K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

21 tháng 7

1. Kiến trúc Cổ đại & Trung đại (Tôn giáo & Cung đình)

Angkor Wat (Siem Reap, Campuchia): Quần thể đền thờ Hindu giáo lớn nhất thế giới, đỉnh cao của kiến trúc Khmer với quy mô đồ sộ và điêu khắc phù điêu tinh xảo.

Borobudur (Magelang, Indonesia): Ngôi đền Phật giáo lớn nhất thế giới gồm 9 tầng tháp xếp chồng, đặc trưng cho sự kết hợp giữa kim tự tháp bậc thang và bảo tháp.

Chùa Shwedagon (Yangon, Myanmar): Ngôi chùa Phật giáo linh thiêng cao 99 mét, nổi bật với ngọn tháp chính dát vàng ròng, trung tâm tâm linh của người dân Myanmar.

Khu đền tháp Bagan (Myanmar): Cánh đồng với hàng ngàn ngôi đền và bảo tháp bằng gạch đỏ xây dựng từ thế kỷ 11 - 13.

Hoàng thành Thăng Long & Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội, Việt Nam): Quần thể kiến trúc Nho học và cung đình truyền thống, tiêu biểu cho hệ thống di sản phong kiến tại Việt Nam.

Khu di tích Ayutthaya (Thái Lan): Cố đô cổ kính với các tàn tích đền thờ, bảo tháp hình quả chuông đặc trưng của Phật giáo Tiểu thừa.

Thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam, Việt Nam): Quần thể tháp Champa bằng gạch đỏ, minh chứng rõ nét của kiến trúc Hindu giáo chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Ấn Độ

Chùa Wat Arun (Bangkok, Thái Lan): Ngôi đền mang ngọn tháp (prang) cao chót vót được khảm bằng hàng triệu mảnh sứ nhỏ.

Tháp That Luang (Viết Chăn, Lào): Biểu tượng Phật giáo quan trọng nhất của Lào với kiến trúc hình nậm rượu độc đáo, đế tháp là các đài sen.

2. Kiến trúc Thuộc địa (Giao thoa Văn hóa)

Khu phố cổ George Town (Penang) & Thành phố Malacca (Malaysia): Di sản UNESCO ghi dấu sự pha trộn độc đáo giữa kiến trúc bản địa Malay với kiến trúc thuộc địa Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh.

Các nhà thờ phong cách Baroque (Philippines): Nhóm 4 nhà thờ cổ như Nhà thờ San Agustin, là sự kết hợp tuyệt đẹp giữa kiến trúc Baroque châu Âu và tay nghề thủ công bản địa.

Thành phố cổ Vigan (Ilocos Sur, Philippines): Thị trấn lưu giữ nguyên vẹn cấu trúc đô thị và những ngôi nhà kết hợp giữa phong cách Tây Ban Nha và bản địa châu Á.

Khu phố cổ Hội An (Quảng Nam, Việt Nam): Thương cảng cổ với kiến trúc pha trộn giữa bản địa Việt, Hoa và Nhật.

3. Kiến trúc Hiện đại & Đương đại (Biểu tượng phát triển)

Tháp Merdeka 118 (Kuala Lumpur, Malaysia): Tòa nhà cao thứ hai thế giới (678,9m) và là biểu tượng tự hào của Đông Nam Á đương đại.

Tòa tháp đôi Petronas (Kuala Lumpur, Malaysia): Từng là tòa tháp đôi cao nhất thế giới, thiết kế lấy cảm hứng từ hình học Hồi giáo.

Tòa tháp Landmark 81 (TP.HCM, Việt Nam): Tòa nhà chọc trời cao nhất Việt Nam (461,2m), biểu tượng của sự phát triển kinh tế đương đại.

Tòa nhà Marina Bay Sands (Singapore): Công trình kiến trúc nổi tiếng toàn cầu với thiết kế hình chiếc thuyền trên ba đỉnh tháp, điểm nhấn của vịnh Marina.

Thánh đường Sultan Omar Ali Saifuddien (Bandar Seri Begawan, Brunei): Một trong những thánh đường Hồi giáo đẹp nhất châu Á, kết hợp hài hòa giữa phong cách Mughal và kiến trúc truyền thống Mã Lai

30 tháng 10 2016

các công trình kiến trúc: thạp luổng.................

12 tháng 10 2017

Hoàng thành Thăng Long được xây dựng vào thế kỷ 11 bởi dưới triều đại nhà Lý, đánh dấu sự độc lập của Đại Việt. Nó được xây dựng trên phần còn lại của một pháo đài có niên đại dưới thời Bắc thuộc từ thế kỷ thứ 7, trên khu vực đất khai hoang được thoát nước trong vùng đồng bằng sông Hồng, Hà Nội ngày nay. Đây là trung tâm quyền lực chính trị cho khu vực trong gần 13 thế kỷ mà không bị gián đoạn. Các tòa nhà Hoàng thành và khu vực khảo cổ còn lại tại 18 Hoàng Diệu đã phản ánh một nền văn hóa ở châu Á, đại diện cho nền văn hóa lúa nước khu vực hạ lưu sông Hồng, tại ngã tư ảnh hưởng từ Trung Quốc ở phía Bắc và Vương quốc Champa cổ ở phía Nam.

12 tháng 10 2023

- Kiến trúc Champa
- Kiến trúc Khmer
- Kiến trúc Đông Dương

12 tháng 11 2016

MÌNH TẢ ĐỀN THỜ ĂNG-CO-VÁT CỦA CAMPUCHIA NHA BẠN !

Angkor Wat nằm cách thị trấn Xiêm Riệp 5.5 km (3.4 dặm) về phía bắc và chếch về phía đông nam của kinh đô cũ, với trung tâm là đền Baphuon. Đây là một khu vực có nhiều kiến trúc cổ quan trọng và là cực nam của cụm di tích chính Angkor.

Truyền thuyết kể rằng Angkor Wat được xây dựng theo lệnh của Indra để làm cung điện cho con trai Precha Ket Mealea.[7] Theo nhà ngoại giao Chu Đạt Quan (thế kỷ 13), một số người tin rằng ngôi đền được xây dựng chỉ trong một đêm bởi một kiến trúc sư nhà Trời.

Việc thiết kế và xây dựng được tiến hành vào nửa đầu thế kỷ 12 dưới thời vua Suryavarman II (trị vì từ năm 1113 - 1150). Thờ thần Vishnu, ngôi đền được coi như thủ đô và đền thờ của nhà vua. Do không tìm thấy tấm bia nền móng cũng như bất kỳ bản khắc nào nhắc đến ngôi đền vào thời đó, tên ban đầu của nó vẫn là một dấu hỏi, nhưng nó có thể đã được gọi là "Varah Vishnu-lok", theo tên của vị thần được thờ. Công việc có vẻ như đã kết thúc sau khi nhà vua băng hà không lâu, dựa vào một số bức điêu khắc vẫn còn dang dở. Năm 1177, 27 năm sau cái chết của Suryavarman II, Angkor bị tàn phá bởi người Chăm Pa, kẻ thù truyền kiếp của người Khmer.Sau đó vua Jayavarman VII đã phục hưng đế quốc và thành lập một thủ đô và đền thờ mới (Angkor Thom và Bayon) cách Angkor Wat vài kilo mét về phía bắc.

Đến cuối thế kỷ 12, Angkor Wat từ một trung tâm tín ngưỡng Ấn Độ giáo dần chuyển sang Phật giáo và tiếp tục cho đến ngày nay. Không giống nhiều ngôi đền Angkor khác, tuy Angkor Wat một phần bị quên lãng từ sau thế kỷ 16, nó không bao giờ hoàn toàn bị bỏ hoang, một phần nhờ con hào bao xung quanh đã bảo vệ ngôi đền khỏi sự xâm lấn của rừng rậm.

Một trong những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến Angkor là António da Madalena, một nhà sư người Bồ Đào Nha đến đây vào năm 1586 và nói rằng "nó là một kiến trúc phi thường mà không giấy bút nào tả xiết, chủ yếu là vì nó không giống bất kỳ công trình nào khác trên thế giới. Nó có những tòa tháp, lối trang trí và tất cả sự tinh xảo mà con người có thể tưởng tượng ra.

Cho đến thế kỷ 17, Angkor Wat vẫn chưa hoàn toàn bị bỏ hoang và có chức năng như một đền thờ Phật giáo. Mười bốn bản khắc chữ có niên đại từ thế kỷ thứ 17 được phát hiện ở khu vực Angkor, cho thấy những người hành hương Phật giáoNhật Bản có thể đã thành lập các khu định cư nhỏ cùng với người dân địa phương Khmer.Cũng vào thời điểm đó, các du khách Nhật nghĩ rằng ngôi đền là khu vườn nổi tiếng Jetavana của Đức Phật, ban đầu nằm trong vương quốc Magadha, Ấn Độ.[14] Bản khắc nổi tiếng nhất kể về Ukondafu Kazufusa, người đón chào năm mới của người Khmer tại Angkor Wat năm 1632.

Giữa thế kỷ 19, nhà tự nhiên học và thám hiểm người Pháp Henri Mouhot đã đến đây và giúp phương Tây biết đến Angkor Wat nhiều hơn bằng các ghi chép của mình. Trong đó ông viết:

"Một trong những ngôi đền đó-một đối thủ của đền Solomon, và được một số Michelangelo thời cổ đại dựng lên - có thể có một chỗ đứng trang trọng bên cạnh những công trình đẹp nhất của chúng ta. Nó vĩ đại hơn tất cả những gì người Hy Lạp hay La Mã để lại cho chúng ta, và thể hiện một sự tương phản đáng buồn cho tình trạng man rợ mà đất nước đang mắc phải."[16]

Mouhot, cũng giống như những người phương Tây khác, khó tin rằng người Khmer có thể xây dựng được ngôi đền và đã ngỡ rằng nó được xây dựng cùng thời với thành Rome. Lịch sử thực sự của Angkor Wat chỉ được ráp nối lại với nhau bởi các bằng chứng nghệ thuật và bút tích được thu thập trong quá trình dọn dẹp và phục dựng trên cả khu vực Angkor. Không có nhà ở hoặc dấu vết gì của việc định cư như đồ dùng nấu ăn, vũ khí hoặc trang phục thường thấy tại các địa điểm cổ đại. Thay vào đó là các bằng chứng của một di tích lịch sử.Angkor Wat nằm cách thị trấn Xiêm Riệp 5.5 km (3.4 dặm) về phía bắc và chếch về phía đông nam của kinh đô cũ, với trung tâm là đền Baphuon. Đây là một khu vực có nhiều kiến trúc cổ quan trọng và là cực nam của cụm di tích chính Angkor.

Truyền thuyết kể rằng Angkor Wat được xây dựng theo lệnh của Indra để làm cung điện cho con trai Precha Ket Mealea.Theo nhà ngoại giao Chu Đạt Quan (thế kỷ 13), một số người tin rằng ngôi đền được xây dựng chỉ trong một đêm bởi một kiến trúc sư nhà Trời.

Việc thiết kế và xây dựng được tiến hành vào nửa đầu thế kỷ 12 dưới thời vua Suryavarman II (trị vì từ năm 1113 - 1150). Thờ thần Vishnu, ngôi đền được coi như thủ đô và đền thờ của nhà vua. Do không tìm thấy tấm bia nền móng cũng như bất kỳ bản khắc nào nhắc đến ngôi đền vào thời đó, tên ban đầu của nó vẫn là một dấu hỏi, nhưng nó có thể đã được gọi là "Varah Vishnu-lok", theo tên của vị thần được thờ. Công việc có vẻ như đã kết thúc sau khi nhà vua băng hà không lâu, dựa vào một số bức điêu khắc vẫn còn dang dở. Năm 1177, 27 năm sau cái chết của Suryavarman II, Angkor bị tàn phá bởi người Chăm Pa, kẻ thù truyền kiếp của người Khmer.Sau đó vua Jayavarman VII đã phục hưng đế quốc và thành lập một thủ đô và đền thờ mới (Angkor Thom và Bayon) cách Angkor Wat vài kilo mét về phía bắc.

Đến cuối thế kỷ 12, Angkor Wat từ một trung tâm tín ngưỡng Ấn Độ giáo dần chuyển sang Phật giáo và tiếp tục cho đến ngày nay. Không giống nhiều ngôi đền Angkor khác, tuy Angkor Wat một phần bị quên lãng từ sau thế kỷ 16, nó không bao giờ hoàn toàn bị bỏ hoang, một phần nhờ con hào bao xung quanh đã bảo vệ ngôi đền khỏi sự xâm lấn của rừng rậm.

Một trong những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến Angkor là António da Madalena, một nhà sư người Bồ Đào Nha đến đây vào năm 1586 và nói rằng "nó là một kiến trúc phi thường mà không giấy bút nào tả xiết, chủ yếu là vì nó không giống bất kỳ công trình nào khác trên thế giới. Nó có những tòa tháp, lối trang trí và tất cả sự tinh xảo mà con người có thể tưởng tượng ra.

Cho đến thế kỷ 17, Angkor Wat vẫn chưa hoàn toàn bị bỏ hoang và có chức năng như một đền thờ Phật giáo. Mười bốn bản khắc chữ có niên đại từ thế kỷ thứ 17 được phát hiện ở khu vực Angkor, cho thấy những người hành hương Phật giáo Nhật Bản có thể đã thành lập các khu định cư nhỏ cùng với người dân địa phương Khmer.Cũng vào thời điểm đó, các du khách Nhật nghĩ rằng ngôi đền là khu vườn nổi tiếng Jetavana của Đức Phật, ban đầu nằm trong vương quốc Magadha, Ấn Độ. Bản khắc nổi tiếng nhất kể về Ukondafu Kazufusa, người đón chào năm mới của người Khmer tại Angkor Wat năm 1632.

Giữa thế kỷ 19, nhà tự nhiên học và thám hiểm người Pháp Henri Mouhot đã đến đây và giúp phương Tây biết đến Angkor Wat nhiều hơn bằng các ghi chép của mình. Trong đó ông viết:

"Một trong những ngôi đền đó-một đối thủ của đền Solomon, và được một số Michelangelo thời cổ đại dựng lên - có thể có một chỗ đứng trang trọng bên cạnh những công trình đẹp nhất của chúng ta. Nó vĩ đại hơn tất cả những gì người Hy Lạp hay La Mã để lại cho chúng ta, và thể hiện một sự tương phản đáng buồn cho tình trạng man rợ mà đất nước đang mắc phải.

Mouhot, cũng giống như những người phương Tây khác, khó tin rằng người Khmer có thể xây dựng được ngôi đền và đã ngỡ rằng nó được xây dựng cùng thời với thành Rome. Lịch sử thực sự của Angkor Wat chỉ được ráp nối lại với nhau bởi các bằng chứng nghệ thuật và bút tích được thu thập trong quá trình dọn dẹp và phục dựng trên cả khu vực Angkor. Không có nhà ở hoặc dấu vết gì của việc định cư như đồ dùng nấu ăn, vũ khí hoặc trang phục thường thấy tại các địa điểm cổ đại. Thay vào đó là các bằng chứng của một di tích lịch sử.

Angkor Wat, nằm ở 13°24′45″B 103°52′0″Đ, là một sự kết hợp độc đáo của chùa chiền và núi. Angkor Wat đạt thiết kế tiêu chuẩn của đền thờ cấp quốc gia và các tiêu chuẩn sau này của phòng trưng bày hiện đại. Ngôi đền là một đại diện của núi Meru, quê hương của các vị thần: các quincunx trung tâm của tháp tượng trưng cho năm đỉnh núi, và các bức tường và hào tượng trưng cho các dãy núi bao quanh và đại dương. Khả năng đi vào các khu vực trên cao của đền thờ càng ngày càng khó, với các giáo dân chỉ được vào tầng thấp nhất.

Không giống như hầu hết các ngôi chùa Khmer, Angkor Wat được định hướng về phía tây hơn là phía đông. Điều này đã khiến nhiều người (kể cả Maurice Glaize và George Coedès) đã kết luận rằng Suryavarman dự định xây đền này làm lăng mộ của mình.Thêm bằng chứng cho quan điểm này là các bức phù điêu, mà tiến hành trong một hướng ngược chiều kim đồng hồ-prasavya trong tiếng Hindu-vì đây là mặt trái của thứ tự bình thường. Nghi lễ diễn ra trong trật tự ngược trong nghi thức tang lễ Brahminic.Nhà khảo cổ học Charles Higham cũng tìm thấy và mô tả một cái lọ có thể là một cái lọ dùng để chứa tro đã được tìm thấy trong tháp trung tâm.Đền đã được đề cử là như là khoản chi phí lớn nhất cho việc xây dựng lăng mộ để lưu trữ xác người chết.Tuy nhiên Freeman và Jacques lưu ý rằng một số ngôi đền khác của Angkor có định hướng khác với định hướng Đông nói chung, và cho rằng việc định hướng Angkor Wat là vì nghi lễ thờ cúng Vishnu, vị thần có liên quan với phương Tây.

Eleanor Mannikka đã đề xuất một lời giải thích thêm về Angkor Wat. Dựa trên định hướng và kích thước của ngôi đền, và trên các nội dung và cách sắp xếp các phù điêu, bà lập luận rằng cấu trúc đền đại diện cho một kỷ nguyên mới với tuyên bố hòa bình dưới thời vua Suryavarman II: "vì các số đo của chu kỳ thời gian mặt trời và mặt trăng đã được gắn vào không gian thiêng liêng của Angkor Wat, nhiệm vụ cai quản đất nước thiêng liêng này được chạm khắc vào phòng và hành lang ngôi đền, với ý ngh...

2 tháng 10 2018

Từ trong thực tiễn chống giặc ngoại xâm,dân ta đã hình thành nghệ thuật chiến tranh nhân dân,toàn dân đánh giặc,nghệ thuật lấy nhỏ thắng lớn,lấy ít địch nhiều,lấy chất lượng cao thắng số lượng đông.

Trong quá trình đó,nghệ thuật quân sự VN từng bước phát triển và được thể hiện rất sinh động trong khởi nghĩa vũ trang,chiến tranh giải phóng trên các phương diện tư tưởng chỉ đạo tác chiến,mưu kế đánh giặc…

Về tư tưởng chỉ đạo tác chiến:

Ông cha ta luôn nắm vững tư tưởng tiến công,coi đó như 1 quy luật để dành thắng lợi trong suốt quá trình chiến tranh.Thực hiện tiến công liên tục mọi lúc,mọi nơi,từ cục bộ đến toàn bộ,để quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi.

Tư tưởng tiến công được xem như sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong quá trình chuẩn bị và tiến hành chiến tranh giữ nước.tư tưởng đó thể hiện rất rõ trong đánh giá đúng kẻ thù,chủ động đề ra kế sách đánh,phòng ,khẩn trương chuẩn bị lực lượng kháng chiến,tìm mọi biện pháp làm cho địch suy yếu,tạo ra thế và thời cơ có lợi để tiến hành phản công,tiến công…

2 tháng 10 2018

lạc đề rồi nguyễn hải yến

12 tháng 10 2023

Tham khảo
1. Angkor Wat, Campuchia: Là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của đế quốc Khmer, Angkor Wat được xây dựng vào thế kỷ 12 và là một trong những di sản văn hóa thế giới của UNESCO.
2. Tháp Po Nagar, Việt Nam: Là một công trình kiến trúc của đế quốc Champa, Tháp Po Nagar được xây dựng vào thế kỷ 8 và là một trong những di sản văn hóa quốc gia của Việt Nam.
3. Borobudur, Indonesia: Là một ngôi chùa Phật giáo được xây dựng vào thế kỷ 9 ở đảo Java, Borobudur là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của Đông Nam Á và là một trong những di sản văn hóa thế giới của UNESCO.
4. Cổng Thành Hà Nội, Việt Nam: Là một trong những cổng thành cổ nhất của Việt Nam, Cổng Thành Hà Nội được xây dựng vào thế kỷ 10 và là một trong những di sản văn hóa quốc gia của Việt Nam.
5. Tháp Mỹ Sơn, Việt Nam: Là một công trình kiến trúc của đế quốc Champa, Tháp Mỹ Sơn được xây dựng vào thế kỷ 4 và là một trong những di sản văn hóa thế giới của UNESCO.
6. Preah Vihear, Campuchia: Là một ngôi đền Hindu được xây dựng vào thế kỷ 11 trên một ngọn đồi cao ở biên giới giữa Campuchia và Thái Lan, Preah Vihear là một trong những di sản văn hóa thế giới của UNESCO.
7. Chùa Hương, Việt Nam: Là một ngôi chùa nằm trên núi Hương ở Việt Nam, Chùa Hương được xây dựng vào thế kỷ 15 và là một trong những di sản văn hóa quốc gia của Việt Nam.

Câu 1: Nét đặc sắc trong kiến trúc của các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á ?A. Các đền, chùa với kiến trúc độc đáo.B. Ảnh hưởng kiến trúc Ấn Độ.C. Có nhiều đền, chùa đẹp.D. Có nhiều đền, tháp nổi tiếng.Câu 2: Các giai cấp cơ bản trong Xã hội phong kiến phương Đông là:A. Địa chủ và nông nô.B. Lãnh chúa phong kiến và nông nô.C. Địa chủ và nông dân lĩnh canh.D. Lãnh chúa phong kiến...
Đọc tiếp

Câu 1: Nét đặc sắc trong kiến trúc của các quốc gia phong kiến ở Đông Nam Á ?

A. Các đền, chùa với kiến trúc độc đáo.

B. Ảnh hưởng kiến trúc Ấn Độ.

C. Có nhiều đền, chùa đẹp.

D. Có nhiều đền, tháp nổi tiếng.

Câu 2: Các giai cấp cơ bản trong Xã hội phong kiến phương Đông là:

A. Địa chủ và nông nô.

B. Lãnh chúa phong kiến và nông nô.

C. Địa chủ và nông dân lĩnh canh.

D. Lãnh chúa phong kiến và nông dân lĩnh canh.

Câu 3: Các giai cấp cơ bản trong Xã hội phong kiến châu Âu là:

A. Địa chủ và nông nô.

B. Lãnh chúa phong kiến và nông dân lĩnh canh.

C. Địa chủ và nông dân lĩnh canh.

D. Lãnh chúa phong kiến và nông nô.

Câu 4: Địa chủ, lãnh chúa bóc lột nông dân và nông nô chủ yếu bằng:

A. Địa tô.

B. Đánh thuế.

C. Tức.

D. Làm nghĩa vụ phong kiến.

Câu 5 : Chế độ quân chủ là gì?

A. Thể chế nhà nước quyền lực phân tán.

B. Thể chế nhà nước do vua đứng đầu.

C. Thể chế nhà nước quyền lực tập trung trong tay địa chủ.

D. Nhà nước phong kiến của địa chủ và lãnh chúa.

3
16 tháng 11 2021

1A 2C 3D 4A 5B

16 tháng 11 2021

Ông on rồi mất tích hơi lâu nhé

24 tháng 12 2021

1. Đặc điểm một số kiến trúc nhà ở đặc trưng ở Việt Nam

Kiểu nhà ở nông thôn: xây chủ yếu bằng vật liệu tự nhiên (lá, gỗ, tre, nứa...) và gạch, ngói. Không ngăn thành phòng, ngoài nhà chính có thêm nhà phụ gọi là nhà bếp.Kiểu nhà ở đô thị: xây chủ yếu bằng gạch, xi măng, bê tông, thép... Bên trong chia thành phòng nhỏ, có nhiều tầng, nội thất hiện đại.Kiểu nhà ở khu vực đặc thù: nhà nổi trên mặt nước, nhà sàn ở vùng núi.
24 tháng 12 2021

TK

Kiểu nhà ở nông thôn: xây chủ yếu bằng vật liệu tự nhiên (lá, gỗ, tre, nứa...) và gạch, ngói. Không ngăn thành phòng, ngoài nhà chính có thêm nhà phụ gọi là nhà bếp.Kiểu nhà ở đô thị: xây chủ yếu bằng gạch, xi măng, bê tông, thép... Bên trong chia thành phòng nhỏ, có nhiều tầng, nội thất hiện đại.Kiểu nhà ở khu vực đặc thù: nhà nổi trên mặt nước, nhà sàn ở vùng núi.
7 tháng 11 2021

Chịu ảnh hưởng của kiến trúc Ấn Độ.