Ái đáng yêu quá đi ><
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
ta xet truong hop 23 + 23 = 46 ( loai ) vi a va b ko the la 2 so khac nhau
a va b chi co the la 1,5 5,1 4,2 2,4 ( nhan )
a : 1 , 5 , 4 , 2
b : 1 , 5 , 4 , 2
mih hoc lop 4 , neu mih sai thi gop y cho mih nha , thank kiu !! :))
a) Những hoạt động của Nguyễn Tất Thành sau khi ra đi tìm đường cứu nước:
+ Ngày 05 - 06 - 1911, từ bến cảng Nhà Rộng, Người ra đi tìm đường cứu nước. Người quyết định sang phương Tây để tìm hiểu những bí mật ẩn náu đằng sau những từ: "Tự do - Bình đẳng - Bác ái".
+ Sau hành trình kéo dài 6 năm, qua nhiều nước ở Châu Phi, Châu Mĩ, Châu Âu, ... đến năm 1917, Người từ Anh trở về Pháp, tham gia hoạt động trong Hội những người Việt Nam yêu nước ở Paris.
+ Người tích cực tham gia hoạt động trong phong trào công nhân Pháp và tiếp nhận ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười Nga. Từ khảo sát thực tiễn, Người đã đúc kết thành kinh nghiệm rồi quyết định đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin.
b) Hướng đi của người có gì mới so với những nhà yêu nước chống pháp trước đó:
+ Các bậc tiền bối như Phan Bội Châu... chọn con đường đi sang phương Đông (Nhật Bản, Trung Quốc), đối tượng mà ông gặp gỡ là những chính khách Nhật để xin họ giúp Việt Nam đánh Pháp, chủ trương đấu tranh là bạo động.
+ Nguyễn Ái Quốc lựa chọn con đường đi sang phương Tây, nơi có tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, có khoa học kỹ thuật và nền văn minh phát triển để tìm hiểu xem vì sao nước Pháp thống trí nước mình và thực chất của các từ "Tự do - Bình đẳng - Bác Ái". Từ đó Người hòa mình vào thực tiễn và tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam.
Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc (tên thật là Hồ Chí Minh) có những đặc điểm mới và độc đáo so với các nhà yêu nước khác trong cuộc chiến đấu chống Pháp trước đó ở Việt Nam. Dưới đây là một số điểm đặc biệt:
- Quan điểm chính trị đổi mới: Bác đã đề xuất một quan điểm chính trị đổi mới, bao gồm chủ nghĩa cộng sản, trong cuộc chiến đấu chống Pháp. Đây là một phương pháp chính trị hoàn toàn mới mẻ và khác biệt so với các nhà yêu nước trước đó, như Phan Bội Châu, Nguyễn Thái Học, và Phan Chu Trinh, mà họ chủ yếu theo đuổi các phong cách lãnh đạo đặc thù hoặc chủ nghĩa dân tộc.
- Tổ chức hệ thống lãnh đạo: Bác đã xây dựng và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) với cơ cấu tổ chức mạnh mẽ và quân đội đều đặn. Đây là một phong cách lãnh đạo tổ chức chặt chẽ, khác biệt với các phong cách lãnh đạo cá nhân của các nhà yêu nước trước đó.
- Chiến lược chiến đấu: Bác đã phát triển một chiến lược chiến đấu tổng hợp bao gồm cả chiến đấu quân sự và chiến đấu chính trị, với sự tham gia rộng rãi của dân chúng. Điều này đã giúp tạo nên một cuộc chiến đấu chiến thắng chống Pháp.
- Tầm nhìn toàn diện: Bác không chỉ xem xét cuộc chiến đấu ở mặt nội chiến và dân tộc mà còn đặt ra mục tiêu toàn diện hơn, bao gồm cả khía cạnh xã hội, kinh tế và văn hóa. Ông đã thúc đẩy các chương trình cải cách và phát triển đồng thời với cuộc chiến đấu.
-> Những điểm này cùng với sự sáng tạo, sự linh hoạt, và tầm nhìn của mình, Bác đã làm nên sự khác biệt của cuộc chiến đấu chống Pháp và mở ra một hướng đi mới cho phong trào độc lập và tự do ở Việt Nam.
-là một thứ cảm giác khó tả bao gồm cả vui , buồn , ...
- KN :là một trạng thái của con người khi mà giữa người và người đã qua thời gian tìm hiểu nhau và xuất hiện tình cảm
Hồ Tùng Mậu, với nhiều bí danh khác nhau, đã có những hoạt động yêu nước từ rất sớm. Trước khi gặp Nguyễn Ái Quốc, giống như bao thanh niên yêu nước khác lúc bấy giờ, hoạt động yêu nước của Hồ Tùng Mậu đã chịu ảnh hưởng từ nhiều luồng tư tưởng, mà trước hết là tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu. Ông đã chọn nghề dạy học để có điều kiện truyền bá, mở mang tri thức cho các thế hệ thanh niên yêu nước. Tuy nhiên, với một ý chí căm thù quân xâm lược và muốn được tham gia trực tiếp vào công cuộc cứu nước, cứu dân, Hồ Tùng Mậu đã bỏ dở nghề dạy học để có điều kiện thực hiện theo chí lớn mà mình đã chọn.
Ý chí và lòng căm thù quân xâm lược là động lực để Hồ Tùng Mậu quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Tháng 4-1920, Hồ Tùng Mậu cùng nhiều thanh niên Nghệ Tĩnh bí mật sang Xiêm. Sau ba tháng ở Trại Cày, Bản Thầm (tỉnh Phì Chịt), cụ Đặng Thúc Hứa đã gửi anh sang Trung Quốc hoạt động cách mạng. Thông qua các buổi tranh luận sôi nổi của những người Việt Nam yêu nước ở nước ngoài về con đường và phương pháp cách mạng để giải phóng dân tộc; được tiếp cận một số sách báo tiến bộ, đã khiến Hồ Tùng Mậu nhận thấy cần phải có con đường và phương pháp cứu nước mới. Năm 1923, Hồ Tùng Mậu cùng với Lê Hồng Sơn và một số thanh niên yêu nước khác quyết định tách khỏi sự ảnh hưởng tư tưởng của Phan Bội Châu về con đường cứu nước, bằng việc lập ra tổ chức Tân Việt Thanh niên Đoàn, còn gọi là Tâm Tâm xã. Việc thành lập Tâm Tâm xã đã cho thấy sự trưởng thành trong tư duy chính trị của Hồ Tùng Mậu, đồng thời khẳng định ý chí quyết tâm phải tìm ra một đường đi mới để tiếp tục phấn đấu và cống hiến cho lý tưởng giải phóng đất nước.
Tuy có sự quyết tâm và thể hiện sự trưởng thành về chính trị khi quyết định thoát ly sự ảnh hưởng tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu bằng việc thành lập Tâm Tâm xã, nhưng đó cũng chỉ là tổ chức sơ khai bước đầu, cố gắng thoát ly sự ảnh hưởng tư tưởng yêu nước của Phan Bội Châu, mà chưa có một đường lối cứu nước mới hoàn chỉnh. Vì thế, chủ trương trước tiên của Tâm Tâm xã không những là phải “phục quốc” mà còn phải tập hơp lực lượng “gây tiếng vang trong nhân dân, củng cố tổ chức, lấy ý kiến tập thể, dũng cảm tiến lên, đòi lại nhân quyền và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân”. Với phương châm đó, điều lệ của Tân Việt Thanh niên đoàn đã ghi rõ: “Liên hiệp những người có trí lực trong toàn dân Việt Nam, không phân biệt ranh giới đảng phái; miễn là có quyết tâm hy sinh tất cả tư ý và quyền lợi cá nhân, đem hết sức mình tiến hành mọi việc để khôi phục quyền làm người của người Việt Nam”.
Người cộng sản kiên trung, mẫu mực
Đúng lúc đang bế tắc con đường cứu nước thì nhóm Tâm Tâm xã gặp được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, vừa từ Liên Xô tới Trung Quốc (tháng 11-1924) để chuẩn bị những tiền đề về chính trị, tư tưởng và tổ chức nhằm tiến tới thành lập Đảng cộng sản Việt Nam sau này. Qua tìm hiểu nhóm Tâm Tâm xã, Nguyễn Ái Quốc biết đây là tổ chức tập hợp được nhiều người Việt Nam yêu nước, có tinh thần cách mạng, có hiểu biết ít nhiều về tình hình cách mạng trong nước và thế giới nhưng chưa có nhận thức sâu sắc về đường lối chính trị và phương pháp tổ chức cách mạng. Từ đó, Nguyễn Ái Quốc đã nhận xét: “Anh em còn ít hiểu biết về chính trị và không có đường lối tổ chức quần chúng”. Người đã giải thích cho nhóm Tâm Tâm xã hiểu được những ưu điểm và hạn chế trong chủ trương cứu nước của họ. Đây chính là cuộc gặp gỡ định mệnh lịch sử giữa Nguyễn Ái Quốc với nhóm Tâm Tâm xã nói chung và với Hồ Tùng Mậu nói riêng. Từ đây, trong nhận thức về con đường, biện pháp cứu nước của Hồ Tùng Mậu và nhóm Tâm Tâm xã có sự chuyển biến mang tính bước ngoặt về nhận thức và hành động cách mạng. Qua Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tùng Mậu và nhóm Tâm Tâm xã biết được con đường cách mạng đúng đắn và phù hợp lúc này là phải dựa vào lực lượng của quần chúng, chủ yếu là công nông, phải có Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin vững mạnh, thống nhất. Nguyễn Ái Quốc sớm nhận thấy ở Hồ Tùng Mậu có lòng yêu nước cháy bỏng, tố chất thông minh, hoạt bát nên đã chủ động định hướng giúp đỡ, huấn luyện Hồ Tùng Mậu. Ông trở thành người cộng sản kiên trung, bất khuất, người cán bộ cốt cán cần mẫn, hết lòng vì sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Có thể nói, đây chính là cuộc hội ngộ lịch sử trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử Việt Nam cận đại. Bởi, qua cuộc gặp gỡ này, Nguyễn Ái Quốc đã xây dựng, bồi dưỡng được những thanh niên ưu tú trong Tâm Tâm xã (trong đó có Hồ Tùng Mậu) trở thành những người cộng sản kiên trung, những cán bộ cốt cán của Đảng sau này. Đây cũng là bước ngoặt căn bản trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Tùng Mậu và các thành viên khác của Tâm Tâm xã, là kết quả tất yếu của sự giác ngộ ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lênin trên mảnh đất tốt – đó là lòng yêu nước, tình yêu thương đồng bào của những thanh niên đầy hoài bão và nhiệt huyết, trăn trở trước vận mênh của Tổ quốc đang chìm đắm trong vòng nô lệ.
Quá trình từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác - Lênin của Hồ Tùng Mậu và nhiều thanh niên yêu nước khác lúc bấy giờ là sự phát triển tất yếu của lịch sử. Từ đây, Hồ Tùng Mậu và nhóm Tâm Tâm xã nhanh chóng trở thành những người học trò, cộng sự tin cậy và đắc lực của Nguyễn Ái Quốc trong sự nghiệp đấu tranh cho độc lập, tự do của Tổ quốc, hạnh phúc, ấm no của nhân dân, theo con đường cách mạng vô sản, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin.
Sau khi gặp được nhóm Tâm Tâm xã, Nguyễn Ái Quốc đã bắt đầu xây dựng tổ chức cách mạng mới. Người đã chọn Hồ Tùng Mậu là một trong số năm thành viên đầu tiên của Cộng sản Đoàn, hạt nhân để xúc tiến mở rộng tổ chức cách mạng của người Việt Nam ở Quảng Châu sau này. Kể từ đó, Hồ Tùng Mậu xác định đi theo con đường cách mạng vô sản dưới sự dẫn dắt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đánh dấu sự chuyển biến tư tưởng từ người yêu nước thành người cộng sản trong quá trình hoạt động cách mạng của mình.
Từ khi xác định đi theo con đường cách mạng vô sản, Hồ Tùng Mậu đã tích cực hoạt động trong các tổ chức và có nhiều cống hiến cho cách mạng Việt Nam. Cuối năm 1925, Hồ Tùng Mậu về Hải Phòng lập ra Huệ quần thư điếm, làm đầu mối liên lạc giữa Tổng bộ Thanh niên ở Quảng Châu với các cơ sở cách mạng trong nước. Khi trở lại Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu đã trợ giúp Nguyễn Ái Quốc rất nhiều trong việc tổ chức và giảng dạy các lớp huấn luyện.
Tháng 3-1926, nhờ có sự giới thiệu của đồng chí Vương (Nguyễn Ái Quốc), Hồ Tùng Mậu được kết nạp vào Đảng Cộng sản Trung Quốc. Trong vị trí làm việc tại Chiêu đãi sở, do các đồng chí Trung Quốc bố trí phân công, Hồ Tùng Mậu lại có thêm điều kiện thuận lợi hoạt động cho cách mạng Việt Nam.
Do những hoạt động tích cực và có tầm ảnh hưởng trong cách mạng Trung Quốc và Việt Nam, chỉ trong hai năm (1927-1928), Hồ Tùng Mậu đã bị chính quyền Quốc dân Đảng Trung Quốc bắt giam bốn lần. Đến cuối năm 1929, nhờ sự vận động của đồng chí Trương Vân Lĩnh, một cán bộ của ta hoạt động trong Quốc dân Đảng, Chính phủ Tưởng Giới Thạch đã thả Hồ Tùng Mậu và một số cán bộ Việt Nam, nhưng bị trục xuất khỏi Quảng Châu. Trong lúc này, Tòa án Nam triều cũng xử vắng mặt Hồ Tùng Mậu và kết án tử hình đồng chí.
Sau khi bị trục xuất khỏi Quảng Châu, Hồ Tùng Mậu vẫn tích cực tham gia hoạt động và đã có rất nhiều đóng góp cho cách mạng Việt Nam. Sau Đại hội tháng 5-1929, bàn về việc thành lập Đảng nhưng không thành, Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên bị phân liệt, dẫn tới sự hình thành các tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng. Đứng trước nguy cơ phong trào cách mạng bị phân tán, Hồ Tùng Mậu cùng Lê Hồng Sơn một mặt tìm cách thuyết phục hai tổ chức thống nhất lại. Mặt khác, hai đồng chí cũng cử Lê Duy Điếm sang Thái Lan báo cáo tình hình cụ thể với Nguyễn Ái Quốc để tranh thủ ý kiến của Người. Sau khi nhận báo cáo, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động rời khỏi Xiêm và triệu tập cuộc họp các tổ chức cộng sản từ ngày 6-1 đến ngày 7-2-1930 tại Cửu Long, Hương Cảng, Trung Quốc để hợp nhất các tổ chức cộng sản thành một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Hồ Tùng Mậu tham gia hội nghị với tư cách là đại biểu giúp việc và có công lớn trong sự thành công của hội nghị này. Đây là dấu mốc chính thức đánh dấu sự chuyển biến của Hồ Tùng Mậu từ người yêu nước chân chính trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ khi trở thành người cộng sản, đồng chí luôn nỗ lực, cống hiến hết mình cho lý tưởng của cách mạng. Được tôi luyện trong phong trào cách mạng Việt Nam, đồng chí Hồ Tùng Mậu thực sự trở thành người cộng sản kiên trung, mẫu mực. Đồng chí bị địch bắt và giam cầm tổng cộng gần 14 năm trong chốn lao tù đế quốc (từ 1931-1945); hai lần bị tuyên án tử hình, nhưng đồng chí vẫn vượt qua mọi thủ đoạn đàn áp, mua chuộc, dụ dỗ của mật thám và chế độ hà khắc của nhà tù thực dân. Đồng chí còn biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, thành nơi rèn luyện, củng cố niềm tin, ý chí của những chiến sĩ cách mạng; đồng chí trở thành trung tâm đoàn kết các anh em tù chính trị trong nhà lao… Đồng chí Hồ Tùng Mậu đã nêu một tấm gương sáng ngời về ý chí kiên cường, bất khuất, một lòng trung kiên với lý tưởng cách mạng của Đảng.
Tháng 3-1945, Hồ Tùng Mậu vượt ngục và nhanh chóng cùng toàn dân tộc tham gia tiến hành Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước như: Phụ trách Trường Quân chính Nhượng Bạn, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu IV, Ủy viên thường vụ Liên khu ủy, Tổng thanh tra Chính phủ… Ở bất kỳ cương vị công tác nào, đồng chí đều hăng hái nhiệt tình và phát động được cán bộ, nhân dân tích cực tham gia. Đặc biệt, với cương vị là Tổng Thanh tra Chính phủ (1949), vị trí rất cần đến phẩm chất đạo đức, thanh liêm, trung thành, trung thực, sâu sát, cụ thể, đồng chí Hồ Tùng Mậu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, nêu cao tinh thần dũng cảm, không sợ va chạm, vượt khó, lăn lộn trong nhân dân, trong Đảng, đề cao trách nhiệm, phát hiện những vi phạm, sai phạm trong Đảng và trong bộ máy Nhà nước để kiến nghị xử lý đúng. Đồng chí rất coi trọng đạo đức cách mạn...
* Hoàn cảnh Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước:
Năm 1858, thực dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên ở Đà Nẵng báo hiệu thời kì xâm lược nước ta. Triều Nguyễn đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác rồi lần lượt chấp nhận sự cai trị của thực dân Pháp trên đất nước ta.
Mặc dù vậy, nhân dân ta vẫn luôn đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược. Tiêu biểu cho những cuộc đấu tranh lâu dài và bền bỉ là phong trào Cần vương thế kỉ XIX. Nhưng cuối cùng phong trào Cần vương bị thất bại, ngọn cờ cứu nước theo khuynh hướng phong kiến không còn phù hợp nữa.
Tiếp theo phong trào Cần vương là những cuộc đấu tranh của các văn thân, sĩ phu yêu nước từ đầu thế kỉ XX theo khuynh hướng dân chủ tư sản, nhưng rồi cũng bị thất bại.
Cách mạng Việt Nam đang bị khủng hoảng về đường lối cứu nước.
Đứng trước hoàn cảnh trước mắt, nhà tan lại được chứng kiến những cuộc đấu tranh yêu nước của các bậc tiền bối bị thất bại. Tất cả đã hun đúc trong Nguyễn Ái Quốc quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước.
* Quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc khác so với những người đi trước.
Các bậc sĩ phu và văn thân yêu nước trước đây đi tìm đường cứu nước chủ yếu là dựa vào các nước để giúp Việt Nam chống Pháp. Chẳng hạn, Phan Bội Châu sang Nhật Bản để dựa vào Nhật giúp Việt Nam đánh Pháp, hay học tập những kinh nghiệm của Nhật để về lãnh đạo đồng bào ta chống Pháp.
Còn quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc là quá trình khảo sát, quá trình lựa chọn.
+ Nguyễn Ái Quốc đến nhiều nước, tìm hiểu các cuộc Cách mạnh đã diễn ra trên thế giới.
+ Từ đó, Nguyễn Ái Quốc rút ra kết luận: Cách mạng tư sản Pháp, Cách mạng Mĩ là những cuộc cách mạng "chưa tới nơi". Người ta đã cách mạng hàng trăm năm rồi mà dân chúng vẫn còn khổ cực đang toan tính làm lại cách mạng khác.
+ Cuộc cách mạng "tới nơi" mà Nguyễn ái Quốc tìm kiếm là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, đồng thời là giải phóng người lao động.
Đó là lí do để Người khẳng định Việt Nam phải đi theo Cách mạng tháng Mười Nga vào năm 1920, khi mà Người đọc sơ thảo, Luận cương của Lê-nin vấn đề dân tộc và thuộc địa.
Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nc trong hòan cảnh:
Nhân dân ta bị Pháp nhiều lần đô hộ và đã có nhiều cuộc đấu tranh nổ ra nhưng đều thất bại nên Bác quyết định ra đi tìm đường cứu nc
Nội qui tham gia "Giúp tôi giải toán"
1. Không đưa câu hỏi linh tinh lên diễn đàn, chỉ đưa các bài mà mình không giải được hoặc các câu hỏi hay lên diễn đàn;
2. Không trả lời linh tinh, không phù hợp với nội dung câu hỏi trên diễn đàn.
3. Không "Đúng" vào các câu trả lời linh tinh nhằm gian lận điểm hỏi đáp.
Các bạn vi phạm 3 điều trên sẽ bị giáo viên của Online Math trừ hết điểm hỏi đáp, có thể bị khóa tài khoản hoặc bị cấm vĩnh viễn không đăng nhập vào trang web.
* Câu trên là câu đơn :
- Vì :
+ Câu trên xét về hình thức, có dấu phẩy có thể ngăn cách thành 2 vế nên ta hay nhầm tưởng là câu ghép.
+ Nhưng xét về nghĩa, sau dấu phẩy có liên từ "nhưng" nhưng sau liên từ lại có cụm động từ "làm cho" nên câu sau dấu phẩy không được coi là 1 câu đơn thường. Nếu sau liên từ là một "danh từ" thì câu đó mới là câu đơn. Còn sau liên từ không phải danh từ thì chưa chắc đã có cấu tạo là câu đơn.
- Nếu câu gốc cho là :" Người con trai ấy thật đáng yêu, nhưng ông ấy quá khổ nhọc vì chàng trai này " thì câu đó mới là câu ghép. Vì sau nhưng là "ông" một danh từ .
=> Câu trên là câu đơn.
Ái của tao nhé im mõm vào
con t đấy cm im mồm đi