Quang Trung và cuộc hành quân thần tốc ra Bắc Cuối năm 1788, tình hình Đại Việt vô cùng rối ren. Sau nhiều năm nội chiến, đất nước bị chia cắt và chính quyền Lê ở Thăng Long ngày càng suy yếu. Trong hoàn cảnh ấy, Lê Chiêu Thống tìm cách dựa vào nhà Thanh để giành lại quyền lực. Tin ấy nhanh chóng truyền đến Phú Xuân. Nguyễn Huệ, lúc đó là một trong những thủ lĩnh quan trọng nhất của phong trào Tây Sơn, biết rằng nếu quân Thanh tiến sâu vào Đại Việt thì tình hình sẽ trở nên cực kỳ nguy hiểm. Quả nhiên, cuối năm 1788, một đạo quân Thanh lớn do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy tiến vào nước ta. Quân Thanh nhanh chóng chiếm được Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị tin rằng quân Tây Sơn không đủ sức chống lại mình. Quân Thanh đóng quân tại Thăng Long và các vùng xung quanh, chuẩn bị đón Tết. Trong khi đó, Nguyễn Huệ đang ở Phú Xuân. Khi nghe tin Thăng Long thất thủ, ông lập tức quyết định đưa quân ra Bắc. Đây không phải một quyết định dễ dàng. Khoảng cách từ Phú Xuân đến Thăng Long rất xa. Quân đội phải hành quân qua nhiều vùng đất, trong khi thời gian còn lại không nhiều. Nếu chậm trễ, quân Thanh sẽ có thời gian củng cố lực lượng. Nguyễn Huệ hiểu điều đó. Ông quyết định phải hành động thật nhanh. Ngày 22 tháng 12 năm 1788, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung. Sau lễ lên ngôi, ông lập tức dẫn đại quân ra Bắc. Trên đường hành quân, quân Tây Sơn liên tục tuyển thêm binh lính. Đến Nghệ An, Quang Trung dừng lại để tổ chức quân đội. Theo các ghi chép lịch sử, ông nói chuyện với quân sĩ và khẳng định rằng quân Thanh đang xâm phạm đất nước, vì vậy tất cả phải đồng lòng đánh giặc. Một người lính trẻ trong đoàn quân lúc ấy có thể đã nghĩ rằng cuộc chiến trước mắt sẽ vô cùng khốc liệt. Không ai biết chính xác họ sẽ phải đi bao xa. Không ai biết mình có thể sống sót trở về hay không. Nhưng đoàn quân vẫn tiếp tục tiến về phía Bắc. Quang Trung không muốn quân lính có thời gian nghỉ quá lâu. Ông hiểu rằng tốc độ chính là lợi thế lớn nhất. Trong khi quân Tây Sơn đang tiến nhanh về Thăng Long, quân Thanh lại đang rất chủ quan. Tôn Sĩ Nghị cho rằng Nguyễn Huệ chưa thể tiến ra Bắc trong thời gian ngắn như vậy. Quân Thanh đã chiếm được Thăng Long nên tin rằng chiến thắng gần như chắc chắn. Họ chuẩn bị đón Tết. Đó chính là sai lầm nghiêm trọng. Quang Trung quyết định tấn công vào đúng thời điểm quân Thanh ít đề phòng nhất. Đêm 30 Tết năm 1789, quân Tây Sơn bắt đầu tiến công. Mục tiêu đầu tiên là đồn Hà Hồi. Đây là một vị trí quan trọng bảo vệ đường tiến vào Thăng Long. Quân Tây Sơn bao vây đồn. Ban đầu, quân Thanh vẫn cố thủ bên trong. Nhưng quân Tây Sơn không lập tức xông vào. Họ tìm cách gây sức ép và yêu cầu quân Thanh đầu hàng. Bên trong đồn, quân Thanh bắt đầu hoang mang. Họ không ngờ quân Tây Sơn có thể xuất hiện nhanh như vậy. Cuối cùng, quân Thanh ở Hà Hồi phải đầu hàng. Sau thắng lợi đầu tiên, quân Tây Sơn tiếp tục tiến lên. Phía trước họ là Ngọc Hồi. Đây là một trong những cứ điểm mạnh nhất của quân Thanh. Quân Thanh đã chuẩn bị phòng thủ rất kỹ. Họ xây dựng chiến lũy, đào hào và bố trí quân lính để ngăn quân Tây Sơn tiến vào. Nếu Ngọc Hồi không bị phá, con đường tiến đến Thăng Long sẽ rất khó khăn. Quân Tây Sơn tiến công. Trận chiến diễn ra vô cùng dữ dội. Quân Thanh bắn ra từ các vị trí phòng thủ. Quân Tây Sơn phải tìm cách tiếp cận mà vẫn hạn chế thương vong. Theo các ghi chép truyền thống, quân Tây Sơn sử dụng những tấm ván ghép lại để làm lá chắn. Bên ngoài được phủ rơm ướt nhằm giảm tác động của lửa. Các chiến sĩ mang những tấm chắn ấy tiến về phía trước. Từng bước. Từng bước. Khoảng cách giữa hai bên ngày càng ngắn. Quân Thanh vẫn chống trả. Nhưng quân Tây Sơn đã tiến quá gần. Cuối cùng, phòng tuyến bị phá vỡ. Quân Thanh bắt đầu rối loạn. Cùng lúc đó, một đạo quân Tây Sơn khác tiến công vào Khương Thượng. Thế trận của quân Thanh tại khu vực Thăng Long nhanh chóng sụp đổ. Tin quân Tây Sơn phá được các cứ điểm quan trọng truyền đến Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị lúc này mới nhận ra rằng tình hình đã vượt khỏi khả năng kiểm soát. Ông ta không tổ chức một cuộc phản công lớn. Thay vào đó, Tôn Sĩ Nghị bỏ chạy về phía Bắc. Quân Thanh cũng tháo chạy theo. Một số binh lính chạy qua cầu để tìm đường rút lui. Trong lúc hỗn loạn, cây cầu bị sập. Rất nhiều người rơi xuống nước. Đường phố trở nên hỗn loạn. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, đội quân Thanh từng chiếm Thăng Long đã tan rã. Quân Tây Sơn tiến vào thành. Quang Trung trở thành người kiểm soát Thăng Long. Chiến thắng ấy diễn ra vào dịp Tết Kỷ Dậu năm 1789. Điều khiến chiến thắng này đặc biệt là tốc độ. Quang Trung đã đưa quân từ Phú Xuân ra Bắc trong một khoảng thời gian rất ngắn, tổ chức lực lượng trên đường đi và tiến hành một chuỗi cuộc tấn công liên tiếp. Quân Thanh chưa kịp chuẩn bị thì các cứ điểm quan trọng đã lần lượt bị đánh chiếm. Sau chiến thắng, Quang Trung không tiếp tục đưa quân tiến sâu vào lãnh thổ nhà Thanh. Ông hiểu rằng đánh bại quân xâm lược chỉ là một phần của vấn đề. Nếu tiếp tục chiến tranh với một quốc gia lớn ở phía Bắc, Đại Việt có thể phải đối mặt với những cuộc xung đột kéo dài. Vì vậy, Quang Trung lựa chọn con đường ngoại giao. Ông muốn giữ vững độc lập nhưng đồng thời tránh một cuộc chiến mới. Chiến thắng năm 1789 từ đó trở thành một trong những chiến thắng quân sự nổi tiếng nhất trong lịch sử Việt Nam. Nhưng nếu nhìn kỹ hơn, câu chuyện không chỉ nói về một vị vua tài giỏi. Nó còn nói về hàng vạn người lính đã hành quân trong những ngày cuối năm, về những người phải chiến đấu giữa mùa đông, về những người không biết mình có trở về được hay không. Họ đi từ Phú Xuân ra Bắc. Họ vượt qua những chặng đường dài. Họ chiến đấu liên tục. Và cuối cùng, họ tiến vào Thăng Long khi năm mới vừa bắt đầu. Có lẽ điều đáng nhớ nhất về Quang Trung không phải chỉ là việc ông đánh thắng quân Thanh. Đó còn là khả năng nhìn thấy thời cơ. Khi đối phương đang chủ quan, ông lựa chọn tấn công. Khi quân đội cần tốc độ, ông tổ chức hành quân thần tốc. Khi chiến tranh kết thúc, ông lại hiểu rằng một đất nước muốn tồn tại lâu dài không thể chỉ dựa vào chiến thắng trên chiến trường. Và vì vậy, chiến thắng mùa xuân năm 1789 không chỉ được nhớ đến như một trận đánh lớn. Nó trở thành câu chuyện về một vị vua quyết đoán, một đội quân hành quân trong những ngày Tết, và một thời khắc khi vận mệnh của cả đất nước được quyết định trong vài ngày ngắn ngủi.
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Một số nét nổi bật trong nghệ thuật quân sự của Nguyễn Huệ - Quang Trung trong cuộc kháng chiến chống quân Xiêm và quân Thanh:
+ Triệt để tận dụng các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”.
+ Tạm thời lui binh, chọn điểm tập kết quân thủy - bộ, vừa để tạo phòng tuyến chặn giặc vừa làm bàn đạp tiến công.
+ Đánh nhiều mũi, nhiều hướng, kết hợp chính binh với kì binh, đánh chính diện và đánh vu hồi, chia cắt, làm tan rã và tiêu diệt quân địch.
+ Hành quân thần tốc, táo bạo, bất ngờ.
Vì vào dịp Tết thì nhà Thanh sẽ lo ăn Tết mà mất cảnh giác, tạo điều kiện cho quân Tây Sơn tấn công
Trong cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược, vì sao vua Quang Trung quyết định tiêu diệt quân giặc vào dịp tết Kỉ Dậu?
Quân Thanh dễ dàng chiếm được Thăng Long, nên chúng chủ quan, kiêu ngạo, cho quân lính mặc sức làm điều phi pháp, tàn ác.
→ Quang Trung quyết định tiêu diệt quân Thanh vào dịp Tết Kỉ Dậu để tạo yếu tố bất ngờ, làm cho quân giặc không kịp trở tay, nhanh chóng thất bại.
Nhận xét nghệ thuật đánh giặc của vua Quang Trung
→ Nghệ thuật quân sự độc đáo, sáng tạo, nổi bật:
- Tư tưởng đánh tiêu diệt
- Tinh thần tiến công chủ động liên tục
- Lối đánh thần tốc, bất ngờ, áp đảo kẻ thù, chắc thắng
⇒ Tác phong chiến đấu dũng cảm, mưu trí, linh hoạt, mãnh liệt
Khoan dừng khoảng chừng 2 giây.
"Trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược xiêm và thanh em có nhận xét gì về cách đánh giặc của Nguyễn Huệ và quang trung"
Cái quái gì vậy?? Quang trung và Nguyễn Huệ là hai cá thể riêng biệt sao, ô mai gút. Đứa nào ra cái đề đúng logic luôn.
Quang Trung Nguyễn Huệ là người anh hùng áo vải đã đánh đổ cả hai tập đoàn thống trị phản động ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, người đã lập nên những chiến công hiển hách chống quân xâm lược Xiêm và Mãn Thanh, thực hiện được khát vọng thống nhất đất nước của dân tộc vào cuối thế kỷ thứ 18.
Nguyễn Huệ là nhà quân sự thiên tài. Trong hoạt động quân sự, ông chủ động tập trung lực lượng đánh vào những mục tiêu chiến lược trọng yếu nhất và hành động liên tục, bất ngờ, chớp nhoáng, quyết liệt làm cho đối phương không kịp đối phó.
Nguyễn Huệ còn là nhà chính trị sáng suốt. Từ mục tiêu trước mắt của phong trào nông dân là đánh đổ chế độ áp bức Trịnh - Nguyễn, Nguyễn Huệ đã vươn lên nhận thức được nhiệm vụ dân tộc là thống nhất đất nước và đánh đuổi ngoại xâm.
Thành công của Nguyễn Huệ về chính trị còn ở việc ông được nhân tài trong nước ủng hộ. Về võ tướng có Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng, Đặng Tiến Đông, Ngô Văn Sở... Ra Thăng Long, Nguyễn Huệ thu phục được Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lịch, Đoàn Nguyễn Tuấn, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp... là những kẻ sĩ đất bắc chí có thực tài, biết thời thế. Ở Phú Xuân, Nguyễn Huệ được sự cộng tác hết ḷòng của Trần Văn Kỳ, một bậc danh sĩ nổi tiếng ở đất Đàng Trong, người có công lớn giúp Nguyễn Huệ tổ chức bộ máy cai trị và giới thiệu cho Nguyễn Huệ những nhân tài trong nước.
Trong 17 năm hoạt động sôi nổi, liên tục, khởi nghĩa Tây Sơn đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ, lập nên những công lao hiển hách:
- Lật đổ các chính quyền phong kiến phản động Nguyễn- Trịnh - Lê.
- Xoá bỏ sự chia cắt đất nước, bước đầu lập lại nền thống nhất quốc gia.
- Đánh tan các cuộc xâm lược của Xiêm, Thanh, bảo vệ được nền độc lập và lãnh thổ của Tổ quốc.
Nguyễn Huệ (1753 – 1792), còn được biết đến là Quang Trung Hoàng đế hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn, bên cạnh Thái Đức Hoàng đế Nguyễn Nhạc. Ông không những là một trong những vị tướng lĩnh quân sự xuất sắc mà còn là một nhà cai trị tài giỏi, đưa ra nhiều cải cách kinh tế, xã hội nổi bật trong lịch sử Việt Nam.
Trị vì : 22 tháng 12 năm 1788 – 16 tháng 9 năm 1792
1)Tước hiệu
2)Niên hiệu
3)Thụy hiệu
4)Miếu hiệu
5)Triều đại
6)Thân phụ
7)Sinh
8)Mất
( bảng dưới)
| Long Nhương Tướng Quân, Bắc Bình Vương, Quang Trung Hoàng Đế |
| Quang Trung: 1788 - 1792 |
| Vũ Hoàng Đế |
| Tây Sơn Thái Tổ |
| Nhà Tây Sơn |
| Nguyễn Phi Phúc |
| 1753 Bình Định, Việt Nam |
| 16 tháng 9, 1792 (38–39 tuổi) Phú Xuân, Việt Nam |
Phong trào Tây Sơn đánh tan các cuộc xâm lược của Xiêm, Thanh, bảo vệ nền độc lập và lãnh thổ của Tổ quốc.
Chiến lược, chiến thuật kháng chiến chống quân Xiêm-Thanh là:
- Quân Xiêm:
+ Ngày 1-1785, Quang Trung chọn khúc sông Tiền từ Rạch Rầm đến Xoài Mút làm trận địa mai phục.
+ Quang Trung cho nhử địch vào trận địa mai phục rồi tiêu diệt.
- Quân Thanh:
+ Năm 1788, lên ngôi hoang đế, đem quân ra Bắc.
+ Mồng 3 Tết đánh Hà Hồi.
+ Mồng 5 Tết đánh Ngọc Hồi.
+ Trưa mồng 5 Tết, đánh đuổi quân Thanh.
CHÚC BẠN THÀNH CÔNG!!!!!!!!!!
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
![]()
* Nguyễn Huệ - Quang Trung (1753 - 1788)
- Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm.
- Ông là trụ cột của nghĩa quân Tây Sơn, có công lao to lớn trong sự nghiệp thống nhất, xây dựng đất nước và kháng chiến chống giặc ngoại xâm.
- Năm 1788, Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh, ông lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Quang Trung.
* Đánh giá vai trò của Nguyễn Huệ trong hai cuộc kháng chiến chống Xiêm và chống Thanh:
- Nguyễn Huệ đã kêu gọi quần chúng nhân dân, liên kết lực lượng, lãnh đạo nghĩa quân trong hai cuộc kháng chiến chống Xiêm và chống Thanh, để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
- Vua Quang Trung được coi là anh hùng áo vải của dân tộc.
Chúc bạn học tốt!
Nhà Tây Sơn gồm ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ. Mỗi người xưng vương một miền. Nguyễn Huệ được mọi người gọi là Bắc Bình Vương. Trong thời kì đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam, những năm cuối thế kỉ XVIII, Lê Chiêu Thông rất lo cho cái ngai vàng mọt rỗng của mình nên đã mở đường cho quân Thanh và Tôn Sĩ Nghị kéo quân vào Thăng Long xâm lược nước ta. Ngày 24 tháng 11, Trần Quang Tuyết chạy vào thành Phú Xuân cấp báo cho Bắc Bình Vương về việc quận Thanh xâm lược nước ta. Nghe được tin cấp báo, Bắc Bình Vương quyết định mở cuộc tấn công ra Bắc đại phá quân Thanh.
Ông cho họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay nhưng mọi người đến họp đều ngăn lại. Theo ý mọi người thì ông nên ban lệnh ân xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau cất quân ta đánh dẹp cõi Bắc vẫn chưa muộn. Bắc Bình Vương lấy làm phải, bèn cho đắp đàn ở trên núi Bân, tế cáo trời đất cùng các thần sông, thần núi. Trong nghi lễ, ngài khoác lên mình chiếc áo long bào có thêu hình rồng uốn lượn lấp loáng, đầu ngài đội mũ miện, cổ đeo chuỗi hạt bằng ngọc, chân đi giày vàng. Trông ngài thật uy nghi và nghiêm trang. Cuốn sách Các triều đại Việt Nam có viết: “Ngài là người có dung mạo đặc biệt. Tóc quán, da sẫm, tiếng nói sang sảng như chuông, mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối”. Toát lên trên gương mặt ngài là vẻ cương nghị, oai phong lẫm liệt và dữ tướng. “Không ai dám nhìn thẳng vào mặt ngài”.
Lễ xong, ngài hạ lệnh xuất quân, hôm ấy là ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788). Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh cả thủy lẫn bộ cùng ra đi. Ngày 29 đến Nghệ An, vua cho gọi Nguyễn Thiếp, một người có tài tiên đoán, vào hỏi về mưu đánh và giữ, cơ được hay thua. Nguyễn Thiếp trả lời: “Chuyến này ra đi không quá mười ngày quân Thanh sẽ bị dẹp tan”. Vua Quang Trung mừng lắm liền sai đại tướng là Hám Hổ Hầu kén lính ở Nghệ An, cứ ba suất đinh thì lấy một người, ai cũng có thân hình vạm vỡ, bắp tay cuồn cuộn. Chưa mấy chốc đã được hơn một vạn quân binh tịnh nhuệ, hàng ngũ thẳng tắp, cờ trông rợp trời, giáo mác sắc nhọn sẵn sàng chiến đấu. Vua cho mở cuộc duyệt binh lớn ở doanh trấn và chia làm bốn doanh: tiền, hậu, tả, hữu là số quân ở Thuận Hóa, Quảng Nam, còn số lính mới tuyển ở Nghệ An thì cho làm trung quân. Quang Trung cưỡi voi ra doanh trại vỗ về quân lính bằng khẩu dụ vang rõ, sang sảng đầy hào khí trước ba quân, khẳng định niềm tin, ý chí quyết thắng của đội quân chính nghĩa.
Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Đêm 30 tháng chạp, vua cho mở tiệc khao quân linh đình, chia quân làm ba đạo và bảo với các tướng đêm 30 lập tức lên đường hẹn ngày mồng 7 năm mới thì vào Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Trong bữa tiệc ai cũng vui mừng, vui chơi thỏa thích. Đúng ngày, cả năm đạo quân đều vâng lệnh, gióng trống lên đường ra Bắc. Để giữ sức chiến đấu cho binh lính, vua cho dùng cáng làm võng, cứ hai người khiêng một người ngủ, luân phiên đi suốt ngày đêm. Khi đến sông Gián, ai nấy đều mệt lử, áo quần lôi thôi, mặt mũi bơ phờ, người bám đầy bụi bặm do hành quân quá dài ai cũng phấn chấn, sẵn sàng chiến đấu.
Thấy quân Tây Sơn kéo đến, nghĩa binh của giặc trấn thủ sông Gián chạy nháo nhác, lúc đến sông Thanh Quyết, toán quân Thanh đi do thám từ đằng xa trông thấy bóng cũng chạy. Vua cho binh lính vây bắt được hết vì vậy quân Thanh không hề có ai chạy về báo tin. Việc tiến quân của quân Tây Sơn hoàn toàn bí mật. Nửa đêm ngày mồng ba tháng giêng, năm Kĩ Dậu (1789), quân Tây Sơn tới đồn ở làng Hà Hồi, huyện Thượng Phúc và lặng lẽ vây kín làng. Vua dùng loa truyền gọi: Quân. Tiếng quân lính luân phiên nhau: Dạ, dạ, ran khắp cả vùng trời để hưởng ứng nghe như có hơn vài vạn người. Trong đồn lúc ấy ai nấy run lẩy bẩy, rụng rời, sợ hãi, liền xin ra hàng, lương thực khí giới đều bị quân ta lấy hết.
Vua lại truyền lấy sáu chục tấm ván, cứ ghép liền ba tấm là một bức, bên ngoài lấy rơm dấp nước phủ kín, tất cả là hai mươi bức, rồi kén hạng lính khỏe mạnh cứ mười người khiêng một bức, lưng giắt dao ngắn. Hai mươi người khác cầm binh khí theo sau, dàn thành hàng ngang. Mờ sáng ngày mồng 5, quân Tây Sơn tiến sát dồn Ngọc Hồi, quân Thanh nổ súng bắn ra nhưng không có hiệu quả. Tiện có gió Bắc, chúng dùng súng phu khói lửa ra, khói tỏa mù trời, cách gang tấc không thấy gì cả. Không ngờ trời bỗng trở gió Nam khiến khói bay ngược lại, quân Thanh tự hại mình. Quân ta gấp rút khiêng ván vừa che vừa xông thẳng lên trước. Khi gươm giáo hai bên chạm nhau thì quăng ván xuống đất, ai cầm dao ngắn thì đâm quân giặc, người cầm binh khí theo sau cũng nhất tề xông tới mà đánh. Quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết. Tướng giặc là Sầm Nghi Đống thắt cổ tự vẫn. Quân Tây Sơn thừa thế chém giết, thây nằm đầy đống, máu chảy thành suối, quân Thanh đại bại.
Trước đó, vua Quang Trung đã sai một toán quân theo bờ đê Uyên Duyên kéo lên, mở cờ gióng trống để làm nghi binh ở phía đông, đến lúc ấy quân Thanh đều hết hồn vía, vội trốn xuống đầm Mực, làng Quỳnh Đô, quân Tây Sơn lùa voi cho giày đạp chết đến hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy, vua Quang Trung tiến binh đến Thăng Long rồi kéo vào thành. Lại nói, không nghe thấy tin cấp báo nên trong ngày Tết quân Thanh chỉ chăm chú yến tiệc. Nào ngờ cuộc vui chưa tàn cơ trời đã đổi. Ngày mồng 4 bỗng thấy quân ở đồn Ngọc Hồi chạy về cấp báo, Tôn Sĩ Nghị sợ mất mặt, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, dặn lính chuồn trước qua cầu phao rồi nhằm hướng bắc mà chạy. Quân sĩ nghe tin hoảng loạn, tan tác bỏ chạy, giành nhau qua cầu sang sông, xô đẩy nhau rơi xuống sông chết rất nhiều. Lát sau cầu bị đứt, quấn linh rơi xuống nước đến nỗi sông Nhị Hà vì thế mà tắc nghẽn không chảy được nữa.
Quân Tây Sơn ăn mừng chiến thắng. Chiến công đại phá quân Thanh đã chứng tỏ nước Việt Nam là một nước mạnh mẽ, có độc lập, chủ quyền. Chiến thắng này đã khắc họa sâu sắc hình tượng người anh hùng mặc áo vải Nguyễn Huệ với tài mưu lược, ý chí kiên cường đấu tranh. Hàng năm dân ta vẫn tổ chức lễ hội Đống Đa để nhớ đến công lao của ông cha ta thời xưa và ôn lại chiến thắng lịch sử hào hùng của dân tộc đã đại phá quân Thanh thần tốc.
- Nguồn: Kể lại cuộc tiến công thần tốc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung
Nhà Tây Sơn gồm ba anh em Nguyễn Huệ, Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ. Mỗi người xưng vương một miền. Nguyễn Huệ được mọi người gọi là Bắc Bình Vương. Trong thời kì đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam, những năm cuối thế kỉ XVIII, Lê Chiêu Thông rất lo cho cái ngai vàng mọt rỗng của mình nên đã mở đường cho quân Thanh và Tôn Sĩ Nghị kéo quân vào Thăng Long xâm lược nước ta. Ngày 24 tháng 11, Trần Quang Tuyết chạy vào thành Phú Xuân cấp báo cho Bắc Bình Vương về việc quận Thanh xâm lược nước ta. Nghe được tin cấp báo, Bắc Bình Vương quyết định mở cuộc tấn công ra Bắc đại phá quân Thanh.
Ông cho họp các tướng sĩ, định thân chinh cầm quân đi ngay nhưng mọi người đến họp đều ngăn lại. Theo ý mọi người thì ông nên ban lệnh ân xá khắp trong ngoài, để yên kẻ phản trắc và giữ lấy lòng người, rồi sau cất quân ta đánh dẹp cõi Bắc vẫn chưa muộn. Bắc Bình Vương lấy làm phải, bèn cho đắp đàn ở trên núi Bân, tế cáo trời đất cùng các thần sông, thần núi. Trong nghi lễ, ngài khoác lên mình chiếc áo long bào có thêu hình rồng uốn lượn lấp loáng, đầu ngài đội mũ miện, cổ đeo chuỗi hạt bằng ngọc, chân đi giày vàng. Trông ngài thật uy nghi và nghiêm trang. Cuốn sách Các triều đại Việt Nam có viết: “Ngài là người có dung mạo đặc biệt. Tóc quán, da sẫm, tiếng nói sang sảng như chuông, mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối”. Toát lên trên gương mặt ngài là vẻ cương nghị, oai phong lẫm liệt và dữ tướng. “Không ai dám nhìn thẳng vào mặt ngài”.
Lễ xong, ngài hạ lệnh xuất quân, hôm ấy là ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân (1788). Vua Quang Trung tự mình đốc suất đại binh cả thủy lẫn bộ cùng ra đi. Ngày 29 đến Nghệ An, vua cho gọi Nguyễn Thiếp, một người có tài tiên đoán, vào hỏi về mưu đánh và giữ, cơ được hay thua. Nguyễn Thiếp trả lời: “Chuyến này ra đi không quá mười ngày quân Thanh sẽ bị dẹp tan”. Vua Quang Trung mừng lắm liền sai đại tướng là Hám Hổ Hầu kén lính ở Nghệ An, cứ ba suất đinh thì lấy một người, ai cũng có thân hình vạm vỡ, bắp tay cuồn cuộn. Chưa mấy chốc đã được hơn một vạn quân binh tịnh nhuệ, hàng ngũ thẳng tắp, cờ trông rợp trời, giáo mác sắc nhọn sẵn sàng chiến đấu. Vua cho mở cuộc duyệt binh lớn ở doanh trấn và chia làm bốn doanh: tiền, hậu, tả, hữu là số quân ở Thuận Hóa, Quảng Nam, còn số lính mới tuyển ở Nghệ An thì cho làm trung quân. Quang Trung cưỡi voi ra doanh trại vỗ về quân lính bằng khẩu dụ vang rõ, sang sảng đầy hào khí trước ba quân, khẳng định niềm tin, ý chí quyết thắng của đội quân chính nghĩa.
Hôm sau, vua Quang Trung hạ lệnh tiến quân. Đêm 30 tháng chạp, vua cho mở tiệc khao quân linh đình, chia quân làm ba đạo và bảo với các tướng đêm 30 lập tức lên đường hẹn ngày mồng 7 năm mới thì vào Thăng Long mở tiệc ăn mừng. Trong bữa tiệc ai cũng vui mừng, vui chơi thỏa thích. Đúng ngày, cả năm đạo quân đều vâng lệnh, gióng trống lên đường ra Bắc. Để giữ sức chiến đấu cho binh lính, vua cho dùng cáng làm võng, cứ hai người khiêng một người ngủ, luân phiên đi suốt ngày đêm. Khi đến sông Gián, ai nấy đều mệt lử, áo quần lôi thôi, mặt mũi bơ phờ, người bám đầy bụi bặm do hành quân quá dài ai cũng phấn chấn, sẵn sàng chiến đấu.
Tk nhé . Thanks !
refer
Sau khi cho quân lính ăn Tết tạm ở ngoài thành thì vua Quang Trung quyết định mở cuộc đại phá quân Thanh vào đúng dịp Tết Kỉ Dậu (1789). Cụ thể là:
- Từ Tam Điệp, Quang Trung chia quân làm 5 đạo:
+ Đạo chủ lực, do Quang Trung trực tiếp chỉ huy, thẳng hướng vào Thăng Long.
+ Đạo thứ hai và thứ ba đánh vào Tây Nam Thăng Long và yểm hộ cho đạo chủ lực.
+ Đạo thứ tư tiến ra phía Hải Dương.
+ Đạo thứ năm, tiến lên Lạng Giang (Bắc Giang), chặn đường rút lui của địch.
- Đêm 30 tết, quân ta vượt sông Gián Khẩu (sông Đáy), tiêu diệt gọn toàn bộ quân địch ở đồn Tiền Tiêu.
- Đêm mùng 3 tết, quân ta bí mật vây đồn Hà Hồi (Thường Tín, Hà Nội). Quân giặc bị đánh bất ngờ, hoảng sợ, hạ vũ khí đầu hàng.
- Sáng mùng 5, quân ta đánh đồn Ngọc Hồi (Thanh Trì, Hà Nội). Cùng lúc đó, đạo quân của đô đốc Long tấn công đồn Đống Đa. Quân Thanh đại bại, tướng giặc là Sầm Nghi Đống khiếp sợ, thắt cổ tự tử.
- Nghe tin đại bại, tướng giặc là Tôn Sĩ Nghị sợ mất vía, vội vã cùng vài võ quan vượt sông Nhị sang Gia Lâm.
- Trưa mùng 5, vua Quang Trung cùng đoàn quân chiến thắng tiến vào Thăng Long giữa muôn vàn tiếng hò reo của dân chúng.
=> Quang Trung đại phá quân Thanh thành công.
- Nguyễn Huệ - Quang Trung (1753 – 1788)
+ Nguyễn Huệ tên thật là Hồ Thơm . Ông là trụ cột của nghĩa quân Tây Sơn, có công lao to lớn trong sự nghiệp thống nhất đất nước giải phóng dân tộc.
+ Năm 1788, Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc tiêu diệt quân Thanh, ông lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu Quang Trung.
- Đánh giá vai trò của Nguyễn Huệ
+ Có công to lớn trong việc đánh bại các thế lực phong kiến Đàng Trong, Đàng Ngoài để thống nhất đất nước, vừa có công trong việc đánh bại quân xâm lược Xiêm, Thanh để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Quang Trung được coi là anh hùng áo vải của dân tộc.
Chọn đáp án: A
Giải thích: Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên thời Trần (thế kỉ XIII), nhà Trần đã sử dụng kế sách “vườn không nhà trống”, chủ động tiến công sang đất Tống sau đó rút lui về phòng vệ trong nước, chớp được thời cơ khi giặc suy yếu đến tột cùng (xem lại trận Như Nguyệt) để đánh thắng quân Mông- Nguyên. Nhưng quân Tây Sơn lại chọn lối đánh thần tốc, táo bạo, bất ngờ, linh hoạt.
👍
hay