viết đoạn văn phân tích nghệ thuật kể chuyện trong văn bản cải ơi cuat nguyễn ngọc tư(20-30 dòng)
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đề thi đánh giá năng lực
Câu 1:
Đoạn thơ trên là một tiếng lòng tha thiết, khẳng định Đoạn thơ trên là một tiếng lòng tha thiết, khẳng định sự gắn bó máu thịt, không thể tách rời giữa con người Việt Nam và biển cả quê hương. Ngay từ những dòng đầu, tác giả đã sử dụng hình ảnh nhân hóa đầy xúc động: "Mẹ Việt Nam quặn mình sinh ta ra từ biển", gợi nhắc về nguồn gốc lịch sử và địa lý thiêng liêng của dân tộc. Biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn hiện lên như một người mẹ hiền "dịu dàng vỗ về", là chiếc nôi bao dung nuôi dưỡng tâm hồn ta qua bao thế hệ. Hình ảnh "hạt muối mặn đỏ au" là một ẩn dụ nghệ thuật độc đáo, kết tinh từ sự nhọc nhằn và tình yêu nồng cháy, sắt son dành cho đất Việt. Đặc biệt, lời khẳng định "Biển là ta, biển là Tổ quốc" đã nâng tầm quan hệ giữa cá nhân và biển đảo lên thành sự đồng nhất về số phận và linh hồn. Mỗi giọt biển được ví như một "tế bào", cho thấy biển đã thấm sâu vào huyết quản, là một phần cơ thể sống của đất nước linh thiêng. Qua ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu suy tư, Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ khơi gợi niềm tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở mỗi chúng ta về trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.sự gắn bó máu thịt, không thể tách rời giữa con người Việt Nam và biển cả quê hương. Ngay từ những dòng đầu, tác giả đã sử dụng hình ảnh nhân hóa đầy xúc động: "Mẹ Việt Nam quặn mình sinh ta ra từ biển", gợi nhắc về nguồn gốc lịch sử và địa lý thiêng liêng của dân tộc. Biển không chỉ là không gian sinh tồn mà còn hiện lên như một người mẹ hiền "dịu dàng vỗ về", là chiếc nôi bao dung nuôi dưỡng tâm hồn ta qua bao thế hệ. Hình ảnh "hạt muối mặn đỏ au" là một ẩn dụ nghệ thuật độc đáo, kết tinh từ sự nhọc nhằn và tình yêu nồng cháy, sắt son dành cho đất Việt. Đặc biệt, lời khẳng định "Biển là ta, biển là Tổ quốc" đã nâng tầm quan hệ giữa cá nhân và biển đảo lên thành sự đồng nhất về số phận và linh hồn. Mỗi giọt biển được ví như một "tế bào", cho thấy biển đã thấm sâu vào huyết quản, là một phần cơ thể sống của đất nước linh thiêng. Qua ngôn ngữ giàu hình ảnh và nhịp điệu suy tư, Nguyễn Phan Quế Mai không chỉ khơi gợi niềm tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở mỗi chúng ta về trách nhiệm bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc.
Nam Cao, ngòi bút hiện thực xuất sắc, đã xây dựng nhân vật Chí Phèo như một hình tượng điển hình của người nông dân bị tha hoá. Chí Phèo vốn là một anh nông dân hiền lành nhưng bị chế độ phong kiến và bọn cường hào áp bức đã biến hành một kẻ say rượu, chỉ biết rạch mặt ăn vạ. Hắn lang thang ở đầu chợ cuối làng, chừi cả làng Vũ Đại trong cơn say để mong có người đáp lại, nhưng cuối cùng chỉ nhận lại sự cô đơn. Bi kịch lớn nhất của Chí Phèo là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người: hắn bị đẩy ra khỏi cộng đồng, mất nhân tính và cả khi thức tỉnh, khao khát làm người lương thiện thì cũng bị từ chối. Tình yêu ngắn ngủi với Thị Nở đã nhen nhóm trong hắn ước mơ về một mái ấm, về bát cháo hành ấm áp tình người, nhưng sự ghê sợ của bà cô Thị Nở đã khiến ước mơ ấy vụt tắt. Không tìm thấy con đường trở lại làm người, Chí Phèo đã giết Bá Kiến và kết liễu đời mình. Cái chết của hắn là lời tố cáo mạnh mẽ xã hội phong kiến thối nát đã cước đi quyền làm người của người nông dân. Liên hệ với số phận của Lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên, ta thấy Nam Cao vẫn luôn đau đáu trước nỗi đau của người nông dân. Lão Hạc nghèo khổ, vợ mất sớm, con trai đi làm đồn điền, chỉ còn lại mảnh vườn và con chó vàng làm kỷ vật. Vì giữ mảnh vườn cho con, lão sống chật vật đến mức phải bán con chó – người bạn thân thiết – rồi sau đó ăn bả chó để tự tử, tránh phải dựa dằm hay ăn cắp của ai. Nếu Chí Phèo bị xã hội tha hoá làm mất quyền làm người thì Lão Hạc lại giữ trọng nhân phẩm trong nghèo đói, chấp nhận cái chết để bảo toàn lòng tự trọng. Hai số phận đối lập nhưng đều cho thấy tình thương yêu sâu sắc của Nam Cao với người nông dân: ông lên án xã hội phong kiến tàn bạo khiến con người hoặc bị tha hoá, hoặc bị dồn đến bước đường cùng; đồng thời trân trọng vẻ đẹp của những con người lam lũ, dù bị đẩy đến tận cùng vẫn giữ được tình người. Qua đó, Nam Cao khẳng định tư tưởng nhân đạo tiến bộ và nghệ thuật xây dựng nhân vật độc đáo, góp phần làm nên giá trị bất hủ của văn học hiện thực Việt Nam.
Việc đan xen lời kể chuyện với lời nhân vật trong đoạn văn này có tác dụng làm sinh động, chân thực câu chuyện và giúp người đọc hiểu rõ hơn tâm trạng, suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật, từ đó khám phá sâu sắc hơn về nội tâm và tính cách của nhân vật đó.
Vì chức năng nhắn tin đã bị khóa vĩnh viễn và không thể mở được em nhé.

Trong truyện ngắn "Cải ơi!", nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã phô diễn một nghệ thuật kể chuyện vừa tự nhiên, vừa điêu luyện, mang đậm dấu ấn cá nhân của vùng sông nước Nam Bộ. Điểm sáng đầu tiên nằm ở cách lựa chọn ngôi kể thứ ba khách quan nhưng điểm nhìn trần thuật lại linh hoạt hòa nhập vào thế giới nội tâm của nhân vật, đặc biệt là ông Năm Nhỏ. Nhờ vậy, người đọc dễ dàng thấu cảm sâu sắc nỗi đau xót, sự dằn vặt và tình yêu thương vô bờ bến của người cha đi tìm con suốt mười hai năm ròng rã. Bên cạnh đó, cốt truyện không đi theo trình tự thời gian tuyến tính thông thường mà được kiến tạo bằng kỹ thuật đồng hiện, đan xen giữa hiện tại lưu lạc tại ngã ba Sương và những ký ức bảng lảng về quá khứ ở quê nhà. Cách tổ chức mạch truyện này giúp tác phẩm không bị đơn điệu, đồng thời làm nổi bật bi kịch kéo dài và sự bế tắc của các thân phận nhỏ bé. Nghệ thuật tạo tình huống truyện của Nguyễn Ngọc Tư cũng đầy nghịch lý và giàu giá trị nhân văn: ông Năm Nhỏ chấp nhận đi ăn trộm, chấp nhận bị bêu rếu trên tivi chỉ với một khao khát duy nhất là để con gái nhìn thấy mình. Chi tiết tiếng kêu "Cải ơi!" vang lên nghẹn ngào ở cuối tác phẩm trở thành một nhãn tự nghệ thuật, một nốt lặng đầy ám ảnh xé tâm can người đọc. Thêm vào đó, ngôn ngữ kể chuyện của tác giả là sự hòa quyện tuyệt vời giữa chất phác, mộc mạc của lời ăn tiếng nói Nam Bộ với chất trữ tình, đậm chất thơ. Những từ ngữ địa phương, những câu văn ngắn, nhịp điệu chậm rãi như những dòng sương thu hút người đọc vào bầu không khí u buồn nhưng ấm áp tình người. Có thể nói, nghệ thuật kể chuyện độc đáo, giàu tính khơi gợi đã góp phần quan trọng làm nên sức sống lâu bền cho "Cải ơi!", biến một câu chuyện tìm con bình dị thành một bài ca bất hủ về tình phụ tử và lòng nhân ái.