Viết đoạn văn tóm tắt văn bản đi lấy mật sách giáo khoa kết nối tri thức lp 7
K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

21 tháng 3 2023

ngắn nha

30 tháng 9 2023

Tiếng gà trưa – Xuân Quỳnh

Thơ của Xuân Quỳnh thường có giọng điệu sôi nổi trẻ trung mạnh bạo và giàu chất trữ tình. “Tiếng gà trưa” được viết vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ thể hiện tình yêu thương tổ quốc, quê hương trong đó sâu lặng và thắm thiết là tình bà cháu. Bài thơ Tiếng gà trưa đưuọc viết trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mĩ trên phạm vi cả nước. Bị thua đau ở chiến trường miền Nam, giặc Mĩ điên cuồng mở rộng chiến tranh phá hoại bằng máy bay, bom đạn... ra miền Bắc, hòng tàn phá hậu phương lớn của tiền tuyến lớn. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng ấy, hàng triệu thanh niên đã lên đường với khí thế Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ, Mà lòng phơi phới dậy tương lai. Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người chiến sĩ trẻ đang cùng đồng đội trên đường hành quân vào Nam chiến đấu.

12 tháng 9 2023

- Nhân vật An đã được nhà văn miêu tả qua những chi tiết nào:

+ Lời nói: Cách nói xưng hô với tía, má: tía - con, má - con; cách xưng hô với thằng Cò: mày - tao; không đôi co với Cò ("Chịu thua mày đó! Tao không thấy con ong mật đâu cả.").

+ Suy nghĩ: suy nghĩ về cách nuôi ong trên khắp thế giới.

+ Cảm xúc: cảm nhận về vẻ đẹp của khu rừng (ánh sáng, làn gió, loài vật,....)

+ Mối quan hệ với các nhân vật khác: đối với Cò: có lúc tự ái và sợ bị khinh, không dám hỏi nhiều; đối với tía, má: hỏi má nhiều, nói chuyện lễ phép với tía, má.

=> An là một cậu bé tò mò, ham hiểu biết, có sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế, có những cảm nhận đẹp, lãng mạn và nhạy cảm.

Bày chim chìa vôi:

Vào một đêm mưa bão, hai anh em Mon và Mên trò chuyện cùng nhau vì lo lắng cho bầy chim chìa vôi. Nước sông sẽ dâng cao khiến tổ chim chìa vôi ở dải cát giữa sông sẽ bị nhấn chìm. Suy nghĩ lo lắng ấy khiến cả hai anh em không ngủ được quyết định đến tận nơi để giúp bầy chim chìa vôi. Khi bình minh lên, dải cát vẫn còn lộ ra trên mặt nước,những con chim chìa vôi nhỏ đã kịp cất cánh bay lên trong khoảnh khắc cuối cùng trước mắt hai đứa trẻ. Chứng kiến cảnh đó, Mon và Mên đều cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

26 tháng 9 2023

c.ơn ạ

 

Dưới đây là đoạn văn tóm tắt văn bản **"Bầy chim chìa vôi"** của **Nguyễn Quang Thiều** (7–10 câu):


---


Văn bản *“Bầy chim chìa vôi”* kể về hình ảnh một bầy chim sống gần ngôi mộ của người cha đã mất. Tác giả đã dùng hình ảnh bầy chim như một biểu tượng của tình cảm thiêng liêng, gắn bó giữa cha và con. Mỗi buổi sáng, chim bay đến đậu trên mộ, hót líu lo như để trò chuyện, an ủi người đã khuất. Sự xuất hiện đều đặn của chúng khiến người con cảm nhận như cha mình vẫn còn hiện diện đâu đây, trong thiên nhiên và trong tâm hồn anh. Bầy chim mang đến sự ấm áp, xua tan nỗi cô đơn và buồn đau của con người trước mất mát. Qua đó, tác giả thể hiện tình yêu thương sâu sắc dành cho người cha đã khuất. Văn bản vừa nhẹ nhàng, sâu lắng, vừa chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa về sự sống, cái chết và tình cảm gia đình. Bằng hình ảnh ẩn dụ tinh tế, Nguyễn Quang Thiều đã khơi gợi cảm xúc và suy ngẫm trong lòng người đọc.


---


Nếu bạn cần viết đoạn này theo kiểu học sinh lớp 6 hoặc lớp 7 thì mình có thể điều chỉnh cho phù hợp hơn. Bạn có muốn mình làm vậy không?


Tk

22 tháng 9 2025

Bài "Đàn chim chìa vôi" của nhà văn Nguyễn Quang Thiều là một câu chuyện cảm động về tình yêu thương, sự hy sinh và lòng dũng cảm. Đoạn trích kể về hai anh em Mên và Mon sống ở làng Chử Chử, chứng kiến đàn chim chìa vôi bị mắc kẹt trên bãi sông sau một trận lũ. Nước sông dâng cao, đe dọa cuốn trôi tổ chim non, trong khi những con chim bố mẹ đã bay đi tìm mồi. Mặc dù Mên và Mon biết rõ sự nguy hiểm, nhưng vì thương những chú chim nhỏ, hai anh em đã quyết định bơi ra để cứu chúng. Bằng tất cả sự dũng cảm và nỗ lực, họ đã đưa được tổ chim vào bờ an toàn. Hành động cao đẹp này không chỉ thể hiện tình yêu của con người đối với thiên nhiên mà còn khắc sâu một bài học về lòng nhân ái, sự sẻ chia trong cuộc sống. Câu chuyện còn ẩn chứa sự gắn kết giữa anh em Mên và Mon, làm nổi bật thêm vẻ đẹp của tình người, tình yêu thương đồng loại.

Đây bn

15 tháng 9 2025

Mình giúp bạn soạn dàn ý chi tiết để làm bài tập văn này nhé. Bài “Đi lấy mật” (trích Đất rừng phương Nam – SGK Ngữ văn 7, bộ Kết nối tri thức) chủ yếu khắc họa nhân vật và vẻ đẹp thiên nhiên Nam Bộ. --- 1. Nhận xét về nhân vật a. Cậu bé An Hình dáng: nhỏ bé, gầy gò, dáng vẻ lanh lợi. Tính cách: Gan dạ, dũng cảm: dám đi vào rừng sâu lấy mật ong. Thông minh, nhanh nhẹn: biết cách quan sát, tìm tổ ong. Hồn nhiên, giàu tình cảm: gắn bó với má nuôi, bạn bè. Hình ảnh thể hiện: đoạn An theo chân Cò đi rừng, quan sát ong mật, tâm trạng khi được má nuôi dặn dò, lời đối thoại hồn nhiên. Kết luận: An là cậu bé Nam Bộ vừa hồn nhiên, vừa dũng cảm, biết yêu thiên nhiên và trân trọng tình người. --- b. Thằng Cò Hình dáng: dong dỏng, cao gầy, dáng vẻ quen việc đồng áng, dân dã. Tính cách: Gan lì, dạn dày: dẫn An đi lấy mật không hề sợ hãi. Tự tin, từng trải: biết rõ tập tính của ong, thành thạo việc rừng. Hào sảng, chân thành: coi An như bạn thân, chia sẻ kinh nghiệm. Hình ảnh thể hiện: cảnh Cò leo cây lấy mật, chỉ An cách tránh ong đốt, lời nói ngang tàng nhưng hóm hỉnh. Kết luận: Cò là cậu bé Nam Bộ gan dạ, bộc trực, giàu tình nghĩa và có bản lĩnh “con nhà rừng”. --- c. Má nuôi Hình dáng: người phụ nữ Nam Bộ chất phác, giàu tình thương. Tính cách: Hiền hậu, nhân từ: nhận An làm con nuôi, lo lắng cho con. Thương con, quan tâm, dặn dò trước khi đi rừng. Đại diện cho tấm lòng nhân nghĩa của người dân Nam Bộ trong kháng chiến. Hình ảnh thể hiện: những lời dặn An, ánh mắt lo lắng, tình cảm ấm áp dành cho con nuôi. Kết luận: má nuôi là biểu tượng tình mẫu tử, tình người nghĩa xóm chan chứa yêu thương. --- 2. Khung cảnh thiên nhiên Hình ảnh miêu tả: Rừng bạt ngàn, cây cối um tùm. Ong bay thành đàn, ánh nắng xuyên qua tán lá, tiếng rừng rì rào. Tổ ong lớn treo lơ lửng trên cành. Biện pháp nghệ thuật: So sánh: ví ong như đám mây, khói. Nhân hóa: rừng như có tiếng nói, cây cối như đang trò chuyện. Miêu tả cụ thể, giàu hình ảnh: cảnh sắc Nam Bộ hiện lên sinh động. Nhận xét: Thiên nhiên Nam Bộ vừa hùng vĩ, hoang sơ, vừa thơ mộng, tràn đầy sức sống; đồng thời cũng tiềm ẩn thử thách, thể hiện bối cảnh kháng chiến gian lao mà giàu tình người. 👉 Kết luận chung: Qua nhân vật An, Cò, má nuôi và cảnh thiên nhiên Nam Bộ, tác giả ca ngợi vẻ đẹp con người giàu tình nghĩa, dũng cảm, hồn nhiên, đồng thời khắc họa bức tranh thiên nhiên rừng phương Nam vừa dữ dội vừa trữ tình.


Sau khi đọc xong "Đi lấy mật", em cảm thấy vô cùng ngưỡng mộ những người nông dân đi lấy mật ong rừng ở vườn U Minh. Họ đều là những người thạo nghề và đầy sáng tạo độc đáo trong cách nuôi ong khiến An không khỏi trầm trồ. Để "thuần hóa ong rừng" không phải chuyện đơn giản mà cần đòi hỏi cả kiến thức, kinh nghiệm và trải nghiệm. Đọc xong tác phẩm đã giúp em hiểu hơn về cuộc sống và công việc của những người dân ở vùng đất U Minh và trân trọng công sức lao động vất vả của họ.

25 tháng 11 2019

Giáo dục:

- Năm 1070, xây dựng Văn Miếu ở Thăng Long để thờ Khổng Tử và dạy học cho các con vua.

- Năm 1075, mở khoa thi đầu tiên để tuyển chọn quan lại.

- Năm 1076, mở Quốc tử giám cho con em quý tộc đến học, sau đó mở rộng cho con em quan lại và những người giỏi trong cả nước, tổ chức thêm một số kì thi.

=> Như vậy, nhà Lý đã bắt đầu quan tâm đến giáo dục, khoa cử song chế độ thi cử chưa có nền nếp, quy củ, khi nào nhà nước có nhu cầu mới mở khoa thi.

* Văn hóa:

- Văn học chữ Hán bước đầu phát triển.

- Tư tưởng:

+ Phật giáo phát triển thịnh trị, chùa chiền được xây dựng ở nhiều nơi, nhiều công trình Phật giáo nổi tiếng ra đời.

+ Nho giáo đã được du nhập vào từ trước, tuy nhiên chưa được phát triển rộng rãi.

+ Đạo giáo: tiếp tục duy trì và phát triển.

- Nghệ thuật: Hát chèo, múa rối nước đều phát triển. Dàn nhạc có trống, đàn, sáo, nhị.

- Đời sống tinh thần: nhân dân ưa thích ca hát, nhảy múa. Nhiều trò chơi dân gian như đá cầu, vật, đua thuyền rất được ham chuộng. Mùa xuân, khắp nơi đều mở hội.

- Kiến trúc, điêu khắc: rất phát triển. Các công trình có quy mô tương đối lớn và mang tính cách độc đáo.

+ Nhiều công trình nghệ thuật nổi tiếng và đặc sắc được xây dựng như: Chùa Một Cột, tháp Báo Thiên (Thăng Long), tháp Chương Sơn (Nam Định), chuông chùa Trùng Quang (Bắc Ninh),…

+ Trình độ điêu khắc tinh vi, thanh thoát được thể hiện trên các tượng Phật, các hình trang trí rồng, bệ đá hình hoa sen,… Rồng mình trơn, toàn thân uốn khúc, uyển chuyển như một ngọn lửa là hình tượng nghệ thuật độc đáo, phổ biến ở thời Lý.

+ Phong cách nghệ thuật đa dạng, độc đáo, linh hoạt của nhân dân ta thời Lý đã đánh dấu sự ra đời của một nền văn hóa riêng của dân tộc - văn hóa Thăng Long.


 

25 tháng 11 2019

 kinh te :

nong nghiep:-ruong dat tu ngay cang nhieu , xuat hien dien trang , thai ap

                       -thi hanh chinh sach '' ngu binh u nong ''

thu cong nghiep : -xuat hien nghe gom Bat Trang

thuong nghiep : -day manh ngoai thuong

                            -Thang Long la trung tam kinh te sam uat

giao duc : xay dung Quoc Tu Giam

van hoa : sorry chua biet

                         CHUC HOC VUI !!!!

                            -