Viết đoạn văn khoảng 200 chữ phân tích vẻ đẹp của con sông Đà trong đoạn trích sau:
Thuyền tôi trôi trên Sông Đà. Cảnh ven sông ở đây lặng tờ. Hình như từ đời Trần đời Lê, quãng sông này cũng lặng tờ đến thế mà thôi. Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa. Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi xúp-lê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ - Yên Bái - Lai Châu. Con hươu thơ ngộ ngẩng đầu nhung khỏi áng cỏ sương, chăm chăm nhìn tôi không chớp mắt lừ lừ trôi trên một mũi đò. Hươu vểnh tai, nhìn tôi không chớp mắt mà như hỏi tôi bằng cái tiếng nói riêng của con vật lành: “Hỡi ông khách Sông Đà, có phải ông cũng vừa nghe thấy một tiếng còi sương?”. Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt sông bung trắng như bạc rơi thoi. Tiếng cá đập nước sông đuổi mất đàn hươu vụt biến. Thuyền tôi trôi trên “Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh - Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình” của “một người tình nhân chưa quen biết” (Tản Đà). Dòng sông quãng này lững lờ như nhớ thương những hòn đá thác xa xôi để lại trên thượng nguồn Tây Bắc. Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải nó khác hẳn những con đò đuôi én thắt mình dây cổ điển trên dòng trên.
(Người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân, Nguyễn Tuân toàn tập, tập IV, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)
Con sông Đà trong đoạn trích hiện lên vừa hung bạo vừa nên thơ, mang vẻ đẹp vừa dữ dội của thiên nhiên Tây Bắc vừa trữ tình, vừa giàu chất sử thi. Nguyễn Tuân miêu tả những khúc sông thác đá bằng loạt hình ảnh mạnh mẽ: “bọt nước lềnh đênh”, “hòn đá thác xa xôi”, “đòi dập lên mặt sông” — tất cả tạo nên một không gian âm thanh, chuyển động mãnh liệt. Đồng thời, những chi tiết như “cỏ gianh đồi núi”, “mấy lá ngô non” và tiếng cá đập nước lại đem đến chiều sâu thơ mộng, chất hoang dại mà dịu dàng. Nghệ thuật hiện ra qua biện pháp nhân hóa, so sánh và liệt kê khiến con sông như một nhân vật sống động, có tâm trạng, có tính cách: lúc dữ như kẻ thù, lúc hiền như cổ tích. Giọng văn Nguyễn Tuân pha trộn giữa ngợi ca và trầm ngâm, nhịp câu linh hoạt, giàu nhạc điệu, giúp người đọc vừa sửng sốt trước vẻ hùng vĩ, vừa xao xuyến trước nét duyên của sông. Qua đó, sông Đà không chỉ là cảnh vật mà còn phản chiếu tâm hồn, thẩm mỹ và niềm say mê nghệ thuật của nhà văn, đồng thời khắc họa mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên hùng vĩ.
Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời say mê đi tìm vẻ đẹp của thiên nhiên và con người, và sông Đà trong Người lái đò sông Đà chính là một phát hiện rất riêng của ông. Ở đoạn trích này, con sông không hiện lên dữ dội mà mang vẻ đẹp trữ tình, êm đềm và đầy chất thơ. Con thuyền trôi chậm giữa khoảng sông " lặng tờ", gợi cảm giác thời gian như ngưng lại từ " đời Trần đời Lê ". Cảnh ven sông hoang sơ,tinh khiết với nương ngô non, cỏ xanh, sương đêm và đàn hươu hiền lành khiến bờ sông mang dáng dấp của một thế giới cổ xưa, vừa " tiền sử" vừa như cổ tích. Giữa không gian tĩnh lặng ấy, một tiếng còi tàu được mong chờ càng làm nổi bật nỗi khát khao giao hoà giữa con người và cuộc sống. Những chuyển động nhẹ như đàn cá quẫy nước ngọt, bọt nước lăn tăn khiến dòng sông thêm sống động mà vẫn dịu dàng. Sông Đà lúc này giống như một" người tình nhân chưa quen biết",kín đáo, sâu lắng,gợi nhiều thương nhớ. Trong nhịp trôi chậm rãi của con thuyền, người đọc như cảm nhận được nhịp thở êm đềm của núi rừng Tây Bắc và cả tình yêu thầm lặng mà Nguyễn Tuân dành cho dòng sông mình say mê. Sông Đà vì thế đi vào trang văn không ồn ào, không phô bày, mà ở lại rất lâu trong lòng người đọc bằng vẻ đẹp dịu dàng và sâu lắng.