của một bộ phận con người như xả rác, vẽ bậy, phá hoại. Điều đó đặt ra trách nhiệm cho toàn xã hội, nhất là thế hệ trẻ, cần nâng cao ý thức giữ gìn, bảo vệ di sản. Nhà nước cần có chính sách trùng tu hợp lí, kết hợp với việc phát triển du lịch bền vững để vừa bảo tồn vừa phát huy giá trị di tích. Bên cạnh đó, mỗi cá nhân cần có hành động cụ thể như tham quan văn minh, tuyên truyền ý thức bảo vệ di sản. Bảo tồn di tích lịch sử không chỉ là giữ lại những công trình xưa cũ mà còn là gìn giữ cội nguồn, truyền thống và niềm tự hào dân tộc cho các thế hệ mai sau.

Câu2:

Bài thơ Đồng dao dành cho người lớn của Nguyễn Trọng Tạo là một tác phẩm giàu tính triết lí, gửi gắm nhiều suy ngẫm sâu sắc về con người và cuộc đời. Mượn hình thức đồng dao vốn gắn với tuổi thơ hồn nhiên nhà thơ đã khéo léo “lật ngược” để nói chuyện người lớn, từ đó tạo nên sự đối lập thú vị và giàu ý nghĩa.

Trước hết, về nội dung, bài thơ thể hiện cái nhìn đa chiều về con người trong xã hội. Những câu thơ ngắn gọn, lặp lại theo kiểu đồng dao nhưng lại chứa đựng những quy luật đời sống: có người tốt kẻ xấu, có thật giả, có xây dựng phá hoại. Qua đó, tác giả muốn nhấn mạnh rằng thế giới người lớn không hề đơn giản, mà đầy mâu thuẫn, phức tạp. Con người phải biết tỉnh táo để nhận ra bản chất của sự việc, không nên nhìn đời một cách ngây thơ như trẻ nhỏ. Đồng thời, bài thơ còn gợi ra những suy tư về cách sống: con người cần hướng tới điều tốt đẹp, biết phân biệt đúng sai, thật giả để hoàn thiện bản thân. Đằng sau giọng điệu tưởng chừng hồn nhiên là những trăn trở về nhân sinh và đạo đức.

Không chỉ có giá trị nội dung, bài thơ còn đặc sắc về nghệ thuật. Trước hết là việc sử dụng thể thơ tự do kết hợp với nhịp điệu và kết cấu của đồng dao. Những câu thơ ngắn, nhịp nhanh, lặp cấu trúc tạo nên âm hưởng vừa quen thuộc vừa ám ảnh. Biện pháp điệp từ, điệp cấu trúc được sử dụng hiệu quả, giúp nhấn mạnh các cặp đối lập và làm nổi bật quy luật cuộc sống. Ngoài ra, giọng điệu bài thơ có sự đan xen giữa hồn nhiên và suy tư, giữa vui tươi và chua xót. Chính sự pha trộn này tạo nên chiều sâu cho tác phẩm: đọc qua tưởng nhẹ nhàng nhưng càng ngẫm càng thấm. Hình ảnh thơ giản dị, gần gũi, không cầu kì nhưng giàu sức gợi, phù hợp với mục đích chuyển tải những thông điệp mang tính triết lí.

Một điểm đặc biệt nữa là cách nhà thơ xây dựng mâu thuẫn và đối lập. Các cặp hình ảnh trái ngược được đặt cạnh nhau liên tiếp, tạo nên sự tương phản rõ nét. Điều này không chỉ làm tăng tính nhịp điệu mà còn giúp người đọc nhận ra những mặt đối lập luôn tồn tại song song trong cuộc sống. Qua đó, tác giả gửi gắm thông điệp: con người cần bản lĩnh để lựa chọn cách sống đúng đắn.

Tóm lại, Đồng dao dành cho người lớn là một bài thơ độc đáo cả về nội dung lẫn nghệ thuật. Tác phẩm không chỉ phản ánh hiện thực đời sống mà còn gợi lên nhiều suy ngẫm sâu sắc về con người và cách sống. Với giọng điệu riêng biệt và cách thể hiện sáng tạo, Nguyễn Trọng Tạo đã để lại một dấu ấn đặc sắc trong lòng người đọc, khiến bài thơ trở thành một tiếng nói vừa giản dị, vừa thấm thía về cuộc đời.


Câu 1.

Văn bản trên thuộc kiểu văn bản thuyết minh (cung cấp thông tin về Vạn Lý Trường Thành).

Câu 2.

Đối tượng thông tin được đề cập là:

Vạn Lý Trường Thành

Câu 3.

Dữ liệu trong văn bản là dữ liệu thứ cấp


Câu 4.

Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ: hình ảnh Vạn Lý Trường Thành trong bài.

Tác dụng:

  • Giúp người đọc hình dung rõ hơn về công trình
  • Tăng tính trực quan, sinh động
  • Làm bài viết hấp dẫn hơn

Câu 5.

Suy nghĩ:Vạn Lý Trường Thành là công trình vĩ đại, thể hiện sức lao động và trí tuệ con người. Tuy nhiên, công trình đang bị xuống cấp nên cần được bảo tồn và gìn giữ.



Câu 1:

Nhân vật lão Goriot trong đoạn trích là hình ảnh tiêu biểu cho một người cha giàu tình yêu thương nhưng có số phận vô cùng bi kịch. Suốt cuộc đời, lão đã hy sinh tất cả vì các con, từ tiền bạc đến danh dự, chỉ mong chúng có cuộc sống sung túc, hạnh phúc. Thế nhưng, chính những đứa con mà lão yêu thương hết mực lại trở nên vô tâm, ích kỉ, đẩy lão vào cảnh nghèo khổ, cô đơn. Trong những giây phút cuối đời, lão Goriot vẫn không ngừng khao khát được gặp các con, vẫn tha thiết gọi tên chúng trong tuyệt vọng. Điều đó cho thấy tình phụ tử thiêng liêng, sâu nặng và vô điều kiện. Đồng thời, những lời nói đầy đau đớn của lão còn bộc lộ sự tủi nhục, bất hạnh khi bị chính con ruột bỏ rơi. Qua nhân vật này, tác giả không chỉ khắc họa một bi kịch cá nhân mà còn phê phán xã hội thực dụng, nơi đồng tiền và danh lợi có thể làm băng hoại tình cảm gia đình.

Câu 2:

Trong xã hội hiện đại, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái đang có những thay đổi đáng kể, trong đó nổi bật là sự xa cách ngày càng gia tăng. Đây là một vấn đề đáng suy ngẫm bởi gia đình vốn là nơi gắn kết yêu thương, là điểm tựa tinh thần quan trọng của mỗi con người.

Sự xa cách giữa cha mẹ và con cái có thể biểu hiện ở nhiều khía cạnh. Trước hết là khoảng cách về thời gian. Cuộc sống hiện đại với nhịp sống nhanh khiến cha mẹ bận rộn với công việc, ít có thời gian quan tâm, trò chuyện cùng con. Ngược lại, con cái cũng bị cuốn vào việc học tập, mạng xã hội, bạn bè, dẫn đến việc ít chia sẻ với cha mẹ. Bên cạnh đó là khoảng cách về tâm lí. Nhiều bạn trẻ ngại tâm sự, không muốn bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc của mình với cha mẹ vì sợ không được thấu hiểu. Trong khi đó, một số bậc phụ huynh lại áp đặt, thiếu lắng nghe, khiến khoảng cách càng lớn hơn.

Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ nhiều phía. Xã hội phát triển kéo theo áp lực công việc, học tập ngày càng tăng. Sự bùng nổ của công nghệ cũng khiến con người dễ bị cuốn vào thế giới ảo mà quên đi sự kết nối thực tế. Ngoài ra, sự khác biệt về thế hệ cũng là một rào cản khiến cha mẹ và con cái khó thấu hiểu nhau.

Hậu quả của sự xa cách là rất đáng lo ngại. Khi thiếu sự gắn kết gia đình, con cái dễ rơi vào cảm giác cô đơn, thiếu điểm tựa tinh thần, thậm chí có thể sa vào những thói quen xấu. Về phía cha mẹ, họ cũng cảm thấy buồn bã, hụt hẫng khi không được con cái chia sẻ. Lâu dần, tình cảm gia đình có thể bị rạn nứt, ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển nhân cách của mỗi người.

Để khắc phục tình trạng này, cả cha mẹ và con cái đều cần có sự thay đổi. Cha mẹ nên dành nhiều thời gian hơn để quan tâm, lắng nghe và tôn trọng suy nghĩ của con. Đồng thời, con cái cũng cần chủ động chia sẻ, bày tỏ tình cảm với cha mẹ, không nên khép kín bản thân. Việc hạn chế sử dụng thiết bị điện tử trong những khoảng thời gian sinh hoạt chung cũng là một cách giúp tăng cường sự gắn kết gia đình.

Tóm lại, sự xa cách giữa cha mẹ và con cái là một vấn đề cần được quan tâm trong xã hội hiện đại. Mỗi người cần ý thức rõ vai trò của mình để giữ gìn và vun đắp tình cảm gia đình nền tảng quan trọng cho một cuộc sống hạnh phúc.


Câu 1.

kể: Ngôi thứ ba (người kể giấu mình, gọi nhân vật là “lão Goriot”, “ông già”, “Eugène”…).

Câu 2.

Đề tài: Tình phụ tử (tình cha con) và bi kịch của người cha bị con ruồng bỏ trong xã hội.

Câu 3.

Cảm nhận về lời nói của lão Goriot:Thể hiện tình yêu con sâu sắc, vô điều kiện của người cha.Dù bị con đối xử tệ bạc, ông vẫn khao khát được gặp con trước khi chết.Lời nói đầy đau đớn, tuyệt vọng, cô đơn làm nổi bật bi kịch tinh thần của ông. Qua đó thấy lão Goriot là người cha nhân hậu, giàu tình cảm nhưng bất hạnh.

Câu 4.

Vì sao lão Goriot vẫn khao khát gặp con:

- Vì tình cha là bản năng, thiêng liêng, không thể dứt bỏ.

- Ông yêu con vô điều kiện, dù bị tổn thương vẫn tha thứ.

- Trong phút cuối đời, ông chỉ mong được nhìn thấy con lần cuối.

Câu 5.

Nhận xét về tình cảnh cuối đời của lão Goriot:

- Cô đơn, nghèo khổ, bệnh tật, không có con bên cạnh.

- Bị chính con gái bỏ rơi, dù đã hy sinh tất cả vì họ.

- Chết trong đau đớn và tuyệt vọng → bi kịch lớn của người cha.
- Phản ánh sự bạc bẽo của xã hội và con người, đồng thời tố cáo lối sống ích kỉ.