nêu hiểu biết của bạn về nguyễn dữ
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Tham khảo
Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân). Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên.Tác giả Nguyễn Dữ hiện chưa rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng thế kỉ XVI, là người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Thời ông sống, triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng suy thoái, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực gây ra liên tiếp các cuộc nội chiến kéo dài. Có giả thiết cho rằng ông là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cha ông là tiến sĩ đời Lê Thánh Tông, bản thân ông cũng là người học rộng, tài cao nhưng giống như nhiều trí thức đương thời, ông chỉ làm quan một năm rồi xin về quê ẩn dật. Ông có tác phẩm tiếng Hán nổi tiếng Truyền kì mạn lục (Ghi chép tản mạn những điều kì lạ vẫn được lưu truyền), một tác phẩm thể hiện quan niệm sống và tấm lòng của ông trước cuộc đời.
Tham khảo
Nguyễn Du là một đại thi hào dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới, một nhà nhân đạo lỗi lạc có “con mắt nhìn thấu sáu cõi” và “tấm lòng nghĩ suốt ngàn đời” (Mộng Liên Đường chủ nhân). Nguyễn Du, tên chữ là Tố Như, tên hiệu là Thanh Hiên.Tác giả Nguyễn Dữ hiện chưa rõ năm sinh năm mất, sống vào khoảng thế kỉ XVI, là người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Thời ông sống, triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng suy thoái, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền lực gây ra liên tiếp các cuộc nội chiến kéo dài. Có giả thiết cho rằng ông là học trò của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Cha ông là tiến sĩ đời Lê Thánh Tông, bản thân ông cũng là người học rộng, tài cao nhưng giống như nhiều trí thức đương thời, ông chỉ làm quan một năm rồi xin về quê ẩn dật. Ông có tác phẩm tiếng Hán nổi tiếng Truyền kì mạn lục (Ghi chép tản mạn những điều kì lạ vẫn được lưu truyền), một tác phẩm thể hiện quan niệm sống và tấm lòng của ông trước cuộc đời.
→ Là triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.
→ Được thành lập sau khi chúa Nguyễn, Nguyễn Ánh (Gia Long), lên ngôi hoàng đế năm 1802 và kết thúc hoàn toàn khi Bảo Đại thoái vị vào năm 1945, tổng cộng là 143 năm.
→ Là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19.
refer
Nguyễn Huệ (1753 – 1792), còn gọi là vua Quang Trung, là người anh hùng áo vải đã đánh đổ cả hai chính quyền phản động ở Đàng Trong và Đàng Ngoài, người đã lập nên những chiến công hiển hách chống quân xâm lược Xiêm và Mãn Thanh, thực hiện được khát vọng thống nhất đất nước của dân tộc vào cuối thế kỷ thứ 18.
Nguyễn Huệ là nhà quân sự thiên tài. Trong hoạt động quân sự, ông chủ động tập trung lực lượng đánh vào những mục tiêu chiến lược trọng yếu nhất và hành động liên tục, bất ngờ, chớp nhoáng, quyết liệt làm cho đối phương không kịp đối phó.
Nguyễn Huệ còn là nhà chính trị sáng suốt. Từ mục tiêu trước mắt của phong trào nông dân là đánh đổ chế độ áp bức Trịnh - Nguyễn, Nguyễn Huệ đã vươn lên nhận thức được nhiệm vụ dân tộc là thống nhất đất nước và đánh đuổi ngoại xâm.
tham khảo:
Nhà Nguyễn được thành lập sau khi Nguyễn Ánh (Gia Long) lên ngôi hoàng đế năm 1802 và kết thúc khi Bảo Đại thoái vị vào năm 1945, tổng cộng là 143 năm. Triều Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19.Vị thế: Đế quốc nội địa chịu sự triều cống cho ...tham khảo:
Nhà Nguyễn được thành lập sau khi Nguyễn Ánh (Gia Long) lên ngôi hoàng đế năm 1802 và kết thúc khi Bảo Đại thoái vị vào năm 1945, tổng cộng là 143 năm. Triều Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm trong lịch sử Việt Nam, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19.Vị thế: Đế quốc nội địa chịu sự triều cống cho ...
- Sự hiểu biết của em về Lê Lợi, Lê Lai và Nguyễn Trãi là:
+ Lê Lợi: Lê Lợi sinh ra trong một gia đình giàu có, có hàng nghìn tôi tớ ở Thanh Hóa, trưởng thành trong thời kỳ Nhà Minh đô hộ nước Việt. Thời bấy giờ có nhiều cuộc khởi nghĩa của người Việt nổ ra chống lại quân Minh nhưng đều thất bại. Năm 1418, Lê Lợi tổ chức cuộc khởi nghĩa Lam Sơn với lực lượng ban đầu chỉ khoảng vài nghìn người. Thời gian đầu ông hoạt động ở vùng thượng du Thanh Hóa, quân Minh đã huy động lực lượng tới hàng vạn quân để đàn áp, nhưng bằng cách hoặc trốn tránh hoặc sử dụng chiến thuật phục kích hoặc hòa hoãn, nghĩa quân Lam Sơn đã lớn mạnh dần lên. 5 năm sau (1424), Lê Lợi quyết định đánh vào Nghệ An, Thuận Hóa, liên tục thắng trận rồi trở ra giải phóng Thanh Hóa. Tới năm 1426, quân Lam Sơn đã làm chủ từ Thanh Hóa tới Thuận Hóa, quân Minh chỉ còn co cụm trong các thành Nghệ An, Thuận Hóa và Thanh Hóa.
+ Lê Lai: Lê Lai sinh ra ở thôn Dựng Tú, xã Đức Giang huyện Lương Giang (nay là Thôn Thành Sơn (Làng Tép), xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa), cha tên là Lê Kiều, nối đời làm chức phụ đạo trong vùng, con lớn tên Lê Lạn, con thứ là Lê Lai. Lê Lai được sử gia Lê Quý Đôn miêu tả trong sách Đại Việt thông sử là có tính cương trực, dung mạo khác thường, chí khí cao cả lẫm liệt, lo việc hậu cần cho Lê Lợi rất chu đáo.
+ Nguyễn Trãi: Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, quê gốc ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau dời đến làng Nhị Khê (nay là xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, thủ đô Hà Nội) là con của Nguyễn Phi Khanh , tiến sĩ cuối đời Trần, cháu ngoại tư đồ Chương Túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán. Dưới thời nhà Trần, cha ông là Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Hán Anh được Tư đồ Trần Nguyên Đán mời về dạy hai người con gái, con trưởng tên là Thái, con thứ tên Thai. Nguyễn Phi Khanh dạy Thái, nhân gần gũi, đã làm thơ quốc ngữ khêu gợi Thái, có quan hệ nam nữ với Thái, Hán Anh cũng làm thơ quốc ngữ bắt chước Phi Khanh. Rốt cuộc Thái có thai, Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Hán Anh bỏ trốn, đến ngày Thái đẻ, Trần Nguyên Đán mới hỏi Nguyễn Phi Khanh ở đâu, người nhà bảo Nguyễn Phi Khanh đã trốn đi. Trần Nguyên Đán cho gọi hai người về gả con gái cho Nguyễn Phi Khanh, sinh ra Nguyễn Trãi. Sau đó Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Hán Anh thi đỗ nhưng vua Trần Nghệ Tông bỏ không dùng, cho rằng "Bọn chúng có vợ giàu sang, như thế là kẻ dưới mà dám phạm thượng''. Theo nghiên cứu sử gia hiện đại Trần Huy Liệu, Nguyễn Phi Khanh và Trần Thị Thái có với nhau 5 người con theo thứ tự là Nguyễn Trãi, Nguyễn Phi Báo, Nguyễn Phi Ly, Nguyễn Phi Bằng và Nguyễn Phi Hùng. Mẹ ông mất sớm, bố ông ở rể ở nhà ngoại, anh em Nguyễn Trãi ở nhà ông ngoại là Trần Nguyên Đán, đến năm 1390 thì Trần Nguyên Đán mất. Nguyễn Phi Khanh phải một mình nuôi các con.
Chú ý các ý sau:
- Vũ Nương là người phụ nữ có nhiều phẩm chất tốt đẹp
+ Người con gái thùy mị nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp.
+ Người vợ một mực thủy chung với chồng, thấu hiểu nỗi khổ và nguy hiểm mà chồng phải đối mặt nơi chiến tuyến, chờ đợi chồng.
+ Người con dâu hiếu thảo: chăm sóc mẹ chồng như cha mẹ ruột, lo ma chay chu đáo khi mẹ chồng mất
+ Người mẹ thương con hết mực:bù đắp thiếu thốn tinh thần của con bằng cách chỉ vào bóng mình trên tường giả làm cha đứa bé.
+ Người phụ nữ trọng nhân phẩm tình nghĩa.
- Số phận của nàng bất hạnh, hẩm hiu:
+ Chồng đi lính, một mình phải gánh vác công việc gia đình, chăm sóc con nhỏ, phụng dưỡng mẹ già
+ Bị chồng nghi oan tấm lòng chung thủy, mắng nhiếc, đánh đuổi một cách phũ phàng
+ Dù ở thủy cung luôn nhớ về nhân gian nhưng không thể trở về được
Nghệ thuật xây dựng nhân vật: tạo dựng tình huống để thử thách nhân vật, khắc họa nhân vật qua ngoại hình, hành động, đối thoại... kết hợp với yếu tố kì ảo có thực
- Vũ Nương là đại diện cho người phụ nữ Việt Nam xưa có tư dung tốt đẹp, có nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng chịu nhiều đau khổ, bất hạnh.
- Thông tin chung
- Nguyễn Đức Trung là nhạc sĩ sinh sống và hoạt động chủ yếu tại TP. Hồ Chí Minh.
- Anh từng làm giám khảo cuộc thi “Tiếng hát 50+”, một sân chơi âm nhạc cho người trung niên và cao tuổi, thể hiện vai trò của mình trong việc hỗ trợ văn hóa nghệ thuật cộng đồng
Những đóng góp trong âm nhạc và sáng tác
- Một bài hát nổi bật của anh là “Hạt mưa long lanh”. Trong bài này, anh nói về hình ảnh thanh niên xung phong – màu xanh của tương lai, hy vọng và tinh thần tuổi trẻ.
- Anh cũng sáng tác nhạc phim. Hai bộ phim được nhắc tới mà anh có bài nhạc phim là Giã từ dĩ vàng và Người đàn bà yếu đuối. Việc viết nhạc phim là bước tiến mới trong sự nghiệp sáng tác của anh. Quan điểm và vai trò xã hội
- Anh từng phát biểu về thực trạng trong âm nhạc hiện nay, đặc biệt là chuyện các ca khúc với lời ca thô tục, không phù hợp – anh cho rằng cần có kiểm soát, hậu kiểm cho các sản phẩm âm nhạc để bảo vệ giá trị nghệ thuật và văn hóa.
- Với vị trí là Phó Chủ tịch Hội Âm nhạc TP. HCM, anh có tiếng nói trong vấn đề định hướng thẩm mỹ cho nghệ sĩ trẻ, thúc đẩy âm nhạc lành mạnh, có chiều sâu.
- Thông tin chung
- Nguyễn Đức Trung là nhạc sĩ sinh sống và hoạt động chủ yếu tại TP. Hồ Chí Minh.
- Anh từng làm giám khảo cuộc thi “Tiếng hát 50+”, một sân chơi âm nhạc cho người trung niên và cao tuổi, thể hiện vai trò của mình trong việc hỗ trợ văn hóa nghệ thuật cộng đồng
Những đóng góp trong âm nhạc và sáng tác
- Một bài hát nổi bật của anh là “Hạt mưa long lanh”. Trong bài này, anh nói về hình ảnh thanh niên xung phong – màu xanh của tương lai, hy vọng và tinh thần tuổi trẻ.
- Anh cũng sáng tác nhạc phim. Hai bộ phim được nhắc tới mà anh có bài nhạc phim là Giã từ dĩ vàng và Người đàn bà yếu đuối. Việc viết nhạc phim là bước tiến mới trong sự nghiệp sáng tác của anh. Quan điểm và vai trò xã hội
- Anh từng phát biểu về thực trạng trong âm nhạc hiện nay, đặc biệt là chuyện các ca khúc với lời ca thô tục, không phù hợp – anh cho rằng cần có kiểm soát, hậu kiểm cho các sản phẩm âm nhạc để bảo vệ giá trị nghệ thuật và văn hóa.
- Với vị trí là Phó Chủ tịch Hội Âm nhạc TP. HCM, anh có tiếng nói trong vấn đề định hướng thẩm mỹ cho nghệ sĩ trẻ, thúc đẩy âm nhạc lành mạnh, có chiều sâu
Tôi không biết
- Xuất thân: Nguyễn Dữ là con trai cả của Tiến sĩ Nguyễn Tường Phiêu, xuất thân trong một gia đình khoa bảng ở Hải Dương.
- Học vấn: Ông thông minh, chăm học, đọc nhiều, nhớ nhiều, có vốn hiểu biết rộng.
- Quan nghiệp: Sau khi đỗ Cử nhân, ông từng làm quan cho nhà Mạc, rồi về làm Tri huyện dưới thời nhà Lê nhưng không lâu sau thì xin cáo quan về ở ẩn núi rừng Thanh Hóa vì bất mãn với thời cuộc suy thoái.
- Cuộc đời ẩn dật: Ông trải qua nhiều năm sống ẩn dật, không đặt chân đến thị thành, an hưởng tuổi già bên sách vở và văn chương, thể hiện tinh thần độc lập, không màng danh lợi.
2. Tư tưởng và quan điểm sống:- Ưu thời mẫn thế: Dù ẩn dật, ông vẫn có tấm lòng ưu thời mẫn thế, quan tâm đến thời cuộc và số phận con người.
- Tư tưởng thân dân: Nguyễn Dữ có tư tưởng thân dân sâu sắc, thể hiện trong tác phẩm của mình.
- Lý tưởng sĩ phu: Ông thể hiện lý tưởng của người sĩ phu ẩn dật, lấy văn chương làm sự nghiệp, nối nghiệp gia đình.
3. Di sản văn học: