nội dung bài thơ Miền quê là gì?
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham khảo nha em:
Tế Hanh là người con của xứ sở núi Ấn sông Trà. Đề tài quê hương trở đi trở lại trong thơ ông từ lúc tóc còn xanh cho tới khi đầu bạc! Ông viết về quê hương bằng cảm xúc đậm đà, chân chất và dành cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình một tình yêu thiết tha, sâu nặng.
Bài thơ Quê hương sáng tác năm 1938, khi tác giả mới tròn mười bảy tuổi, đang theo học trung học ở Huế, là nỗi nhớ, là tình yêu nồng nàn đối với quê hương. Mở đầu bài thơ, bằng lời kể mộc mạc, tự nhiên, Tế Hanh giới thiệu: Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới:
Nước bao vấy, cách biển nửa ngày sông. Quê hương nhà thờ là một cù lao nổi giữa bốn bề sông nước. Dân làng sống bằng nghề chài lưới, cuộc đời gắn chặt với biển cả mênh mông. Làng nghèo giống như bao làng biển khác nhưng khi,đi xa, nhà thơ thương nhớ đến quặn lòng. Nhớ nhất là khung cảnh: Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá. Đoàn thuyền nối đuôi nhau rời bến lúc bình minh. Cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp. Bầu trời cao lồng lộng đồng điệu với lòng người phơi phới. Hình ảnh các chàng trai xứ biển vạm vỡ và con thuyền băng băng lướt sóng đã in đậm trong tâm tưởng nhà thơ: Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang.
Hình ảnh so sánh đẹp đẽ và một loạt tính từ, động từ chọn lọc: hăng, phăng, mạnh mẽ, vượt… đã diễn tả đầy ấn tượng khí thế của những con thuyền nối nhau ra khơi, toát lên sức sống khỏe khoắn và một vẻ đẹp hào hùng.
Trong hai câu tiếp theo, tác giả miêu tả cánh buồm bằng sự so sánh độc đáo, bất ngờ và lãng mạn: Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió… Hình ảnh cánh buồm giản dị, quen thuộc hằng ngày bỗng trở nên lớn lao, thiêng liêng và thơ mộng. Nhà thơ cảm thấy đó chính là biểu tượng của hồn làng nên dồn hết tình yêu thương vào ngòi bút để vừa vẽ ra cái hình, vừa thể hiện cái hồn của cánh buồm. So sánh không đơn thuần là làm cho sự vật được miêu tả cụ thể hơn mà đem lại cho nó một vẻ đẹp bay bổng chứa đựng ý nghĩa lớn lao. Liệu có hình ảnh nào diễn tả chính xác cái hồn của làng chài bằng hình ảnh cánh buồm trắng căng phồng ngọn gió biển khơi? Đem so sánh cánh buồm là vật hữu hình với hồn làng một khái niệm vô hình thì quả là sáng tạo nghệ thuật độc đáo của nhà thơ. Con thuyền ra khơi mang theo những nỗi lo toan cùng niềm tin yêu, hi vọng của bao người. Nhiệt tình và sức sống của con người truyền sang cả vật vô tri khiến cho con thuyền dường như cũng có tâm hồn riêng, sức sống riêng. Nhịp thơ khỏe khoắn, tươi vui thể hiện khí thế sôi nổi và niềm khao khát hạnh phúc ấm no của người dân làng biển. Sáu câu thơ miêu tả đoàn thuyền ra khơi đánh cá vừa là bức tranh phong cảnh thiên nhiên tươi sáng, vừa là bức tranh lao động đầy hứng khởi. Nếu cảnh đoàn thuyền ra khơi được nhà thơ miêu tả bằng bút pháp lãng mạn bay bổng thì cảnh đoàn thuyền đánh cá về bến được tả thực đến từng chi tiết: Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về.
Nhờ ơn trời! biển lặng cá đầy ghe
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng. Dân làng vui mừng đón đoàn thuyền đánh cá trở về trong không khí ồn ào, tấp nập. Những chiếc ghe đầy ắp những con cá tươi ngon thân bạc trắng trông thật thích mắt. Dân làng chân thành tạ ơn trời đất đã sóng yên biển lặng để đoàn ngư phủ được an toàn trở về với làng xóm thân yêu. Khi những người thân ra khơi đánh cá, người ở nhà đợi chờ trong phấp phỏng, lo âu. Nay những con thuyền cập bến bình yên với đầy khoang cá bạc, hỏi còn niềm vui nào lớn lao hơn thế bởi đó chính là cuộc sống ấm no, hạnh phúc của dân làng. Biển cả đẹp đẽ, giàu có và hào phóng nhưng cũng thật khó lường bởi lúc thì trời yên biển lặng, lúc thì bão tố dữ dội. Giữa đại dương mênh mông, làm sao tránh được hiểm nguy, bất trắc? Chỉ có những người một đời gắn bó, sống chết với biển mới thấu hiểu điều này. Cuộc sống của dân chài ngàn đời nay phụ thuộc vào thiên nhiên. Họ vất vả, cực nhọc trăm bề để kiếm miếng cơm manh áo. Vì vậy, giây phút đón người thân sau chuyến đi biển an toàn trở về bao giờ cũng tràn ngập niềm vui. Giữa khung cảnh ấy nổi bật lên hình ảnh rắn rỏi, cường tráng của những chàng ngư phủ quanh năm vật lộn với sóng gió đại dương. Dấu ấn của biển cả đã in đậm trên thân hình vả trong tâm hồn họ: Dân chài lưới làn da ngăm rám nắng,
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm. Những con thuyền về bến sau chuyến ra khơi được nhà thơ ví như con người nghỉ ngơi sau một ngày lao động vất vả: Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm, Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ. Bao hiểm nguy giờ đã lùi xa, nhường chỗ cho sự thanh thản, bình yên. Nghệ thuật nhân hóa đã đem đến cho con thuyền vô tri một đời sống và một tâm hồn tinh tế.
Nhà thơ đã phát hiện ra chất thơ trong đời sống vất vả, cực nhọc của dân quê, đó là điều đáng quý. Cũng vì vậy mà hình ảnh quê hương trong bài thơ tươi sáng, mang hơi thở nồng ấm của cuộc đời cần lao.
Hình ảnh quê hương đẹp đẽ với những con người lao động cần cù đã khắc sâu trong kí ức, hỏi làm sao khi xa cách, nhà thơ không thương nhớ đến quặn lòng? Nếu không có tấm lòng gắn bó chân thành, máu thịt với con người cùng cuộc sống lao động ở làng chài quê hương thì thi sĩ không thể sáng tác ra những câu thơ xuất thần như vậy. Mỗi lần nhớ về quê hương, cảnh đẹp của biển cả như hiển hiện rõ ràng trong tâm trí nhà thơ: Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi,
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi,
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá! Ở bốn câu thơ kết, nhà thơ trực tiếp bộc bạch nỗi nhớ quê hương khôn nguôi của mình. Nhớ Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi; Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi và nhớ cả cái mùi nồng mặn rất đặc trưng của gió biển cùng tất cả những gì thân thuộc của quê hương. Phải chăng nỗi nhớ da diết ấy chính là sợi dây kết chặt nhà thơ với quê hương suốt cả cuộc đời! Bài thơ Quê hương mộc mạc, tự nhiên nhưng rất sâu sắc và thấm thía bởi nó được viết lên từ cảm xúc chân thành. Sức hấp dẫn của nó trước hết là ở những hình ảnh tiêu biểu, chọn lọc và ngôn ngữ tự nhiên, trong sáng. Những biện pháp nghệ thuật so sánh, ví von, nhân hóa kết hợp hài hòa khiến cho bài thơ giống như một bức tranh phong cảnh tuyệt vời được vẽ nên từ tình yêu tha thiết mà Tế Hanh dành trọn cho quê hương. Có thể coi bài thơ này như một cung đàn dịu ngọt của những tấm lòng gắn bó sâu nặng với quê hương xứ sở bởi đây là mảnh tâm hồn trong trẻo nhất, đằm thắm nhất của Tế Hanh dành cho mảnh đất chôn nhau cắt rốn.
Tham khảo:
Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là Tế Hanh – một tác giả có mặt trong phong trào Thơ mới và sau cách mạng vẫn tiếp tục sáng tác dồi dào.(Câu ghép) Ông được biết đến qua những bài thơ về quê hương miền Nam yêu thương với tình cảm chân thành và vô cùng sâu lắng. Ta có thể bắt gặp trong thơ ông hơi thở nồng nàn của những người con đất biển, hay một dòng sông đầy nắng trong những buổi trưa gắn với tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ. Có lẽ, bài thơ “Quê hương” là kỉ niệm sâu đậm thời niên thiếu, là tác phẩm mở đầu cho nguồn cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, yêu mến những con người lao động cần cù (Câu thành phần biệt lập). Với tâm hồn bình dị, Tế Hanh xuất hiện trong phong trào Thơ mới nhưng lại không có những tư tưởng chán đời, thoát li với thực tại, chìm đắm trong cái tôi riêng tư như nhiều nhà thơ thời ấy. Thơ Tế Hanh là hồn thi sĩ đã hoà quyện cùng với hồn nhân dân, hồn dân tộc, hoà vào “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”.“Quê hương” – hai tiếng thân thương, quê hương – niềm tin và nỗi nhơ,ù trong tâm tưởng người con đấùt Quảng Ngãi thân yêu – Tế Hanh – đó là những gì thiêng liêng nhất, tươi sáng nhất. Bài thơ với âm điệu khoẻ khoắn, hình ảnh sinh động tạo cho người đọc cảm giác hứng khởi, ngôn ngữ giàu sức gợi vẽ lên một khung cảnh quê hương “rất Tế Hanh”.
Em tham khảo:
Quê hương là nguồn cảm hứng vô tận của nhiều nhà thơ Việt Nam và đặc biệt là Tế Hanh – một tác giả có mặt trong phong trào Thơ mới và sau cách mạng vẫn tiếp tục sáng tác dồi dào. Ông được biết đến qua những bài thơ về quê hương miền Nam yêu thương với tình cảm chân thành và vô cùng sâu lắng. Chắc hẳn, ta có thể bắt gặp trong thơ ông hơi thở nồng nàn của những người con đất biển, hay một dòng sông đầy nắng trong những buổi trưa gắn với tình yêu quê hương sâu sắc của nhà thơ. Bài thơ “Quê hương” là kỉ niệm sâu đậm thời niên thiếu, là tác phẩm mở đầu cho nguồn cảm hứng về quê hương trong thơ Tế Hanh, bài thơ đã được viết bằng tất cả tấm lòng yêu mến thiên nhiên thơ mộng và hùng tráng, những con người lao động cần cù, chịu khó. Với tâm hồn bình dị, Tế Hanh xuất hiện trong phong trào Thơ mới nhưng lại không có những tư tưởng chán đời, thoát li với thực tại, chìm đắm trong cái tôi riêng tư như nhiều nhà thơ thời ấy. Thơ Tế Hanh là hồn thi sĩ đã hoà quyện cùng với hồn nhân dân, hồn dân tộc, hoà vào “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng”.“Quê hương” – hai tiếng thân thương, quê hương – niềm tin và nỗi nhơ,ù trong tâm tưởng người con đất Quảng Ngãi thân yêu – Tế Hanh – đó là những gì thiêng liêng nhất, tươi sáng nhất. Bài thơ với âm điệu khoẻ khoắn, hình ảnh sinh động giúp người đọc hình dung rõ về tình cảm của tác giả với quê hương.
Câu ghép + TPBL: In đậm nghiêng
Câu 1:
-Cảm hứng được khơi gợi từ sự việc : trên đường hành quân xa, khi dừng chân nghỉ ngơi bên xóm nhỏ, người chiến sĩ nghe thấy tiếng gà nhà ai nhảy ổ.
-Diễn biến mạch cảm xúc : khi nghe thấy tiếng gà trưa => tiếng gà trưa gợi cho người chiến sĩ những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ =>Nỗi nhớ thêm da diết với hình ảnh người bà tần tảo sớm hôm => Nỗi nhớ khắc sâu hình ảnh quê hương, trở thành động lực thôi thúc người chiến sĩ cầm súng lên đường.
Câu 2.
- Những hình ảnh và kỉ niệm tuổi thơ :
-Hình ảnh những con gà mái mơ, mái vàng bên những ổ trứng hồng.
-Kỉ niệm một lần tò mò xem gà đẻ bị bà mắng.
-Hình ảnh người bà soi từng quả trứng cho gà ấp.
- Tiếng gà trưa gợi nhớ những kỉ niệm dấu yêu thời thơ ấu.Những kỉ niệm đó không phai mờ trong tâm hồn người cháy, bởi đó là tình cảm gia đình, ruột thịt, tình cảm quê hương, cội nguồn không thể thiếu được trong mỗi con người.
Câu 3:
-Hình ảnh người bà :
+Tay bà khum soi trứng, chắt chiu từng quả cho con gà mái ấp.
+Mắng cháu khi xem trộm gà đẻ
+Bà lo lắng, mong sao thời tiết thuận lợi, để cuối năm bán được gà, mua cho cháu bộ quần áo mơi.
=>Bà là người chịu thương, chịu khó, chắt chiu từng niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan.
-Tình cảm bà cháu trong bài thơ thật sâu nặng, thắm thiết. Bà thương cháu, luôn chắt chiu, dành dụm cho cháu. Cháu luôn yêu thương, quý trọng và biết ơn bà. Khi xa quê, hình ảnh sâu đậm nhất trong tâm hồn cháu là hình ảnh bà.
Câu 4:
-Mỗi khổ trong bài thơ ngũ ngôn thường có 4 câu, trong bài này chỉ có khổ 3,5,6 là 4 câu, còn các khổ khác thường nhiều câu hơn ( 5 -6 câu, khổ 1 tới 7 câu).
-Cách gieo vần : phần lớn là vần cách, không nhất thiết gieo đúng vần mà chỉ cần đúng âm điệu. Câu cuối khổ trước cũng không vần với câu đầu khổ sau.
-Câu thơ “ tiếng gà trưa” được lặp lại nhiều lần, dùng để mở đầu khổ thơ thứ 2,3,4,7. =>Tác dụng :
+việc bắt đầu khổ thơ bằng câu thơ 3 tiếng góp phần tạo nên điểm nhấn cảm xúc.
+Sau tiếng gà trưa là kỉ niệm => câu thơ khiến cho mạch cảm xúc trong bài được liên mạch, kết nối các khổ thơ với nhau, mạch cảm xúc xuyên suốt cả bài thơ => Tình cảm chân thật, da diết, nồng nàn.
Bạn tham khảo nhé!
1. Tràn ngập trong bài thơ Tiếng gà trưa là những kỉ niệm tuổi thơ. Trong đó, nổi bật là hình ảnh người bà, kí ức về tình bà cháu mộc mạc mà sâu nặng. Tất cả được gợi về từ một âm thanh quen thuộc, bình thường: tiếng gà mái cục tác trong nắng trưa.
Diễn biến mạch cảm xúc : khi nghe thấy tiếng gà trưa => tiếng gà trưa gợi cho người chiến sĩ những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ =>Nỗi nhớ thêm da diết với hình ảnh người bà tần tảo sớm hôm => Nỗi nhớ khắc sâu hình ảnh quê hương, trở thành động lực thôi thúc người chiến sĩ cầm súng lên đường.
2 .
- Hình ảnh người bà:
Tay bà khum soi trứng, chắt chiu từng quả cho con gà mái ấp.
Mắng cháu khi xem trộm gà đẻ.
Bà lo lắng, mong sao thời tiết thuận lợi, để cuối năm bán được gà, mua cho cháu bộ quần áo mơi.
=> Bà là người chịu thương, chịu khó, chắt chiu từng niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan.
- Tình cảm bà cháu trong bài thơ thật sâu nặng, thắm thiết. Bà thương cháu, luôn chắt chiu, dành dụm cho cháu. Cháu luôn yêu thương, quý trọng và biết ơn bà. Khi xa quê, hình ảnh sâu đậm nhất trong tâm hồn cháu là hình ảnh bà.
5.
2.Quê hương em là một vùng đất thanh bình và tuyệt đẹp. Ở đó có những ngọn núi to lớn, có những dòng kênh xanh, có những bụi tre xanh rì rào trong gió. Đặc biệt, người dân ở quê em ai cũng hiền lành, chân chất. Mọi người yêu quý, đỡ đần, đùm bọc lẫn nhau. Phải sống ở đó rồi, thì mới thấm được cái tình làng nghĩa xóm quý báu ấy. Em thích nhất, là những tối mùa hè, được cùng các anh chị nằm trên cái chõng tre nghe ông kể chuyện. Rồi tíu tít đưa những bàn tay nhỏ bé chỉ lên những ngôi sao trên cao, vẽ ra đủ hình dáng kì lạ. Những kí ức, khoảnh khắc tuyệt vời về quê hương ấy, em sẽ khắc ghi mãi trong tim mình.
1.
- Cảm hứng của tác giả trong bài thơ được khơi gợi từ sự việc gì ? (được khêu gợi từ tiếng gà trưa, đó là “tiếng gà ai nhảy ổ, cục... cục tác cục ta”.)
- Mạch cảm xúc trong bài thơ diễn biến như thế nào ? (diễn biến từ nghe tiếng gà trưa mà cảm thấy xôn xao trong lòng, vui lên và quên đi n nỗi khủng khiếp của chiến tranh ).
2. Tiếng gà trưa đã gợi lại trong tâm trí của người chiến sĩ những hình ảnh và kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ:
Câu 1:
- Cảm hứng được khơi gợi từ sự việc : trên đường hành quân xa, khi dừng chân nghỉ ngơi bên xóm nhỏ, người chiến sĩ nghe thấy tiếng gà nhà ai nhảy ổ.
- Diễn biến mạch cảm xúc : khi nghe thấy tiếng gà trưa => tiếng gà trưa gợi cho người chiến sĩ những kỉ niệm tuổi thơ đẹp đẽ =>Nỗi nhớ thêm da diết với hình ảnh người bà tần tảo sớm hôm => Nỗi nhớ khắc sâu hình ảnh quê hương, trở thành động lực thôi thúc người chiến sĩ cầm súng lên đường.
Câu 2: Tiếng gà trưa đã gợi lại trong tâm trí của người chiến sĩ những hình ảnh và kỉ niệm đẹp đẽ của tuổi thơ:
Hình ảnh những con gà mái mơ, mái vàng bên những ổ trứng hồng.
Kỉ niệm một lần tò mò xem gà đẻ bị bà mắng.
Hình ảnh người bà đầy lòng thương yêu, chắt chiu từng đàn gà, quả trứng để chăm lo cho cháu.
Kỉ niệm về niềm vui và mong ước của tuổi thơ: được một bộ quần áo mới từ tiền bán gà (tưởng tượng ra vẻ đẹp của bộ quần áo).
Qua những dòng kỉ niệm được gợi lại, có thể nhận thấy, tác giả đã biểu lộ tâm hồn trong sáng, hồn nhiên của một người em nhỏ, cũng như biểu lộ tình cảm yêu quý, trân trọng người bà của đứa cháu.
Câu 3:
- Hình ảnh người bà:
Tay bà khum soi trứng, chắt chiu từng quả cho con gà mái ấp.
Mắng cháu khi xem trộm gà đẻ.
Bà lo lắng, mong sao thời tiết thuận lợi, để cuối năm bán được gà, mua cho cháu bộ quần áo mơi.
=> Bà là người chịu thương, chịu khó, chắt chiu từng niềm vui nho nhỏ trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan.
- Tình cảm bà cháu trong bài thơ thật sâu nặng, thắm thiết. Bà thương cháu, luôn chắt chiu, dành dụm cho cháu. Cháu luôn yêu thương, quý trọng và biết ơn bà. Khi xa quê, hình ảnh sâu đậm nhất trong tâm hồn cháu là hình ảnh bà.
Câu 4: Bài thơ này được viết theo thể ngũ ngôn (5 tiếng) nhưng rất sáng tạo và linh hoạt:
Thường mỗi khổ trong một bài ngũ ngôn có 4 câu nhưng bài này chỉ có ba khổ 4 câu, các khổ khác có đến 5 hoặc sáu câu, riêng khổ thứ nhất có đến 7 câu.
Cách gieo vần trong bài thơ cũng rất linh hoạt. Phần lớn vần trong bài thơ là vần cách, có khi không chú trọng đến việc đúng vần mà chỉ cần giữ âm điệu. Mặc dù vậy, đọc bài thơ lên nghe vần thấy rất hài hoà trong mạch cảm xúc của tác giả.
Các câu thơ trong bài đều gồm 5 tiếng, riêng câu thơ Tiếng gà trưa (lặp lại mở đầu các khổ thứ hai, thứ ba, thứ tư và thứ bảy) là chỉ có 3 tiếng. Đây là một cách để Xuân Quỳnh tạo nên điểm nhấn về cảm xúc. Sau mỗi câu thơ Tiếng gà trưa là tác giả lại nhớ về một hình ảnh, một kỉ niệm quen thuộc. Các câu thơ này giữ cho mạch cảm xúc của bài thơ liền mạch, khiến cho những kỉ niệm và hình ảnh thơ luôn da diết, nồng nàn.
Tác phẩm Chuyện mơ chuyện thực của Nguyễn Huy Thiệp là một truyện ngắn giàu ý nghĩa, thể hiện rõ phong cách sáng tác độc đáo của nhà văn, qua việc đan xen giữa yếu tố mơ và thực, tác giả đã phản ánh sâu sắc đời sống con người cùng những suy tư về giá trị thật giả trong xã hội, câu chuyện không chỉ đơn thuần kể lại một giấc mơ mà còn gợi ra nhiều vấn đề về nhận thức, niềm tin và cách con người đối diện với hiện thực, trong tác phẩm, ranh giới giữa mơ và thực trở nên mờ nhạt, khiến người đọc phải suy nghĩ về những điều tưởng chừng không có thật nhưng lại phản ánh đúng bản chất cuộc sống, qua đó cho thấy hiện thực đôi khi phức tạp, đầy nghịch lí và khó nắm bắt, nhân vật trong truyện vừa sống trong thế giới thực vừa bị chi phối bởi thế giới mơ, điều này thể hiện tâm lí con người luôn có sự giằng xé giữa lí trí và cảm xúc, giữa mong muốn và thực tại, nghệ thuật của Nguyễn Huy Thiệp nổi bật ở cách kể chuyện giản dị nhưng giàu tính triết lí, ngôn ngữ gần gũi mà sâu sắc, hình ảnh mang tính biểu tượng, góp phần làm nổi bật chủ đề tác phẩm, từ đó, tác giả gửi gắm thông điệp rằng con người cần tỉnh táo để nhận ra giá trị thực của cuộc sống, không nên chìm đắm trong ảo tưởng mà quên đi thực tại, đồng thời cũng cần biết trân trọng những khát vọng và ước mơ như một phần không thể thiếu của đời sống tinh thần.
“Miền quê” của Nguyễn Khoa Điềm (Kết nối tri thức và cuộc sống - Ngữ văn 9) là một tác phẩm biểu lộ tình cảm sâu đậm và kỷ niệm đối với những vùng đất quê hương bình dị, mộc mạc ân tình, nơi mà tác giả đã trải qua những năm tháng tuổi thơ và hòa mình vào với không gian ấy một cách sâu sắc.Thơ ca phải là sự giàu có của tâm hồn, bản lĩnh cá nhân như Nguyễn Khoa Điềm đã từng bày tỏ những suy nghĩ về thơ: “Một cách nhìn cuộc sống đúng hướng và tin yêu lạc quan, một tâm hồn giàu cảm xúc để đồng cảm, một trí tưởng tượng phong phú luôn luôn mới mẻ sáng tạo là những nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với một tâm hồn thơ. Khi những năng lực tinh thần ấy lại gắn bó với một cuộc đời thực có nhiều mối liên hệ xã hội phong phú luôn được bồi đắp từ cuộc sống xung quanh, đấy là điều kiện để xuất hiện một tài năng thơ”.Cũng chính từ những suy ngẫm chân thành và sâu sắc ấy nên có lẽ trong suốt cuộc đời cầm bút sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Khoa Điềm đã bám sát vào hơi thở đời sống với hai giai đoạn chính: Thơ viết trong chiến tranh và trong hòa bình. Nhiều tác phẩm của ông đã đánh dấu những mốc lớn trong chặng đường sáng tác như: Đất ngoại ô, Mặt đường khát vọng, Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Cõi lặng…Hoàn cảnh xã hội thay đổi với sự vận động từ chiều cao, chiều rộng hướng ngoại sang chiều sâu của hướng nội, nhưng bản chất thơ trữ tình Nguyễn Khoa Điềm không thay đổi, làm nên tính thống nhất, toàn vẹn của phong cách nhà thơ.Dù ra đời trong hoàn cảnh nào, thơ Nguyễn Khoa Điềm vẫn hiện lên một trí tuệ sắc sảo, giàu tri thức sách vở và cuộc đời; với một tâm hồn giàu cảm xúc, nhạy cảm, một tấm lòng thuỷ chung với lý tưởng mà mình đã chọn và luôn tự đặt cho mình trách nhiệm trước cuộc đời mà bài thơ Miền quê (Thơ Nguyễn Khoa Điềm, Tuyển tập 40 năm do tác giả chọn, NXB Văn học, Hà Nội) là một tác phẩm như thế.Nếu trong thời kì chiến tranh, sống trực tiếp giữa lòng cuộc chiến, thơ Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện cảm động những xúc cảm và ý thức về dân tộc, thời đại trong tâm hồn những con người yêu nước. Thời đại chống Mỹ đi vào thơ Nguyễn Khoa Điềm không phải bằng sự miêu tả trực tiếp mà khúc xạ qua nhận thức và trải nghiệm máu thịt của riêng nhà thơ nên đã được nâng lên tầm cao và chiều sâu riêng để khẳng định chân lí vĩnh hằng của dân tộc: Lòng yêu nước, căm thù giặc và ý chí chiến đấu bất khuất...Bước vào cuộc sống hoà bình, tiếng thơ Nguyễn Khoa Điềm trở nên thâm trầm và lặng lẽ tìm về những cảm xúc sâu thẳm trong tâm hồn. Thơ ông không sôi nổi như trước mà lắng đọng, hàm súc hơn. Đằng sau những câu chữ ít ỏi, người đọc vẫn cảm nhận ra một cái tôi ân tình sau trước, trân trọng cuộc sống ngày hôm nay vì biết ơn ngày hôm qua máu đổ.Thấm thía giá trị của hoà bình, nhà thơ tự đặt cho mình trách nhiệm với cuộc sống còn ngổn ngang trong xây dựng và đổi mới. Ở đây còn xuất hiện một tâm hồn thi sĩ nhạy cảm luôn rộng mở, giao hòa cùng thiên nhiên đất trời quê hương; một cái tôi dồn nén tâm trạng lo âu nhưng vẫn lạc quan tin tưởng vào cuộc sống dù im tiếng súng nhưng chưa bình yên; một cái tôi luôn chiêm nghiệm và khám phá thế giới nội tâm của mình.Đọc Miền quê của Nguyễn Khoa Điềm, có lẽ trong tâm hồn mỗi con người, đặc biệt là tâm hồn thi nhân ai cũng có một miền yêu thương sâu lắng, nơi mỗi người đã sinh ra, nơi hằn sâu kỷ niệm. Miền đất ấy đã khúc xạ vào tâm hồn mỗi người bằng theo một cách riêng. Bài thơ gồm 4 khổ, được triển khai theo mạch cảm xúc rất tự nhiên với những hình ảnh tươi đẹp và sâu lắng về cuộc sống nơi quê hương thôn dã.Mở đầu bài thơ, tác giả giới thiệu về nơi mà tác giả yêu quý và nhớ nhung, từ đó đưa người đọc vào không gian miền quê, để cảm nhận và hiểu được tình yêu và kỷ niệm của mình. Sau phần giới thiệu không gian, thời gian nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã vẽ ra bức tranh đối sánh về miền quê trong ký ức và miền quê trong hiện tại. Trong phần miền quê trong ký ức, tác giả nhớ lại những kỷ niệm tuổi thơ ở miền quê.Hình ảnh về cánh đồng xanh mướt, sông nước êm đềm, cây cỏ xanh tươi được sử dụng để tái hiện lại những kỷ niệm tươi đẹp và thanh bình. Đồng thời, hình ảnh về đồng bào nông dân, người lao động chăm chỉ và gắn bó với miền quê cũng được nhấn mạnh, thể hiện sự gắn kết và tình yêu thương trong cộng đồng.Với giọng điệu nhẹ nhàng, sâu lắng, Nguyễn Khoa Điềm đã giới thiệu về miền quê, nơi mà tác giả yêu quý và nhớ mãi. Trước mắt ta là một không gian yên tĩnh và tươi mát. Ông muốn đưa người đọc vào trải nghiệm không gian miền quê, để họ cảm nhận và hiểu được tình yêu và kỷ niệm mà ông dành cho nơi này.
Lại về mảnh trăng đầu tháng
Mông lung mặt đồng bóng chiều,
Tiếng ếch vùi trong cỏ ấm
Lúa mềm như vai thân yêu
Buổi chiều giữa một miền quê thanh bình, lặng lẽ êm đềm trôi trong tâm trí mọi người. Một bức tranh buổi chiều được gợi tả chỉ qua vài ba hình ảnh. Một mảnh trăng treo lơ lửng trên bầu trời đồng quê, tạo ra một bầu không khí lặng lẽ và yên bình. Tiếng ếch vùi trong cỏ ấm như một trò chơi trốn tìm thú vị, Nguyễn Khoa Điềm đã khắc họa trọn vẹn những hình ảnh thân thương đó bằng một niềm xúc cảm dâng trào. Bằng những cảm nhận tinh tế của mình ông đã vẽ nên bức tranh thủy mạc đơn sơ, thân thuộc mà vô cùng đẹp đẽ, ấm nồng sự sống.Mảnh trăng non đẹp mê hồn huyền ảo, lung linh đan xen với những sợi nắng vàng chao nghiêng trong gió khi hoàng hôn buông. Những tìm tòi và sử dụng những ngôn từ đắt giá như: Mảnh trăng, âm thanh tiếng ếch vùi trong những nếp cỏ. Đó còn là những giếng lúa mềm mại, xanh mướt như bờ vai thân yêu hiện ra, làm ấm lòng và làm lay động trái tim trong buổi chiều quê thanh tĩnh. Đặc biệt, chữ “vùi” gợi lên hình ảnh sống động, thể hiện sự sáng tạo của tác giả trong cách diễn đạt tiếng ếch, nhất là trong ánh sáng chạng vạng của buổi chiều.Nhà thơ đã phác họa không gian miền quê bằng những hình ảnh đặc trưng của mùa Xuân, nhẹ nhàng mà sống động: Tiếng ếch, cỏ mềm, lúa mềm… Không có từ ngữ chỉ màu sắc nhưng sự hài hòa sắc màu hiện ra rất rõ nét. Không chỉ sắc xanh của cỏ, của lúa thì con gái, màu vàng nhạt của nắng, bức tranh xuân còn có âm thanh hiền lành của đồng quê.Nếu trong nhiều thi phẩm khác ta bắt gặp tiếng chim én, chim chiền chiện bay giữa trời xuân thì ở đây Nguyễn Khoa Điềm lại chọn cho mình một hình ảnh gắn liền như hơi thở, như da thịt của đất quê hương: Tiếng ếch. Cũng có lẽ vì thế câu thơ “Mùa Xuân, là mùa xuân đấy” vang lên như một lời reo vui, sự ngỡ ngàng, hạnh phúc, tự hào khi chứng kiến sự trở lại của mùa Xuân. Mùa xuân, là mùa xuân đấy
Thả chim, cỏ nội hương đồng
Đàn trâu bụng tròn qua ngõ
Gõ sừng lên mảnh trăng cong
Từ khoảnh khắc mùa Xuân trở lại, một khoảng thời gian tuổi thơ trong trẻo, đầy hồn nhiên, tràn ngập ký ức đổ về vẹn nguyên, đẹp đẽ như một làn sóng vui tươi, rộn ràng. Những trò chơi ngày bé như thả chim, chăn trâu, những cảnh đẹp của “cỏ nội hương đồng” quen thuộc làm cho lòng người đắm say.Hình ảnh đàn trâu no cỏ thong thả về chuồng, đôi sừng cong cong trong bóng chiều như là gõ vào mảnh trăng non mọc ở phía cuối trời, tạo nên một bức tranh đồng quê mộng mơ, được vẽ lên bằng lớp ngôn từ giàu cảm xúc và đậm màu sắc hội họa. Khổ hai của bài thơ với nhiều chiều liên tưởng ấy dẫn dắt chúng ta đến với con đường làng thân thuộc khi hoàng hôn buông xuống vàng rực một vùng hay nói cách khác “Đàn trâu bụng tròn qua ngõ/Gõ sừng lên mảnh trăng cong” như cách diễn đạt của nhà thơ. Tác giả chắt lọc từ tư duy thơ tài hoa của mình vận dụng vào nghệ thuật ngôn từ buộc người đọc phải liên tưởng đến những hiện thực mà mình đã từng trải nghiệm trong đời trên cánh đồng quê khi hoàng hôn xuống, khơi dậy bức tranh quê tuyệt đẹp đó trong kí ức của mình. Đoạn thơ làm ta liên tưởng đến những dòng thơ của Nguyễn Duy trong “Đò Lèn”:
Thuở nhỏ tôi ra cống Na câu cá
níu váy bà đi chợ Bình Lâm
bắt chim sẻ ở vành tai tượng Phật
và đôi khi ăn trộm nhãn chùa Trần
Ai cũng từng có một tuổi thơ đầy ắp kỷ niệm. Nhớ về tuổi thơ, nhớ về khung trời đầy ắp kỷ niệm chính là tình yêu quê hương da diết, sâu nặng luôn chan chứa trong mỗi tâm hồn. Cũng để rồi từ miền hồi tưởng bài thơ thoắt trở về hiện tại. Không chỉ là cảnh vật thanh bình của miền quê thơ mộng mà còn là hình ảnh của con người. Hình ảnh con người xuất hiện thân thương với tâm trạng “bao nhiêu trông đợi chóng chầy”.
Đó là những cô gái “tóc dài mười tám”, mang trong lòng bao sự ngây thơ và hồn nhiên, bao rung động, e ấp trước tình yêu đầu đời, trong nỗi lòng “xôn xao” ngóng chờ và “thương người ra lính hôm mai”. “Xôn xao” là từ láy đặc sắc và nhiều sức gợi. “Xôn xao” vừa là bức tranh chiều xuân lại vừa là những thanh âm náo nức, rộn ràng trong lòng người, vừa e lệ, dìu dặt, vừa mãnh liệt, đằm thắm. Chính những cảm xúc ấy đã phần nào thể hiện tâm trạng chung của những miền quê trong đất nước, trong những năm chiến tranh vừa trải qua cuộc chiến đấu kiên trì vừa xây dựng, sản xuất để kiến thiết đất nước.
Có gì xôn xao đằm thắm
Bao nhiêu trông đợi chóng chầy
Đàn em tóc dài mười tám
Thương người ra lính hôm mai
Chính những hình ảnh về người nông dân trên đồng ruộng, những cô thôn nữ căng tràn sức sống như mùa Xuân, người lao động chăm chỉ và gắn bó với miền quê đã thể hiện sự gắn kết và tình yêu thương trong cộng đồng. Hình ảnh cuộc sống lao động bình dị của người dân nơi miền quê yêu dấu góp phần tạo nên một không gian chất phác và giản dị vừa cụ thể, gần gũi lại vừa là nơi gặp gỡ trong cung bậc tâm trạng của nhiều người. Tất cả đã mang đến cho người đọc một cảm giác ấm áp và gần gũi đến vô cùng.
Để rồi bao nhiêu gió thổi
Bên giế...