phân tích hình ảnh sau

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Đề bài trên thuộc dạng bài phân tích hình ảnh trong một đoạn thơ, bài thơ.
Đáp án cần chọn là: C
Đoạn thơ trên gắn liền hình ảnh của dòng sông Đáy với hình ảnh người mẹ, những vết thương lòng đau đớn trong quá khứ và tình cảm gia đình. Các ý nghĩa phân tích thuật thuật của bài thơ:
Từ ngữ: Bài thơ sử dụng một ngôn ngữ khá tế nhị, đơn giản, lấy cảm hứng từ đời sống bình dân để miêu tả hình ảnh của dòng sông và người mẹ.
Hình ảnh: Các hình ảnh được sử dụng trong bài thơ bao gồm: gió giật, sông chảy, mẹ trong nước mắt, mỏm đất, khói bụi, cánh đồng, khói thơm, máu tổ tiên, hoa gạo, chiều không khói bếp, vết đắm, sông đau. Trong đó, hình ảnh của sông Đáy được nhắc đến nhiều lần và đóng vai trò chính trong bài thơ, tạo nên một bối cảnh quen thuộc cho con người.
Biện pháp tu từ: Bài thơ sử dụng nhiều biện pháp tu từ như lặp, điệp ngữ, ẩn dụ...Ví dụ như "Sông Đáy râm lên bao nhăn nheo/Khi cái rét tràn về tuổi thơ tôi", "Máu của tổ tiên là kết ngọc đáy sông"...
Giọng thơ: Bài thơ mang nhiều xúc cảm đau thương, chân thành, như đa phần tác phẩm của những nhà thơ miền Trung. Có những chi tiết chân thật về cuộc đời sống vùng quê và con người, tạo nên một bức tranh sinh động, tràn đầy sức sống.
Tham khảo:
Địa hình Châu Âu: có 3 dạng chính: Đồng bằng, núi già và núi trẻ. Đồng bằng kéo dài từ tây sang đông, chiếm 2/3 diện tích. Núi già ở phía bắc và vùng trung tâm, núi trẻ ở phía nam.
- Do phần lớn lãnh thổ châu Âu nằm trong vành đai ôn hòa (từ vòng cực bắc đến chí tuyến bắc), nên đặc trưng của khí hậu Châu Âu là khí hậu ôn đới.
- Một phần nhỏ diện tích Châu Âu ở phía bắc nằm trong vành đai lạnh, giáp với Bắc Băng Dương hầu như quanh năm băng giá nên có khí hậu hàn đới.
- Do phần lãnh thổ phía nam giáp với Địa Trung Hải và bị ảnh hưởng của khí hậu nội chí tuyến nên có khí hậu Địa Trung Hải.
- Do ảnh hưởng của dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương gió Tây ôn đới đưa hơi ấm, ẩm sâu vào đất liền nên phía tây Châu Âu có khí hậu ôn giới hải dương.
- Càng vào sâu trong đất liền, ảnh hưởng của dòng biển cũng như gió bị suy yếu dần, hơn nữa lại tiếp giáp với châu Á, ... nên phía đông Châu Âu khí hậu có khí hậu ôn đới lục địa
Tham khảo:
Địa hình Châu Âu: có 3 dạng chính: Đồng bằng, núi già và núi trẻ. Đồng bằng kéo dài từ tây sang đông, chiếm 2/3 diện tích. Núi già ở phía bắc và vùng trung tâm, núi trẻ ở phía nam.
- Do phần lớn lãnh thổ châu Âu nằm trong vành đai ôn hòa (từ vòng cực bắc đến chí tuyến bắc), nên đặc trưng của khí hậu Châu Âu là khí hậu ôn đới.
- Một phần nhỏ diện tích Châu Âu ở phía bắc nằm trong vành đai lạnh, giáp với Bắc Băng Dương hầu như quanh năm băng giá nên có khí hậu hàn đới.
- Do phần lãnh thổ phía nam giáp với Địa Trung Hải và bị ảnh hưởng của khí hậu nội chí tuyến nên có khí hậu Địa Trung Hải.
- Do ảnh hưởng của dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương gió Tây ôn đới đưa hơi ấm, ẩm sâu vào đất liền nên phía tây Châu Âu có khí hậu ôn giới hải dương.
- Càng vào sâu trong đất liền, ảnh hưởng của dòng biển cũng như gió bị suy yếu dần, hơn nữa lại tiếp giáp với châu Á, ... nên phía đông Châu Âu khí hậu có khí hậu ôn đới lục địa
Hình ảnh ẩn dụ trong bài hình ảnh “mặt trời” – hình ảnh của Bác Hồ. Mặt trời của thiên nhiên đem tới nguồn sáng, hạnh phúc soi đường cho toàn dân tộc. Màu sắc “rất đỏ” làm cho câu thơ trở nên thật đẹp, tạo ấn tượng sâu sắc, nói lên tư tưởng cách mạng, lòng yêu nước nồng nàn của Bác.
Tác giả xây dựng hình ảnh ẩn dụ để nói lên sự vĩ đại của Bác, thể hiện được sự tôn trọng, kính mến của tác giả và toàn dân đối với Bác – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta.
Hình ảnh ẩn dụ trong bài hình ảnh “mặt trời” – hình ảnh của Bác Hồ. Mặt trời của thiên nhiên đem tới nguồn sáng, hạnh phúc soi đường cho toàn dân tộc. Màu sắc “rất đỏ” làm cho câu thơ trở nên thật đẹp, tạo ấn tượng sâu sắc, nói lên tư tưởng cách mạng, lòng yêu nước nồng nàn của Bác.
Tác giả xây dựng hình ảnh ẩn dụ để nói lên sự vĩ đại của Bác, thể hiện được sự tôn trọng, kính mến của tác giả và toàn dân đối với Bác - vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc ta.
Tham khảo:
“Lục Vân Tiên” là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu. Thành công của nhà thơ không chỉ về bối cảnh truyện, nội dung sâu sắc, nhân văn mà còn đặc biệt thành công trong xây dựng nhân vật. Trong đoạn trích “Lục Vân Tiên cứu Kiều Nguyệt Nga”, bên cạnh nhân vật Lục Vân Tiên, nhân vật Kiều Nguyệt Nga đã được nhà thơ khắc họa một cách sinh động, chân thực.
Trong chuyến đi về Hà Khê, Kiều Nguyệt Nga phải đối mặt với nạn cướp bóc nguy hiểm từ “bớ đảng hung đồ”. Là thân gái yếu ớt nên khi bị bọn hung đồ chặn cướp nàng đã rất hoảng sợ và không biết làm gì. Rất may mắn khi đó nàng đã được Lục Vân Tiên hành động trượng nghĩa cứu giúp, những lời nói và hành động của Kiều Nguyệt Nga với Lục Vân Tiên sau đó đã bộc lộ phẩm chất đoan trang, dịu dàng có học thức của một tiểu thư khuê các Kiều Nguyệt Nga:
“Thưa rằng: “Tôi thiệt người ngay”
Sa cơ nên mới lầm tay hung đồ
Những lời nói đó của Kiều Nguyệt Nga đã cho thấy rừng nàng là một người có học thức, lời ăn tiếng nói nhã nhặn, dịu dàng, kể lể sự tình của mình. Cách “thưa rằng” của nàng đầy chuẩn mực, tôn trọng, thể hiện con nhà gia giáo có học thức. Nàng cũng rất biết điều phải trái, khi thấy Lục Vân Tiên hành hiệp cứu mình đã mang ơn mà “Cúi đầu trăm lạy”, nàng thể hiện sự biết ơn của mình với Lục Vân Tiên bằng cái cúi đầu ấy, đây là hành động rất đúng đạo lí đồng thời thể hiện cách suy nghĩ sâu sắc và chu đáo của nàng. Bên cạnh màn đối đáp với Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga hiện lên còn là một cô con gái rất có hiếu:
“Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê
Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành”
Nàng hiện lên là một người con gái rất có hiếu, luôn nghe lời cha, để làm theo mong muốn của cha thì nàng cũng chẳng ngại thân gái phải ngàn dặm xa xôi. Hình tượng Kiều Nguyệt Nga là hình mẫu lí tưởng của người con gái trong xã hội phong kiến đương thời, vừa nết na hiền thục, vừa có học thức lại hiếu thảo. Bên cạnh đó Kiều Nguyệt Nga còn là một người đầy chính nghĩa, đề cao tư tưởng đền ơn báo nghĩa đối với ân nhân của mình.
Trước ơn cứu mạng của Lục Vân Tiên, Kiều Nguyệt Nga tha thiết muốn được đền ơn và tỏ lòng mời Lục Vân Tiên về nhà cùng để tiện bề báo đáp “Xin theo cùng thiếp đền ơn cho chàng”. Kiều Nguyệt Nga lại một lần nữa quỳ lạy để thưa với Lục Vân Tiên “Xin cho tiện thiếp lạy rồi sẽ thưa”, thể hiện tấm lòng chân thành sâu sắc của nàng. Vốn là tiểu thư đài các mà Kiều Nguyệt Nga lại xưng mình là “tiện thiếp” thể hiện chuẩn mực khiêm nhường và từ tốn của nàng. Ngoài tình nghĩa ra, trong cuộc đối đáp với Lục Vân Tiên ta nhận thấy Kiều Nguyệt Nga có tài năng văn thơ hết mực tài hoa và tinh tế, thể hiện rõ nàng có “tài sắc vẹn toàn”, học thức tinh thông.
“Nguyệt Nga ứng tiếng xin hầu
Xuống tay liền tả tám câu năm vần”
Chẳng cần chau chuốt về từ ngữ hình ảnh, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã vẽ nên bức chân dùng của người thiếu nữ Kiều Nguyệt Nga đầy chân thực, gần gũi, mang vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.
Em tham khảo nhé:
Lục Vân Tiên là truyện thơ Nôm xuất sắc nhất của Nguyễn Đình Chiểu và của nền văn học Việt Nam thế kỉ 19. Bên cạnh việc khắc họa nhân vật chính Lục Vân Tiên, Nguyễn Đình Chiểu cũng xây dựng thành công nhân vật Kiều Nguyệt Nga, nhân vật nữ chính của truyện.
Ở đoạn trích này, nhân vật Kiều Nguyệt Nga dường như không được miêu tả gì. Phẩm chất tốt đẹp của nhân vật Kiều Nguyệt Nga được tác giả thể hiện qua lời lẽ chân thành mà nàng giãi bày với Lục Vân Tiên. Đó là lời lẽ của một tiểu thư khuê các, thùy mị, nết na và có học thức, hiểu biết lễ nghi.
Trước hết, qua lời nói, trước hết ta thấy, Kiều Nguyệt Nga là con gái nhà quan, địa vị khác hẳn Lục Vân Tiên. Nghĩa là nàng được giáo tập kĩ lưỡng lễ nghi và học thức. Điều đó cho thấy rất rõ, trong cảnh hỗn độn, nguy cấp, nàng vẫn giữ nghiêm lễ giáo, tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực về phẩm hạnh của người phụ nữ, không vì sợ hãi mà bước ra ngoài để cho bọn cướp sỉ mạ dung nhan. Đến khi, chỉ còn lại Lục Vân Tiên, nàng cũng hết sức giữ gìn khuôn phép.
Kiều Nguyệt Nga còn là một cô gái thùy mị, nết na, nhan sắc phi thường. Nàng ăn nói dịu dàng, mực thước. Nàng trình bày rõ ràng, khúc chiết, vừa đáp ứng đầy đủ những điều thăm hỏi ân cần của Lục Vân Tiên, vừa thể hiện niềm cảm kích chân thành đối với ân nhân cứu mạng:
“Thưa rằng: “Tôi Kiều Nguyệt Nga,
“Con này tỳ tất tên là Kim Liên.
“Quê nhà ở quận Tây Xuyên,
“Cha làm tri phủ ở miền Hà Khê.
“Sai quân đem bức thư về,
“Rước tôi qua đó định bề nghi gia.
“Làm con đâu dám cãi cha,
“Ví dầu ngàn dặm đàng xa cũng đành!”.
Cách xưng hô của nàng vừa trân trọng, vừa khiêm nhường: không vì con nhà quyền quý mà có lời lỗ mãng như bao tiểu thư con nhà quan khác. Lời nói của nàng dịu dàng, đằm thắm và hết sức thành khẩn muốn được đền đáp công ơn Lục Vân Tiên. Khi Lục Vân Tiên từ chối, hiểu rõ người anh hùng, nàng cũng không níu kéo nhiều lời. Cử chỉ của nàng cũng hết sức cung kính:
“Trước xe quân tử tạm ngồi
Xin cho tiên thiếp lạy rồi sẽ thưa”.
Khấu đầu trước ân nhân, hạ mình cung kính càng làm cho nàng thêm tôn quý. Không những dung nhan kiều diễm mà cốt cách cũng rất thanh cao: “Ơn ai một chút chẳng quên”. Khắc dạ ơn sâu là điều mà Kiều Nguyệt Nga mong muốn. Trước hết nàng muốn thể hiện lòng biết ơn bằng lễ nghĩa. Sau đó là đề cao:
Lâm nguy chẳng gặp giải nguy
Tiết trăm năm cũng bỏ đi một hồi”.
Lục Vân Tiên không những giải được một mối nguy mà còn cứu cả đời trong trắng của người con gái. Đối với người con gái, điều đó còn quý hơn cả tính mạng. Ơn nghĩa ấy trời cao, biển rộng, sông dài mới sánh nổi. Bởi thế mà, nếu không đền đáp được, nàng hãy còn băn khoăn, không thể an tâm. Làm người như thế là đã đủ trọn đạo nghĩa rồi:
“Gẫm câu báo đức thù công
Lấy chi cho phỉ tấm lòng cùng người”.
Báo đáp ơn sâu, đó là điều mà Kiều Nguyệt Nga mong muốn. Còn sự thật, Lục Vân Tiên đã khước từ tất cả. Bản tính anh hùng trượng nghĩa, không vì một chút cảm tình mà làm điều tầm thường. Kiều Nguyệt Nga thấu hiểu điều đó nên càng thêm cảm phục. Đó cũng là hình mẫu mà nàng đang mong ước. Bởi thế, từ đó, nàng nguyện gắn cuộc đời mình với Lục Vân Tiên đời đời kiếp kiếp. Suy nghĩ về Lục Vân Tiên thời nay qua hai câu thơ:
“Nhớ câu kiến nghĩa bất vi
Làm người thế ấy cũng phi anh hùng”
Truyện Lục Vân Tiên có kết cấu truyện và tình tiết rất giống với truyện cổ dân gian về người tài giỏi. Kết cấu truyện dân gian thường xoay quanh cuộc đời một người một người trai tài giỏi, trong một lần tình cờ cứu được cô gái xinh đẹp. Từ đó, họ bén duyên nợ với nhau. Chàng trai sau bao khó khăn, thử thách, lập nhiều chiến công, bảo vệ lẽ phải đã tìm lại được cô gái. Từ đó họ sống hạnh phúc với nhau.
Kết cấu truyện Lục Vân Tiên thể hiện niềm mong ước của tác giả về một người anh hùng hiệp nghĩa ra tay trừ gian, dẹp loạn, bảo vệ cuộc sống yên bình. Với ngôn ngữ thơ mộc mạc, được chắt lọc từ ngôn ngữ đời sống, không hề được trau chuốt, gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân lao động khiến cho truyện Lục Vân Tiên nhanh chóng được tiếp nhận trong khắp Nam Bộ. Giọng điệu thơ liên tục thay đổi lúc gấp gáp, khẩn trương (lúc Lục Vân Tiên đánh cướp), lúc nhẹ nhàng, chậm rãi (đoạn Lục Vân Tiên trò chuyện với Nguyệt Nga) phù hợp với không khí truyện. Cái “thô sơ và hực sáng” ấy của ngôn ngữ văn học đã được thể hiện trọn vẹn trong những tác phẩm thơ của Nguyễn Đình Chiểu.
Kiều Nguyệt Nga là đại diện sinh động cho người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến, vừa đẹp đẽ ở hình thức, vừa cao quý ở tâm hồn, cốt cách. Có lẽ, Nguyễn Đình Chiểu đã dành hết những mến yêu khi xây dựng nhân vật này. Ông tỏ ra trân trọng người phụ nữ trong xã hội và luôn mong muốn họ có một cuộc sống tốt đẹp, xứng đáng với giá trị vốn có của họ. Nhân vật Kiều Nguyệt Nga đã chinh phục được tình cảm yêu mến của nhân dân, những con người luôn đặt ân nghĩa lên hàng đầu, coi ân nghĩa là gốc rễ của đạo đức.
giải thích hình