Cho ba số nguyên a ; b ;c thỏa mãn điều kiện a + b + c chia hết cho 6 . Chứng minh rằng tổng a3 + b3 + c3 cũng chia hết cho 6
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
#include <bits/stdc++.h>
using namespace std;
long long a[3],i,n;
int main()
{
n=3;
for (i=1; i<=n; i++) cin>>a[i];
sort(a+1,a+n+1);
for (i=1; i<=n; i++) cout<<a[i]<<" ";
return 0;
}
Ta có nhận xét: Với mọi số nguyên \(n\), ta luôn có \(n^3-n\) chia hết cho 6.
Thật vậy:
\(n^3-n=n(n-1)(n+1)\).
Vì \(n-1,n,n+1\) là ba số nguyên liên tiếp nên tích của chúng chia hết cho 2 và 3.
Suy ra \(n^3-n\) chia hết cho 6.
a) Chứng minh tổng các lập phương của hai số nguyên chia hết cho 6 khi và chỉ khi tổng hai số nguyên đó chia hết cho 6.
Ta có:
\(a^3-a\) chia hết cho 6.
\(b^3-b\) chia hết cho 6.
Suy ra:
\((a^3+b^3)-(a+b)\) chia hết cho 6.
Hay \(a^3+b^3\) và \(a+b\) có cùng số dư khi chia cho 6.
Do đó:
- Nếu \(a^3+b^3\) chia hết cho 6 thì \(a+b\) chia hết cho 6.
- Nếu \(a+b\) chia hết cho 6 thì \(a^3+b^3\) chia hết cho 6.
Vậy điều phải chứng minh.
b) Chứng minh tổng các lập phương của ba số nguyên chia hết cho 6 khi và chỉ khi tổng ba số nguyên đó chia hết cho 6.
Tương tự câu a, ta có:
\(a^3-a\) chia hết cho 6.
\(b^3-b\) chia hết cho 6.
\(c^3-c\) chia hết cho 6.
Cộng ba biểu thức trên, ta được:
\((a^3+b^3+c^3)-(a+b+c)\) chia hết cho 6.
Hay \(a^3+b^3+c^3\) và \(a+b+c\) có cùng số dư khi chia cho 6.
Do đó:
- Nếu \(a^3+b^3+c^3\) chia hết cho 6 thì \(a+b+c\) chia hết cho 6.
- Nếu \(a+b+c\) chia hết cho 6 thì \(a^3+b^3+c^3\) chia hết cho 6.
Vậy điều phải chứng minh. \(\square\)
\(a > 2\), mà \(2 > 0\) nên \(a >0\). Vậy \(a > 0\) và là số nguyên dương.
\(b < - 7\), mà \(-7 < 0\) nên \(b<0\). Vậy \(b < 0\) và là số nguyên âm.
\( - 1 < c < 1\) nên số c là số nằm giữa hai số -1 và 1. Mà chỉ có số 0 là số nguyên nằm giữa 2 số này nên c phải là số 0.
Vì 2n luôn là số chẵn nên nếu n là số lẻ thì trong hai số a + n và a + 2n sẽ có một số chẵn và 1 số lẻ. Mà số chẵn lớn hơn 3 thì chia hết cho 2 => Không là số nguyên tố. Vậy n phải là số chẵn (tức là n chia hết cho 2).
Lý luận tương tự, n phải chia hết cho 3, vì nếu n chia 3 dư 1 hoặc 2 thì 2n chia cho 3 dư 2 hoặc 1 => Trong 3 số a, a +n, a +2n khi chia cho 3 chắc chắn có 1 số chia hết cho 3
(vì nếu a chia hết cho 3 thì trong 3 số đó, số đầu tiên là a chia hết cho 3;
nếu a chia 3 dư 1 thì a + n hoặc a + 2n phải có 1 số chia hết cho 3 vì trong 2 số n và 2n có 1 số chia cho 3 dư 1 và số kia chia cho 3 dư 2
nếu a chia 3 dư 2 thì a + n và a + 2n phải có 1 số chia hết cho 3 vì trong 2 số n và 2n có 1 số chia cho 3 dư 1 và số kia chia cho 3 dư 2).
Vậy k chia hết cho 2 và cho 3 => n chia hết cho 6.
Vì 2n luôn là số chẵn nên nếu n là số lẻ thì trong hai số a + n và a + 2n sẽ có một số chẵn và 1 số lẻ. Mà số chẵn lớn hơn 3 thì chia hết cho 2 => Không là số nguyên tố. Vậy n phải là số chẵn (tức là n chia hết cho 2).
Lý luận tương tự, n phải chia hết cho 3, vì nếu n chia 3 dư 1 hoặc 2 thì 2n chia cho 3 dư 2 hoặc 1 => Trong 3 số a, a +n, a +2n khi chia cho 3 chắc chắn có 1 số chia hết cho 3
(vì nếu a chia hết cho 3 thì trong 3 số đó, số đầu tiên là a chia hết cho 3;
nếu a chia 3 dư 1 thì a + n hoặc a + 2n phải có 1 số chia hết cho 3 vì trong 2 số n và 2n có 1 số chia cho 3 dư 1 và số kia chia cho 3 dư 2
nếu a chia 3 dư 2 thì a + n và a + 2n phải có 1 số chia hết cho 3 vì trong 2 số n và 2n có 1 số chia cho 3 dư 1 và số kia chia cho 3 dư 2).
Vậy k chia hết cho 2 và cho 3 => n chia hết cho 6.
Ta có: Với mọi số nguyên \(a\), ta luôn có \(a^3-a\) chia hết cho 6.
Thật vậy:
\(a^3-a=a(a^2-1)=a(a-1)(a+1)\).
Vì \(a-1,a,a+1\) là ba số nguyên liên tiếp nên tích của chúng chia hết cho 2 và 3.
Suy ra \(a^3-a\) chia hết cho 6.
Tương tự, ta có:
- \(a^3-a\) chia hết cho 6.
- \(b^3-b\) chia hết cho 6.
- \(c^3-c\) chia hết cho 6.
Do đó:
\(a^3+b^3+c^3-(a+b+c)\) chia hết cho 6.
Mà theo giả thiết, \(a+b+c\) chia hết cho 6.
Suy ra \(a^3+b^3+c^3\) chia hết cho 6.
Vậy điều phải chứng minh.