Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về nhân vật Thị Phương trong đoạn trích sau.
Bài đọc:
GẶP QUỶ DỮ VÀ THẦN RỪNG (HỔ)
(Trích chèo Trương Viên)
Mụ: - Con ơi, bây giờ mẹ đói bụng khát nước, nhọc lắm... Mẹ không thể đi được nữa, con xem có gần nhà ai thì con xin cho mẹ một chút đỡ đói lòng.
Thị Phương: (Nói sử) - Mẹ ơi,
Con trông bên đông có lửa
Mẹ ngồi đây, con thử vào coi
Có cơm cháo xin người thí bỏ
Quỷ: (Ra) - Động ta đây nghiêm chỉnh sắp bày
Ủa kìa người họa phúc tới đây
Sai chúng quỷ ra vây bắt lấy
(Xưng danh) Mỗ bạch yêu tinh
Chiếm cao san nhất động
Ngày ngày thường bắt người nuốt sống
Đêm thời đón khách nhai gan
Lộc thiên trù đưa đến tự nhiên
Nay được bữa no say... cha chả!
Này người kia,
Sơn lâm rừng vắng
Đỉnh thượng non cao
Chốn hang sâu sao dám tìm vào
Đi đâu đó, kìa con, nọ mẹ?
Thị Phương: - Trình lạy ông thương đoái
Mẹ con tôi đói khát lắm thay
Xẩy nhà lạc bước đến đây
Có cơm cháo xin người thí bỏ
Quỷ: - Không khiến kêu van kể lể
Ta quyết nhai tuổi, nuốt sống không tha
Quỷ cái: (Ra) - Chàng ăn thịt gì cho thiếp tôi ăn với!
Quỷ: - Ta ăn thịt Thị Phương.
(Lược một đoạn: Quỷ nói chuyện với Quỷ cái. Thương cho Thị Phương, Quỷ cái nhận Thị Phương là em kết nghĩa để nàng không bị ăn thịt. Quỷ cái còn cho Thị Phương năm lạng vàng để nàng đem về nuôi mẹ.)
Thị Phương: (Quay ra) - Mẹ thức hay ngủ mẹ ơi!
Mụ: - Con vào đấy có được tí gì không?
Thị Phương: - Thưa mẹ, con vào đó, quỷ đông đòi ăn thịt.
Mụ: - Ăn cơm với thịt đông à?
Thị Phương: - Quỷ đông đòi ăn thịt con, mẹ ạ. Quỷ cái ra can rồi lại cho vàng.
Mụ: (Cầm vàng) - Ở hiền rồi lại gặp lành (hát sắp)
Gặp vợ chú quỷ cho thanh tre già
(Nói sử) Ới con ơi,
Mẹ cảm thương thân mẹ
Mẹ lại ngại thân con (Hát văn)
Như dao cắt ruột mẹ ra
Trăm sầu, nghìn thảm chất đà nên con!
(Nói) - Con ơi, trời còn sớm hay đã tối mà con cứ dắt mẹ đi mãi thế này?
Thị Phương: - Trình lạy mẹ,
Vầng ô đã lặn
Vắng vẻ cửa nhà
Mẹ con ta vào gốc cây đa
Nằm nghỉ tạm qua đêm sẽ liệu (ngồi nghỉ).
Thần rừng (Hổ): (Ra) - Ra oai hùm gầm kêu ba tiếng
Phóng hào quang chuyển động phong lôi
Xa chẳng tỏ, nhảy lại ngó coi
Giống chi chi như thể hình người
Đi đâu đó? - Kìa con, nọ mẹ
Muốn sống thời ai chịu cho ai
Vào nộp mệnh cho ta nhai một.
Thị Phương: - Trăm lạy ông,
Nhẽ ngày hôm qua một tận không còn
Tôi kêu trời khấn đất đã vang
Qua nạn ấy, nạn này lại phải
Ơn ông vạn bội
Ông ăn thịt một, còn một ông tha
Ông để mẹ già, tôi xin thế mạng.
Mụ: (Nói sử) - Trình lạy ông
Con tôi còn trẻ
Công sinh thành, ông để tôi đền
Ông ăn thịt tôi, ông tha cháu nó.
Thị Phương: - Thưa mẹ, mẹ để con chịu cho.
Mụ: - Ới con ơi, con còn trẻ người non dạ, để mẹ chịu cho.
Thần rừng (Hổ): - Nhẽ ra thời ăn thịt cả không tha
Thấy mẹ con tiết nghĩa thay là
Tha cho đó an toàn tính mệnh.
(Trích Trương Viên, in trong Tuyển tập chèo cổ, Hà Văn Cầu, NXB Sân khấu, 1999)
Tóm tắt đoạn trích: Trương Viên quê đất Võ Lăng, nhờ mẹ sang hỏi cưới Thị Phương, người con gái của Tể tướng đã hồi hưu. Thấy chàng học giỏi, cha Thị Phương đồng ý và cho đôi ngọc lưu ly làm của hồi môn. Giữa lúc chàng đang dùi mài kinh sử thì được chiếu đòi đi dẹp giặc, chàng từ biệt mẹ già, vợ trẻ để ra chiến trường. Trong cảnh chạy giặc, Thị Phương đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm. Hai người bị quỷ dữ trong rừng sâu đòi ăn thịt, song may nhờ người vợ quỷ nhận làm chị em xin tha rồi cho vàng. Tiếp đó họ lại bị hổ dữ đòi ăn thịt. Thị Phương tình nguyện dâng mạng mình để cứu mẹ chồng. Hổ tha mạng cho cả hai mẹ con.
Trong đoạn trích chèo Trương Viên, nhân vật Thị Phương hiện lên là một hình tượng phụ nữ lý tưởng, đại diện cho những phẩm chất cao quý nhất của người phụ nữ Việt Nam truyền thống. Thị Phương không chỉ là một người vợ thủy chung mà trước hết còn là một người con dâu hết lòng hiếu thảo, luôn đặt sự an nguy của mẹ chồng lên trên tính mạng bản thân khi đối mặt với hiểm nguy nơi rừng sâu. Lời khẩn cầu "Ông để mẹ già, tôi xin thế mạng" khi đối diện với Hổ dữ đã chạm đến đỉnh điểm của đức hy sinh, cho thấy nàng sẵn sàng dâng hiến mạng sống để bảo vệ mẹ. Hành động này không chỉ là bổn phận mà còn xuất phát từ tình cảm chân thành, sâu sắc của một người con dâu đã dắt mẹ chồng lưu lạc suốt mười tám năm trời ròng rã. Tấm lòng tiết nghĩa của nàng lớn lao đến mức khiến ngay cả Thần rừng vốn tàn bạo cũng phải cảm động mà quyết định tha mạng cho cả hai mẹ con. Hình tượng Thị Phương chính là một bài ca bất hủ về lòng hiếu thảo, giúp thế hệ trẻ hôm nay nhận thức sâu sắc hơn về giá trị của tình yêu thương và trách nhiệm đạo đức đối với đấng sinh thành.
Kịch bản sân khấu, đặc biệt là các loại hình truyền thống như chèo và tuồng, giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa dân tộc Việt Nam. Kịch bản chèo thường mang tính trữ tình, dân gian, kết hợp lời thoại mộc mạc với làn điệu hát quen thuộc để phản ánh cuộc sống và phê phán những thói hư tật xấu trong xã hội. Trong khi đó, kịch bản tuồng lại trang trọng, ước lệ, xây dựng những xung đột lớn nhằm ca ngợi lòng trung nghĩa, khí phách và đạo lý làm người. Thông qua ngôn ngữ, hành động và âm nhạc, kịch bản sân khấu không chỉ tạo nên sức hấp dẫn nghệ thuật mà còn góp phần gìn giữ và lan tỏa các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc