(4 điểm) Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
CHIẾU CẦU HIỀN TÀI(1)
(Xuất tự Sử ký, năm Kỷ dậu, năm Thuận thiên thứ hai (1429))
Trẫm nghĩ: Được thịnh trị tất ở việc cử hiền, được hiền tài tất do sự tiến cử. Bởi thế người làm vua thiên hạ phải lấy đó làm việc trước tiên. Ngày xưa, lúc thịnh thời, hiền sĩ đầy triều nhường nhau địa vị, cho nên dưới không sót nhân tài, trên không bỏ công việc, mà thành đời thịnh trị vui tươi. Đến như các quan đời Hán Đường, ai là không suy nhượng kẻ hiền tài, cất nhắc lẫn nhau, như Tiêu Hà(2) tiến Tào Tham, Nguy Vô Tri(3) tiến Trần Bình, Địch Nhân Kiệt(4) tiến Trương Cửu Linh, Tiêu Tung(5) tiến Hàn Hưu, tuy tài phẩm có cao thấp khác nhau, nhưng tất thảy đều được người để đảm đang nhiệm vụ.
Nay trẫm vâng chịu trách nhiệm nặng nề, sớm khuya lo sợ, như gần vực sâu, chính vì cầu người hiền giúp việc mà chưa được người. Vậy hạ lệnh cho các văn võ đại thần, công hầu, đại phu, từ tam phẩm(6) trở lên, mỗi người đều cử một người, hoặc ở triều đình, hoặc ở thôn dã, bất cứ là đã xuất sĩ hay chưa, nếu có tài văn võ, có thể trị dân coi quân, thì trẫm sẽ tuỳ tài trao chức. Vả lại tiến hiền thì được thưởng, ngày xưa vẫn thế.
Nếu cử được người trung tài thì thăng chức hai bực, nếu cử được người tài đức đều hơn người tột bực, tất được trọng thưởng.
Tuy nhiên, người tài ở đời vốn không ít, mà cầu tài không phải chỉ một đường, hoặc người nào có tài kinh luân mà bị khuất ở hàng quan nhỏ, không ai tiến cử, cùng người hào kiệt náu ở đồng nội, lẩn ở hàng binh lính, nếu không tự mình đề đạt thì trẫm bởi đâu mà biết được! Từ nay về sau, các bực quân tử, ai muốn đi chơi ta đều cho tự tiến. Xưa kia Mạo Toại thoát mũi dùi mà theo Bình Nguyên quân(7), Nịnh Thích gõ sừng trâu mà cảm ngộ Tề Hoàn công(8), nào có câu nệ ở tiểu tiết đâu?
Chiếu này ban ra, phàm các quan liêu đều phải hết chức vụ, tiến cử hiền tài. Còn như những kẻ sĩ quê lậu ở xóm làng, cũng đừng lấy điều “đem ngọc bán rao”(9) làm xấu hổ, mà để trẫm phải than đời hiếm nhân tài.
(Bản dịch của Đào Duy Anh, Nguyễn Trãi toàn tập tân biên, tập II, Trung tâm Nghiên cứu quốc học, NXB Văn học, Hà Nội, 2000)
CHÚ THÍCH
(1) Chiếu cầu hiền tài: Theo Toàn thư và Cương mục thì tờ chiếu này ban bố vào khoảng tháng 6 năm Kỷ dậu (1429). Trong buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến, Lê Lợi một mặt phát triển chế độ khoa cử làm phương thức đào tạo quan lại chủ yếu, nhưng mặt khác vẫn sử dụng rộng rãi chế độ tiến cử, “cầu hiền” để kén chọn thêm quan lại.
(2), (3) Tiêu Hà, Nguy Vô Tri: Quan nhà Hán.
(4), (5) Địch Nhân Kiệt, Tiêu Tung: Quan nhà Đường.
(6) Tam phẩm: Trong chế độ phong kiến Trung Quốc và Việt Nam, phẩm cấp quan lại chia làm 9 bậc, cao nhất là nhất phẩm, thấp nhất là cửu phẩm. Quan lại từ tam phẩm trở lên là quan lại cao cấp.
(7) Bình Nguyên quân: Mao Toại là thực khách của Bình Nguyên quân nước Triệu thời Chiến quốc.
(8) Tề Hoàn công: Ninh Thích là người nước Vệ thời Xuân Thu.
(9) "Đem ngọc bán rao" (Huyễn ngọc cầu dụ): Ý nói tự đem khoe tài mình để cầu tiến dụng.
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong bài.
Câu 2 (0.5 điểm): Chủ thể bài viết là ai?
Câu 3 (1.0 điểm): Mục đích chính của văn bản trên là gì? Chỉ ra những đường lối tiến cử người hiền tài được đề cập trong văn bản.
Câu 4 (1.0 điểm): Theo văn bản, khi có được nước rồi, việc đầu tiên vua cần làm là chọn người hiền tài về giúp cho đất nước. Để minh chứng cho luận điểm đó, người viết đã đưa ra dẫn chứng nào? Nhận xét cách nêu dẫn chứng của người viết.
Câu 5 (1.0 điểm): Thông qua văn bản trên, hãy nhận xét về phẩm chất của chủ thể bài viết.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính trong bài Chiều cầu hiền tài là: Nghị luận
Câu 2: Chủ thể bài viết là: Vua Quang Trung (Nguyễn Huệ)
Câu 3:mục đích chính là nhằm kêu gọi, thuyết phục các sĩ phu Bắc Hà (trí thức triều đại cũ Lê - Trịnh) từ bỏ tị hiềm, ra cộng tác với triều đại Tây Sơn để tham gia xây dựng, chấn hưng đất nước
-các lối tiến cử người hiền tài được quy định cụ thể nhằm tìm kiếm người tài giúp vua Quang Trung xây dựng đất nước, bao gồm: các quan lại trọng triều được phép tiến cử người có tài nghệ, và những người ở ẩn (nhân sĩ) được phép dâng sớ tự tiến cử
Câu 4:
l Đọc hiểu
Câu 1
-PTBĐ chính là nghị luận.
Câu 2
-chủ thể bài viết: Vua Lê Thái Tổ người ban bố tờ chiếu.
Câu 3
-mục đích chính: kêu gọi những người có tài năng, đức độ đang ẩn dật hoặc chưa được trang dụng gia vũ nước, xây dựng triều đại mới sau chiến tranh.
-các đường lối tiến cử:
+ các quan Văn Võ đại thần, công hậu, đại tu từ tam phẩm trở nên lên, mỗi người đều được tiến cử 1 người ở triều đình
+ những người có tài năng nhưng bị khuất lấp ở hàng Quan nhỏ, không ai tiến cử thì có thể tự mình đề đạt.
Câu 4
-dẫn chứng: tác giả đưa ra cặp tiền bối gương mẫu nhất trong lịch sử như Tiêu Hà tiến cử tào tham, ngụy vô tri tiến cử Trần Bình, địch Nhân Kiệt tiến cử cửu linh…
-nhận xét: cách nêu dẫn chứng thuyết phục, sử dụng các tấm gương lịch sử có sức nặng về uy tín, cho thấy việc tiến cử người hiền là truyền thống tốt đẹp của triều đại thịnh trị.
Câu 5
-chủ thể bài viết hiện lên là 1 bậc minh quân có tầm nhìn xa trông rộng, hết lòng vì dân vì nước. Ông thể hiện thái độ cầu thị, khiêm nhường, biết trọng dụng nhân tài và có tấm lòng bao dung, gạt bỏ những định kiến nhỏ nhặt để thu phục lòng người.
ll viết
Câu 1
Nghệ thuật lập luận của Nguyễn Trãi trong triều cầu hiển tài thể hiện sự sắc sảo và đầy sức thuyết phục. Trước hết, hệ thống lập luận được sắp xếp cực kỳ chặt chẽ từ việc khẳng định quy luật khách quan đến việc bày tỏ nỗi lòng thành khẩn của quân vương, và cách cuối cùng là đưa ra những chính sách cụ thể. Cách sử dụng dẫn chứng lịch sử làm tăng tính thuyết phục, chứng minh rằng hiện tại là” nguyên khí”, là nhân tố quyết định sự thịnh trị . trong bài chiếu mang tính mệnh lệnh của bậc thiên tử, vừa chân thành, tha thiết như lời tâm tình, giúp xoá bỏ . Đặc biệt, việc sử dụng các hình ảnh so sánh ví von tạo nên gợi cảm lớn. Chính nghệ thuật lập luận kết hợp hài hòa giữa’ lý’ và’ tình’ đã giúp bà chiếu trở thành 1 áng áng văn chính luận mẫu mực, có sức lay động lòng người sâu sắc.
Câu 2
từ xa xưa, cha ông ta đã khẳng định hiển tài là nguyên khí của quốc gia. Trong văn bản’ chiếu cầu hiện tài’, vua lê thánh tông không ngần ngại để chiêu mộ người có tài . Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với 1 thực trạng đó là’ chảy máu chất xám’ là hiện tượng những người có trình độ chuyên môn cao, năng lực xuất chúng rời bỏ quê hương để tìm cơ hội việc làm và định cư tại các quốc gia phát triển.
Thực trạng này diễn ra vô cùng phức tạp. chúng ta dễ dàng bắt gặp những những trường hợp như các quán quân chương trình’ đường lên đỉnh olympia’ hay các thủ khoa đại học, du học sinh xuất sắc khi tu nghiệp tại các nước ngoài đều chọn ở lại Úc, Mỹ, Đức chấm chấm đó là những nước phát triển mạnh thay vì trở về quê hương. Không chỉ dừng lại ở sinh viên, nhiều nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành cũng âm thầm rời bỏ các cứu trong nước để đầu quân cho các . Việt Nam vô tình trở thành nơi đào tạo nguồn lực chất lượng cao cho thế giới. Nguyên nhân của hiện tượng này bắt nguồn từ các yếu tố khách quan quan. Trước hết, môi trường làm việc trong nước ta còn nhiều hạn chế, thiếu thốn trang thiết bị nghiên cứu hiện đại, khiến những người có đam mê khoa học có lòng phát triển hết khả năng. Thứ 2, chế độ đãi ngộ, lương bổng tại Việt Nam Trung vẫn còn thấp so với mặt bằng quốc tế, chưa đủ đảm bảo để cuộc sống ổn định cho mọi người. Đáng ngại hơn, 1 số môi trường, cơ chế tuyển dụng và thăng tiến vẫn còn nặng tính quan hệ khiến những người có thực lực thật sự cảm thấy bị xem nhẹ và thiếu đi sự .
Hậu quả của chảy chất xám là vô cùng Khi những bộ óc tinh hoa nhất dưới đi, đất nước sẽ mất đi động lực then chốt để đột phá về kinh tế và Việt Nam và các cường quốc sẽ ngày càng bị nới rộng. Chúng ta không chỉ mất đi nguồn lực trí tuệ mà còn làm lãng phí nhiều ngân sách đào tạo và tâm huyết của xã hội.
Để khắc phục tình trạng chúng ta cần 1 cuộc cách mạng trong tư duy quản lý nhân sự, nhà nước cần xây dựng những đặc khu kinh tế, các vị nghiên để những người có tài có đất sử dụng. Quan trọng hơn, cần thực hiện những chính sách trải thảm đỏ 1 cách thực chất không chỉ là tiền lương, mà là sự tôn trọng, tự do sáng tạo và lộ trình thăng tiến minh bạch dựa trên năng lực. Chúng ta cần đào tạo 1 môi trường mà ở đó người giỏi cảm thấy họ được cống hiến và được thừa nhận ngay trên chính sở trường của mình.
Tóm lại, nhân tài không phải là tài nguyên vô tận nếu không biết giữ gìn, nguyên khí sẽ cạn kiệt. Mỗi cá nhân trẻ tuổi chúng ta, bên cạnh việc rèn luyện tài năng, cũng cần nuôi dưỡng lòng yêu nước và Ý thức trách nhiệm. Tuy nhiên yêu nước cần được tiếp bởi những chính sách đúng đắn từ phía xã hội. Chỉ khi có những sự đồng hành giữa cá nhân và quốc tế, chúng ta mới có thể biến chảy máu chất xám thu hút chất xám, Việt Nam sánh vai với các cường quốc.