Hãy viết bài viết kể về công chúa huyền trân
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
a.
- Biện pháp nghệ thuật: nói quá "Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới", liệt kê "cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa", "vài phòng tiếp khách, họp Bộ chính trị, làm việc và ngủ", "bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ của các chiến sĩ Trường Sơn" và so sánh " một tác giả phương Tây ca ngợi như một vật thần kì". Tác dụng: Cho ta thấy rõ cuộc sống đạm bạc, giản dị, đơn sơ, mộc mạc của Bác. Khẳng định lại vẻ đẹp giản dị và lối sống thanh tao của Bác.
- PTBĐ: Nghị luận.
Tham khảo:
c. Bác Hồ rất giản dị trong lối sống. Thật vậy điều này là (trợ từ) hoàn toàn đúng. Nó đã được minh chứng rõ nét qua đoạn trích trên trong văn bản "Phong cách Hồ Chí Minh của tác giả Lê Anh Trà. Vậy lối sống giản dị là gì? Đó là lối sống không giàu sang, không có nhiều thứ quý giá mà nó chỉ đơn thuần là những thứ thanh tao, nhã nhặn. Lối sống ấy như phản ánh con người Bác vậy. Người đã khiến cho cả thế giới sửng sốt rằng, chưa có một vị chủ tịch nào lại chỉ mặc bộ quần áo kaki đã cũ kĩ, đi dép cao su, ăn những món ăn hết sức giản đơn. Hằng ngày, Bác chẳng cần ăn uống những đồ quý giá như sơn hào hải vị mà chỉ đơn thuần là cá kho, canh chua. Những món ăn dân dã như những món ăn của người nông dân Việt Nam. Hơn thế nữa, nhà Bác ở cũng chẳng phải là nhà lầu mà chỉ là một căn nhà sàn. Một căn nhà chỉ có vẻn vẹn ba phòng. Bác còn cười nói "Bác chỉ ở có một mình, đâu cần nhà to". Chưa dừng lại ở đó, cạnh bên nhà sàn của Người còn có một ao cá vàng và sân vườn thoáng mát. Khi rảnh rỗi, Bác thường ra đó để tập thể dục và nuôi cá. Ôi, lối sống của Bác thật khiến cho ai nấy đều phải ngưỡng mộ! (câu cảm thán) Và chính con người nhã nhặn, điềm đạm và thanh tao với lối sống giản dị ấy sẽ luôn sống mãi trong trái tim của mỗi người dân nước Việt Nam ta.
Dẫn chứng cụ thể để chứng tỏ lối sống rất bình dị, rất Việt Nam rất phương Đông của Hồ Chí Minh:
+ lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao làm “cung điện” của mình.
+ Chiếc nhà sàn đó cũng chỉ vẻn vẹn có vài phòng tiếp khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngủ, với những đồ đạc rất mộc mạc đơn sơn.
+ bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ của các chiến sĩ Trường Sơn đã được một tác giả phương Tây ca ngợi như một vật thần kì.
+ việc ăn uống của Người cũng rất đạm bạc, với những món ăn dân tộc không chút cầu kì, như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa.
Tham khảo
Thần đồng âm nhạc Mô-da
Một buổi sáng trước khi đi làm, ông Lê-ô-pôn gọi Mô-da đến và trao cho cậu một bản nhạc. Ông muốn con trai mang bản nhạc tới nhà ông chủ rạp hát, đó là món quà của ông Lê-ô-pôn tặng con gái ông chủ rạp hát nhân dịp sinh nhật cô bé.
Mô-da hiếm khi được ra khỏi nhà một mình, mọi cảnh vật trên đường đều rất mới lạ với cậu bé. Trên đường tới nhà ông chủ rạp hát phải qua dòng kênh nhỏ, Mô-da dừng lại trên thành cầu và ngắm nhìn không chán mắt cảnh những chiếc thuyền trôi dưới dòng kênh. Bỗng làn gió mạnh thổi tới, bản nhạc rời khỏi tay Mô-da và bay nhanh xuống dòng kênh.
Mô-da buồn bã quay về nhà, cậu chưa biết sẽ nói gì với cha về chuyện vừa xảy ra. Ông Lê-ô-pôn đi làm chưa về. Mô-da ngồi vào đàn và chơi những khúc nhạc ngắn, trong đầu cậu chợt lóe lên một suy nghĩ. Mô-da liền sáng tác một bản nhạc và mang nó đến nhà ông chủ rạp hát, thay cho bản nhạc đã rơi xuống dòng nước.
Hôm sau, ông Lê-ô-pôn tới chơi nhà ông chủ rạp. Trước khách mời, ông này tươi cười nói với ông Lê-ô-pôn:
- Bản nhạc của bác hay tuyệt. Bác có muốn nghe lại không?
Lê-ô-pôn nhã nhặn cảm ơn. Con gái ông chủ rạp đàn những nốt nhạc đầu tiên. Ông Lê-ô-pôn thoáng giật mình vì thấy đó không phải là khúc nhạc của mình. Ông tiến lại gần cây đàn và nhìn vào bản nhạc. Quả thật như vậy, đó không phải là bản nhạc của ông sáng tác, ông nhận ra những nốt nhạc được viết bởi cậu con trai mình.
Bản nhạc kết thúc, những tiếng vỗ tay vang lên. Ông chủ rạp hồ hởi nói:
- Đó là một khúc nhạc thật trong sáng và đáng yêu. Tôi và con gái rất hài lòng khi nhận được món quà này của bác.
Khi về tới nhà, ông Lê-ô-pôn gọi Mô-da tới và hỏi xem chuyện gì đã xảy ra. Cậu bé kể lại câu chuyện về bản nhạc rơi xuống dòng nước. Ông Lê-ô-pôn không mắng cậu bé, ông chỉ xoa đầu con trai và nói:
- Con đã viết được khúc nhạc thật hay, cha tự hào vì điều đó. Cha tin sau này con sẽ trở thành một nhạc sĩ lớn.
Lời tiên đoán của ông Lê-ô-pôn đã sớm trở thành sự thật. Ít năm sau, Mô-da đã trở thành nhạc sĩ nổi tiếng khắp châu Âu và thế giới.
Câu chuyện trên xảy ra khi Mô-da mới 6 tuổi.
- Truyện thần thoại Việt Nam là thể loại tự sự viết bằng văn xuôi, kể lại sự tích các vị thần sáng tạo ra thế giới tự nhiên và văn hóa, phản ánh nhận thức, cách hình dung của người thời cổ về nguồn gốc của thế giới và đời sống con người. Có thể nói truyện thần thoại được xây dựng bằng những hình ảnh,chi tiết không có thực mà chỉ là hư ảo do con người tưởng ra dựa trên quan niệm về sự tiến hóa loài người mà sau này chỉ có các nhà khoa học mới giải thích được. Đó là những quan niệm theo lối duy vật từ thời xa xưa khi bắt đầu có loài người trên Trái Đất. Nhằm phản ánh quá trình sáng tạo văn học con người thời cổ đại.
- Thần thoại Việt Nam có thể phân ra thành các nhóm chính sau đây:
+ Về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên: Thần Trụ Trời, Nữ thần Mặt Trăng,...
+ Về nguồn gốc các loài động thực vật: Cuộc tu bổ các giống vật, thần Lúa,...
+ Về nguồn gốc con người và nguồn gốc các dân tộc ở Việt Nam: Thần Nông, Mười hai bà mụ,...
+ Về các anh hùng thời khuyết sử, các anh hùng văn hóa, tổ sư các nghề: Sơn Tinh - Thủy Tinh, Thánh Gióng,...
+ Thần thoại Việt bị truyền thuyết hóa: Truyền thuyết vua Hùng,...
+ Thần thoại còn biến tướng trong Phật thoại, Tiên thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và cả truyện cười: Cóc kiện trời, Chử Đồng Tử ... hoặc mang dấu ấn của xã hội nguyên thủy như Trầu Cau, Hòn Vọng Phu,...
→Thần thoại đã tạo nên cho con người Việt Nam nếp cảm, nếp nghĩ, nếp tư duy đầy hình tượng phóng đại và khoáng đạt.
- Truyện thần thoại Việt Nam là thể loại tự sự viết bằng văn xuôi, kể lại sự tích các vị thần sáng tạo ra thế giới tự nhiên và văn hóa, phản ánh nhận thức, cách hình dung của người thời cổ về nguồn gốc của thế giới và đời sống con người.
- Thần thoại Việt Nam có thể phân ra thành các nhóm chính sau đây:
+ Về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên
+ Về nguồn gốc các loài động thực vật
+ Về nguồn gốc con người và nguồn gốc các dân tộc ở Việt Nam
+ Về các anh hùng thời khuyết sử, các anh hùng văn hóa, tổ sư các nghề
+ Thần thoại Việt bị truyền thuyết hóa
+ Thần thoại còn biến tướng trong Phật thoại, Tiên thoại, truyện cổ tích, truyện ngụ ngôn và cả truyện cười
→ Thần thoại đã tạo nên cho con người Việt Nam nếp cảm, nếp nghĩ, nếp tư duy đầy hình tượng phóng đại và khoáng đạt.
Trong câu: ''“Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và có lẽ cả thế giới, có một vị Chủ tịch nước lấy chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao làm “cung điện” của mình. ''
Cách viết này, tác giả tránh được vi phạm phương châm về chất vì đây là những sự kiện có thật, người thật.
Tác dụng: Cho thấy sự giản dị của Bác khi chọn ngôi nhà sàn nhỏ cạnh ao để ao, qua đó còn thể hiện sự bất ngờ của các vị thủ tướng nước ngoài về Bác
Công chúa Huyền Trân là con gái vua Trần Nhân Tông. Để mở rộng bờ cõi và giữ hòa hiếu với Champa, bà được gả cho vua Chế Mân, đổi lấy hai châu Ô và Lý cho Đại Việt. Sau khi Chế Mân qua đời, theo tục lệ Champa, bà phải lên giàn hỏa thiêu cùng chồng. May mắn, triều đình nhà Trần đã cứu bà trở về. Huyền Trân được nhớ đến như biểu tượng của sự hy sinh vì đất nước.
tham khảo
Công chúa Huyền Trân là một nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, được nhiều thế hệ nhắc đến như biểu tượng của lòng yêu nước và sự hy sinh vì lợi ích dân tộc. Bà là con gái của vua Trần Nhân Tông, em gái của vua Trần Anh Tông, sống vào thời nhà Trần.
Năm 1306, để thắt chặt mối quan hệ hòa hiếu giữa Đại Việt và vương quốc Chăm Pa, Công chúa Huyền Trân được gả cho vua Chế Mân. Đổi lại, Chế Mân đã dâng hai châu Ô và Lý cho Đại Việt. Hai vùng đất này sau đó được đổi tên thành Thuận Châu và Hóa Châu, là nền tảng cho quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Nam của đất nước.
Một năm sau, vua Chế Mân qua đời. Theo phong tục của Chăm Pa lúc bấy giờ, hoàng hậu phải lên giàn hỏa để tuẫn táng cùng nhà vua. Biết tin, vua Trần Anh Tông đã cử Trần Khắc Chung sang Chăm Pa đưa Công chúa Huyền Trân trở về Đại Việt. Sau hành trình dài và đầy gian nan, bà đã trở về an toàn.
Cuộc đời của Công chúa Huyền Trân gắn liền với sự hy sinh vì vận mệnh quốc gia. Dù phải rời quê hương và chấp nhận cuộc hôn nhân mang tính chính trị, bà đã góp phần quan trọng vào việc mở rộng bờ cõi nước ta mà không cần đến chiến tranh. Hình ảnh của bà trở thành biểu tượng của đức hy sinh, lòng yêu nước và tinh thần đặt lợi ích dân tộc lên trên hạnh phúc cá nhân.
Ngày nay, tên tuổi Công chúa Huyền Trân vẫn được người dân Việt Nam ghi nhớ và tôn kính. Câu chuyện về bà là một bài học quý giá về lòng yêu nước, sự cống hiến và trách nhiệm đối với quê hương, đất nước.