Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.
Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
- Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).
Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?
- Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
- Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
- Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.
Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?
- Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
- Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
- Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.
Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:
“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”
- Thông điệp:
- Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
- Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
- Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.
Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!
câu1
Biển đảo – Nơi mà hàng triệu người đang luôn bảo vệ. Biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, vì vậy có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tình yêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà. Những tưởng biển đảo bình yên với những con sóng nhẹ xô bờ, thế nhưng những ngày tháng này cả nước vẫn đang chống chịu với cơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanh của Tổ quốc … Là một học sinh, bản thân em luôn mang trong tim tình yêu biển đảo, tình yêu và lòng khâm phục tới những người lính biển, những ngư dân chân chất nơi đảo xa. Có chút chạnh lòng, xót xa, lo lắng khi biển xanh dậy sóng,… em mong rằng biển đảo sẽ bình yên, rạng rỡ nụ cuoiw
Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển Đông. Thanh niên cần hưởng ứng và tích cực tham gia các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo. Điều quan trọng, thanh niên cần không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết để tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước
Câu 2
Truyện ngắn “ Vợ nhặt” của Kim Lân được sáng tác sau cách mạng tháng Tám nhưng lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Đặt trong bối cảnh ra đời của tác phẩm, nhà văn đã làm toát lên tấm long yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và khát vọng hạnh phúc của những người người khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả xây dựng thành công ở hình tượng nhân vật “bà cụ Tứ” – mẹ anh Tràng- người “nhặt vợ”.Bà cụ Tứ trước hết là người mẹ nghèo khổ đã già yếu với cái lưng “long khòng”, khẽ mắt “lèm nhèm “,”khuôn mặt bủng beo, u ám “. Những hành động cử chỉ của cụ “nhấp nháy hai con mắt”,”chậm chạp hỏi”, “lập cập bước đi”, “lật đật:, “lễ mễ” cũng thể hiện cụ là một người đã già, không còn khỏe mạnh. Hơn nữa người phụ nữ ấy còn bị đặt trong hoàn cảnh nghèo nàn, đói khổ mà cụ nói “ cuộc đời cực khổ dài đằng đẵng”.
Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện ở giữa truyện khi anh Tràng đưa vợ về nhà, nhưng nhân vật này vẫn thu hút được sự quan tâm của người đọc bởi những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách.
Trong người mẹ già nua, đói khổ ấy có một tình yêu thương dành cho con cái sâu sắc. Cụ thương người con trai của mình “cảm thấy ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”. Trong kẽ mắt kèm nhàm của cụ rỉ ra hai dòng nước mắt. Cụ đã sớm lo lắng cho cuộc sống tương lai của đứa con mình” không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói này không”. Bà còn dành tình yêu thương cho người con dâu mới của mình. Bà nhìn thị nghĩ :”Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy con mình, con mình mới có vợ được”. Đó là tấm lòng người mẹ không khinh rẻ mà tỏ ra thông cảm thấu hiểu hoàn cảnh con dâu, thậm chí bà còn cho đó là may mắn của con trai mình, gia đình mình khi có con dâu mới. Điều đo chứng tỏ bà cụ Tứ rất hiểu mình, hiểu người. Tình yêu thương còn thể hiên qua những lời nói của bà cụ dành cho con “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?…". Bà nói với con dâu bằng lời của một người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót, đồng thời động viên con bằng triết lý dân gian”ai giàu ba họ ai khó ba đời, hướng con tới tương lai tươi sáng. "… Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…". Câu nói thể hiện tấm long thương xót cho số phận của những đứa con. Và để ngày vui của các con thêm trọn vẹn, sáng hôm sau cụ” xăm xắn quét tước nhà cửa”. Hành động giản dị thôi nhưng thể hiện tấm lòng người mẹ tuy nghèo nhưng hết lòng thương yêu con. Và thế là đám cưới không nghi lễ, không đón đưa của đôi vợ chồng trẻ được chan đầy bằng tình yêu thương và tấm long lo lắng của người mẹ nghèo.
Nhân vật bà cụ Tứ bị đặt trong hoàn cảnh éo le, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan của người mẹ già yếu, tuy sắp đến độ gần đất xa trời nhưng luôn hướng về tương lai thể hiện qua những hành động và lời nói. Cụ tin vào triết lý dân gian: ai giàu ba họ ai khó ba đời- lạc quan về một ngày mai tươi sáng.Cụ đồng tình khi thấy Tràng thắp đèn mặc dù cụ biết lúc đó dầu rất đắt, dầu là thứ xa xỉ. Nếu để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời”này lại là người nói về tương lai nhiều nhất” cụ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Đó không đơn thuần chỉ là niềm lạc quan của người lao động mà còn là ước mơ về cuộc sống có phần tươi sáng hơn cho các con. Bà cụ trông cũng” tươi tỉnh khác hẳn ngày thường”. Chính tâm trạng vui tươi phấn khởi của người mẹ già đã làm sáng lên cái không gian u ám và góp phần vào ngày vui trọng đại của cuộc đời người con trai. Sáng hôm sau cụ xăm xắn quét dọn nhà cửa, đó là những công việc sinh hoạt thường ngày nhưng đặt trong hoàn cảnh này, hành động quét dọn làm nhà cửa trông sạch sẽ, tinh tươm hơn giống như cụ đang muốn tự tay quét đi những tăm tối của ngày cũ và đón chờ những điều tươi sáng hơn. Và hình ảnh người mẹ già, cười đon đả: “Cám đây mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy", cứ quẩn quanh, ám ảnh tâm chí người đọc. Cái lạc quan không những không bị mất đi mà lại càng trở nên mãnh liệt hơn trong mưa nắng cuộc đời. Trong buổi sáng đầu tiên đón tiếp nang dâu mới, nồi cháo cám “ chát xít, nghẹn bứ trong miệng” mà ngon ngọt trong long, ngọt bởi tâm lòng người mẹ nghèo đang cố xua đi cái không khí ảm đạm bằng thái độ lạc quan và sự tươi tỉnh động viên con cố gắng vượt qua hoàn cảnh. Nhưng sự thật là vị đắng ngắt của cháo cám và tiếng thúc thuế từ xa vọng lại đã không làm niềm vui nhỏ của những con người nghèo khổ cất cánh lên được.
Bằng tài năng và tấm lòng đồng cảm sâu sắc, Kim Lân đã dựng lên “hình ảnh chân thật và cảm động về người mẹ nông dân nghèo khổ trong trận đói khủng khiếp năm 1945". Nhân vật bà cụ Tứ được khắc họa chủ yếu qua sự vận động trong nội tâm nhân vật. Ngoài ra, qua những lời nói, cử chủ, hành động của nhân vật ta cũng có thể cảm nhận được tấm lòng yêu thương con sâu sắc. Ở bà cụ Tứ thấp thoáng hình ảnh của nhân vật lão Hạc, của mẹ Dần, vợ chồng Dần ( Nam Cao) những người nông dân nghèo nhưng chỉ sống vì con, hết lòng yêu thương con. Dẫu chỉ là một nhân vật phụ nhưng bằng tài năng, và tình cảm thiết tha trừu mến đối với tấm lòng người mẹ nghèo, Kim Lân đã khắc họa được chân dung nhân vật vừa sinh động, chân thực, vừa cảm động, day dứt với người đọc. Chính những hành động, lời nói của cụ, nụ cười trên khuôn mặt bủng beo u ám đã làm sáng bừng thiên truyện sau cái tối tăm, cái bế tắc của đói nghèo. Ý nghĩa nhân bản mà nhà văn muốn gửi gắm qua nhân vật này là con người dù có đặt vào hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng vẫn không mất đi những giá trị tinh thần và phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu thương con người và thái độ lạc quan hi vọng vào tương lai tươi sáng dù cho chỉ có một tia hi vọng mỏng manh. Kim Lân đã khám phá và thể hiện thành công điều đó ở nhân vật bà cụ Tứ. qua đó thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu , bao dung, tình yêu thương con của bà cụ Tứ
Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại khi viết về chủ đề người nông dân dưới xã hội cũ, đặc biệt là trong giai đoạn đau thương nhất của đất nước. Tuy nhiên trong tác phẩm nội dung chính mà tác giả muốn đề cập đến không phải là phản ánh, tố cáo hiện thực mà là tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người, cùng với sức mạnh của tình người, tình thân trong gia định đã trở thành cơ sở cho những khát vọng sống, niềm hy vọng và tin tưởng vào tương lai mãnh liệt ngay trong những hoàn cảnh khốn cùng nhất. Bên cạnh hai nhân vật là Tràng và thị với những nét phẩm chất riêng, thì nhân vật cụ Tứ lại hiện lên với vẻ đẹp của tình mẫu tử, thương con sâu sắc.
Giữa nạn đói hoành hành năm 1945, hàng triệu đồng bào ta phải chịu chết đói, nhiều người phải lìa xa quê cha đất tổ đi tha hương cầu thực nơi xứ người, mẹ con bà cụ Tứ là một trong số đó. Bà cụ là một phụ nữ nông dân nghèo khổ, có lẽ rằng cả cuộc đời bà đã phải chịu nhiều đắng cay vất vả, bởi lẽ cả cuộc đời bà nằm trọn trong những ngày tháng đất nước chất chứa nhiều đau thương, lầm than dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cả cuộc đời bà dành để kiếm từng đồng, từng hào chắt bóp nuôi con khôn lớn, cho đến khi tuổi đã gần đất xa trời, bà cụ tội nghiệp vẫn không được hưởng những ngày tháng sung sướng. Thay vào đó cụ vì già cả, ốm yếu phải sống dựa vào đứa con trai là anh Tràng với một công việc bấp bênh, bữa đói bữa no, và bên ngoài kia thần chết đang chực chờ những con người khốn khổ, cùng đường vì cái đói, trong đó có cả hai mẹ con bà cụ Tứ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy tình mẫu tử của bà cụ lại càng hiện lên rõ rệt, cả đời làm lụng nuôi con khôn lớn, đến khi Tràng đã lớn khôn thì bà cụ lại sầu khổ vì không kiếm nổi cho con một tấm vợ, một người đàn bà đỡ đần hôm sớm. Tất cả chỉ tại bà nghèo quá, người ta cưới vợ khi có của ăn của để, khi ăn nên làm ra, còn bà lại chẳng có gì trong tay thành thử phải tội con bà cô đơn lẻ bóng. Mà có khi đến lúc mà mất đi thì đứa con trai tội nghiệp lại phải chịu cảnh côi cút một mình trên đời. Điều ấy làm bà cụ Tứ tủi phận nhiều lắm.
Cho đến một hôm thấy Tràng dẫn một người phụ nữ lạ mặt về nhà, trong lòng bà cụ nổi lên biết bao nhiêu là cớ sự thắc mắc, thế nhưng bà không hề tỏ ra bối rối mà quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu, để chờ Tràng giải thích, để cho Tràng có cơ hội được phân trần câu chuyện, chứ không lên tiếng trách móc. Đó là tấm lòng của một người mẹ trải đời, thương con bằng một tình thương dịu dàng, săn sóc. Rồi đến khi đã rõ sự mười mươi, bà cụ "hiểu ra bao nhiêu là cớ sự" rồi thì bà im lặng, những dòng suy nghĩ chảy trôi, quẩn quanh liên tục bên ngoài cái sự việc con bà lấy vợ, một người vợ theo không. Nhưng không chần chừ quá lâu, bà cụ Tứ đã sống trên cuộc đời này ngót nghét vài chục năm trời đằng đẵng, có cái khổ, cái sự lạ nào mà bà không hiểu thấu. Đứng trên vai trò là một người mẹ có tấm lòng thương con sâu sắc, bà hiểu được chuyện anh Tràng lấy vợ âu cũng là chuyện hợp tình hợp lý, bởi Tràng đã đến cái tuổi ấy lâu lắm rồi. Thế nhưng vừa nghĩ thông chuyện này thì bà cụ lại chợt nghĩ đến chuyện khác, bao nhiêu mối lo toan bỗng đổ dồn về lòng người mẹ già tội nghiệp, bà thương con "ai oán xót thương cho số kiếp con trai mình", cũng lại tủi cho phận người làm mẹ, nhưng không thể lo nổi cho con một cái đám cưới, dựng vợ gả chồng tử tế cho con, để nó phải tự thân đi kiếm về một người vợ. Càng nghĩ bà lại càng lấy làm buồn lòng, xúc động "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt". Ấy rồi ăn ở với nhau như thế "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không", là những suy nghĩ quẩn quanh trong lòng bà cụ Tứ. Một người mẹ thương con không nề hà, trách mắng con mình tự tiện cưới gả, bởi bà hiểu phận mình và phận con, bà chỉ lo lắng mãi chuyện cuộc sống tương lai của hai vợ chồng Tràng, sợ con chịu khổ cực, rồi đương không lại liên lụy cả người khác nữa. Cái đám cưới chớp nhoáng khác thường này đem đến cho cụ niềm vui có dâu con, nhưng cũng lại mang đến cho bà biết bao nhiêu trăn trở, rối rắm. u cũng là lòng người mẹ yêu thương và suy nghĩ cho con trăm bề. Cuối cùng sau khi đã đi qua những xúc động, buồn tủi, bà cụ Tứ đã nhanh chóng vực lại tinh thần, thông suốt mọi vấn đề rằng "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con...Chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?". Bà nhanh chóng thấu hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của thị, đồng thời lòng bà đã dấy lên những tình cảm thương yêu người con dâu mới về. Bà nhẹ nhàng giục thị ngồi xuống, rồi nhỏ nhẹ khuyên giải, nhắc nhở động viên, vun vén vào cho hai vợ chồng Tràng, dặn dò họ cách ăn ở với nhau bằng những lời phấn khởi "Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Mặc dầu rằng trong lòng bà vẫn còn trăm mối tơ vò cảm xúc, nhưng không vì thế mà bà làm các con bối rối, mất vui, bà quyết giữ cho riêng bà những lo lắng, những buồn tủi để cho đôi tân nhân một sự động viên trước khi bước vào cuộc đời mới.
Sau đêm tân hôn của vợ chồng Tràng, căn nhà tàn tạ dưới đôi bàn tay của mẹ chồng nàng dâu bỗng trở nên sáng sủa lạ thường, thấy được những đức tính tốt đẹp, sự cẩn thận chu đáo của thị và cụ mừng lắm "cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Trong bữa cơm sáng, dẫu rằng mâm cơm ngày đói kém trông thật thảm hại với mớ rau chuối thái mỏng và cháo loãng thế nhưng không khí trong nhà vẫn rất vui vẻ đầm ấm. Bà cụ thương con, thương dâu, thành thử bà cố xua đi cái nghèo đói đang hiện hữu trước mắt cặp tân nhân bằng cách liên tục kể những chuyện vui, kế hoạch làm ăn, nuôi gà, mở ra trước mắt những tương lai tốt đẹp đầy hy vọng. Đặc biệt người mẹ nghèo khó còn chiêu đãi con trai và con dâu bằng một nồi "chè khoán", mà thực tế đó là là cháo cám để mừng tân hôn. Dù vị của món ăn này vô cùng cùng khó ăn thế nhưng đó là cả tấm lòng của một người mẹ thương con, bà cụ tội nghiệp vì nghèo xác xơ không lấy gì để làm cỗ làm bàn, thế nên chỉ còn cách cố kiếm cho được ít cám về nấu làm món ăn đổi bữa. Ở một nét suy diễn sâu xa nào đó thì nồi cháo cám còn mang ý nghĩa là lời nhắc nhở của cụ Tứ dành cho các con về những ngày gian khó đang chờ đợi trước mắt, hy vọng rằng vợ chồng Tràng vẫn được vững lòng như ngày hôm nay, ăn nồi cháo cám đắng ghét, nghẹn ứ nơi cổ họng mà vẫn cảm thấy vui vẻ hạnh phúc.
Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt là một hình tượng tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam xưa, cả cuộc đời hy sinh sinh vì con cái, yêu thương con sâu sắc bằng những tình cảm thấu hiểu, bao dung và vị tha. Dù rằng bà sống trong cảnh nghèo khó tột cùng, thế nhưng với sự từng trải của mình bà vẫn giành lấy được những sự lạc quan, vui vẻ trong cuộc sống, trở thành kim chỉ nam hướng vợ chồng Tràng đến một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.
Câu 1:
Từ thuở xa xưa thanh niên Việt Nam đã ý thức được vai trò và trách nhiệm của mình đối với đất nước. Trong thời chiến họ luôn là lực lượng tiên phong trong các phong trào đánh giặc cứu nước, luôn là lực lượng nòng cốt của cách mạng, xả thân vì tổ quốc mà không tiếc thời tuổi trẻ. Vậy chúng ta những thanh niên may mắn được sinh ra trong thời bình, chúng là phải có trách nhiệm như thế nào để gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng đã được đổi bằng xương máu của biết bao thế hệ đi trước, phải làm gì để xứng đáng hưởng được những thành quả ngày hôm nay. Mỗi chúng ta phải xác định cho mình một lí tưởng sống cao đẹp, phải có ước mơ và hoạch định ra cho mình một kế hoạch cụ thể, phải rèn đức luyện tài, phải hiểu được vai trò đất nước đối với chúng ta, có như vậy chúng ta mới xác định được đúng đắn nhiệm vụ của mình đối với đất nước. Chúng ta ra sức học tập cũng là đang thực hiện nhiệm của của mình với đất nước, nó không phải là một cái gì đó sâu xa như các bạn nghĩ nó chỉ đơn giản là làm tốt bổn phận của mình để phấn đấu trở thành một công dân tốt góp phần xây dựng một đất nước giàu đẹp vững mạnh. Như vậy trách nhiệm của thanh niên ở thời chiến hay thời bình đều do ý thức mỗi con người tuy nhiên nó lại được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau.
Câu 2:
Bàn về kết thúc đoạn trích "Vợ chồng A Phủ"
– Ý kiến thứ nhất: hành động cắt nút dây mây cởi trói cứu A Phủ rồi chạy theo A Phủ của nhân vật Mị thật bất ngờ, đột ngột, không thể dự đoán trước: Đánh giá kết thúc của truyện Vợ chồng A Phủ là bất ngờ với mạch truyện, tâm trạng nhân vật Mị và cả người đọc.
– Ý kiến thứ hai: Đó là là một kết thúc tự nhiên, tất yếu: ý kiến này nhìn nhận, đánh giá kết thúc của tác phẩm trong mối quan hệ với lô gíc diễn biến tâm trạng nhân vật Mị và mạch vận động tất yếu của đời sống con người: khi bị dồn đẩy đến bước đường cùng, con người sẽ vùng lên tìm ánh sáng cho mình.
Bình luận các ý kiến:
Cả hai ý kiến đều đúng, không đối lập mà bổ sung cho nhau, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tài năng kể chuyện, miêu tả nội tâm nhân vật của nhà văn Tô Hoài. Đồng thời, ta càng trân trọng hơn .tấm lòng yêu thương, đồng cảm của tác giả đối với người dân nơi đây.














cảm ơn cô
Câu 1
Trong cuộc sống, chúng ta thường có xu hướng muốn thay đổi người khác theo ý mình mà quên mất rằng, sự thay đổi có giá trị và thực tế nhất phải bắt đầu từ chính bản thân. Việc thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh là một điều vô cùng cần thiết. Trước hết, bản thân mỗi người là yếu tố duy nhất mà chúng ta có toàn quyền kiểm soát và điều chỉnh. Thay vì tốn năng lượng để ép buộc hay phán xét người khác – điều vốn rất khó khăn và dễ gây rạn nứt mối quan hệ – thì việc tự sửa đổi khuyết điểm của mình sẽ mang lại hiệu quả tức thì. Khi chúng ta trở nên tốt đẹp hơn, thấu hiểu hơn, hành động của chúng ta sẽ giống như một tấm gương phản chiếu, tạo ra sức ảnh hưởng và truyền cảm hứng một cách tự nhiên đến mọi người. Một người muốn con cái chăm chỉ thì bản thân phải bớt lười biếng; một người muốn xã hội bớt định kiến thì chính họ phải học cách bao dung. Thay đổi chính mình cũng là cách giúp chúng ta mở rộng góc nhìn, nhận ra rằng đôi khi vấn đề không nằm ở thế giới xung quanh mà ở cách chúng ta đón nhận nó. Tóm lại, tự hoàn thiện bản thân là bước đi khôn ngoan và bền vững nhất, bởi như một câu triết lý đã nói: "Khi ta thay đổi, thế giới sẽ đổi thay".
Câu 2.
Tình mẫu tử luôn là đề tài muôn thuở khơi nguồn cho những trang văn giàu cảm xúc. Trong cuốn sách Thương nhớ miền Trung, hai tác giả Trần Thị Tú Ngọc với đoạn trích Mẹ gánh con đi và Tạ Tư Văn với Mẹ và đồi cát đã mang đến cho người đọc những rung động sâu sắc về hình tượng người mẹ miền Trung tần tảo. Dù có những nét gặp gỡ trong chủ đề, mỗi tác phẩm lại sở hữu những nét đặc sắc nghệ thuật riêng biệt, làm nên sức hấp dẫn độc đáo.
Về nét tương đồng, cả hai đoạn trích đều gặp nhau ở chủ đề ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng, lòng biết ơn sâu sắc của người con trước sự hy sinh thầm lặng của mẹ. Điểm chung thú vị là cả hai tác giả đều chọn hình ảnh đôi quang gánh làm biểu tượng cho cuộc đời đầy lo toan, vất vả của mẹ. Ở cả hai văn bản, người mẹ đều dùng đôi quang gánh ấy để chở che, gánh cả tuổi thơ của những đứa con (mẹ bế con đặt vào một đầu thúng để gánh tới lớp trong Mẹ gánh con đi; mẹ để mỗi đứa vào một đầu gánh qua dặm dài đồi cát trong Mẹ và đồi cát). Đồng thời, cả hai người con khi trưởng thành đều nhìn lại quá khứ bằng niềm tự trách, hối hận vì sự vô tâm thuở nhỏ của mình khi chỉ biết háo hức đợi quà, đòi theo mẹ mà không hề biết đến những cơn đau, đôi chân tấy đỏ hay những giọt nước mắt xa xót phận nghèo của đấng sinh thành.
Tuy nhiên, bên cạnh chủ đề chung, mỗi đoạn trích lại mang một sắc thái nội dung và không gian địa lý khác nhau. Trong Mẹ gánh con đi của Trần Thị Tú Ngọc, bối cảnh hiện lên gắn liền với làng quê, đường đất và những phiên chợ nghèo phố huyện. Nỗi vất vả của người mẹ được đẩy lên đỉnh điểm qua cái nghèo đói xơ xác của những ngày chợ ế, khiến mẹ phải bật khóc cùng con vì bất lực trước manh áo vá. Ngược lại, Mẹ và đồi cát của Tạ Tư Văn lại đặt người mẹ vào không gian đặc trưng của vùng duyên hải miền Trung với dải cát bỏng, nắng rát và biển khơi. Nỗi vất vả ở đây mang tính chất chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt để mưu sinh bằng nghề bán tôm bán tép. Đặc biệt, đoạn trích của Tạ Tư Văn còn khắc họa một tình huống đầy kịch tính khi người mẹ dù đang đổ bệnh vẫn bất chấp hiểm nguy, té ngã vùi trong cát để lao ra biển cứu các con, tạo nên một điểm nhấn xúc động về bản năng chở che của người mẹ.
Về nghệ thuật, hai đoạn trích cũng khẳng định tài năng riêng của từng tác giả thông qua phương thức biểu đạt. Trần Thị Tú Ngọc trong Mẹ gánh con đi sử dụng ngòi bút giàu tính tự sự, đi sâu vào việc miêu tả chi tiết, hành động và nội tâm nhân vật. Tác giả tái hiện sinh động cảnh chia quà chợ, tiếng khóc nức nở của đứa em và giọt nước mắt đắng cay của mẹ bằng những từ ngữ rất gợi cảm (xoay xoay bồng bềnh, thòm thèm, héo rũ, ướt đầm). Lối trần thuật tự nhiên, chậm rãi làm cho câu chuyện mang đậm màu sắc kỷ niệm, tạo cảm giác gần gũi như một thước phim quay chậm.
Trong khi đó, Tạ Tư Văn trong Mẹ và đồi cát lại thiên về bút pháp chất chứa chất thơ và giàu tính hình tượng. Tác giả tạo ấn tượng mạnh bằng việc xây dựng những hình ảnh tương phản và có sức gợi lớn như dáng mẹ chông chênh kéo dài tận chân trời đối lập với đồi cát mênh mông, hay trận đòn roi không đau bằng cái đau khi thấy mẹ ngã vùi trong cát. Ngôn ngữ của đoạn trích này mang tính khái quát cao, nhịp điệu câu văn uyển chuyển và dồn dập ở đoạn cao trào cứu con, giúp khắc họa hình ảnh người mẹ không chỉ lam lũ mà còn vô cùng mạnh mẽ, vĩ đại trước thiên nhiên và nghịch cảnh.
Tóm lại, cả hai đoạn trích đều là những bài ca xúc động về tình mẹ. Bằng những nét đặc sắc nghệ thuật riêng – một bên là tự sự chân thực, sâu lắng, một bên là hình tượng giàu chất thơ, kịch tính – cả hai tác giả đã làm nổi bật hình ảnh người mẹ miền Trung chịu thương chịu khó. Những trang văn ấy không chỉ tôn vinh mẹ mà còn thức tỉnh trong lòng mỗi chúng ta bài học về đạo hiếu và sự trân trọng đối với tình cảm gia đình.
CÂU 1 (2,0 ĐIỂM): ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
Trong hành trình định vị bản thân và tạo dựng các giá trị sống, việc nhận thức được "sự cần thiết phải thay đổi mình trước khi muốn thay đổi những người xung quanh" có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Thay đổi chính mình là quá trình chủ động nhìn nhận, sửa đổi những khuyết điểm, hoàn thiện tư duy và hành động của bản thân. Cuộc sống là một tấm gương phản chiếu trực quan; khi ta thay đổi góc nhìn và cách ứng xử, thế giới xung quanh tự khắc sẽ dịch chuyển theo hướng tích cực. Chúng ta không thể bắt người khác phải bao dung khi bản thân còn ích kỷ, cũng không thể yêu cầu xã hội văn minh khi chính mình còn vứt rác bừa bãi. Thay đổi bản thân trước hết giúp ta làm chủ cuộc đời, giải phóng mình khỏi những năng lượng tiêu cực của sự áp đặt, đòi hỏi vô lí lên người khác. Hơn thế nữa, sự tự thay đổi của mỗi cá nhân chính là "ngọn hải đăng" có sức cảm hóa mạnh mẽ nhất, tạo ra sức lan tỏa tự nhiên đến cộng đồng thay vì những lời giáo điều sáo rỗng. Như đại văn hào Leo Tolstoy từng nhận định: "Ai cũng nghĩ đến việc thay đổi thế giới, nhưng không ai nghĩ đến việc thay đổi chính mình". Nếu mỗi người biết nhìn lại, tự sửa mình từ những điều nhỏ nhất, chúng ta sẽ tạo nên một xã hội tốt đẹp. Hãy ngừng phàn nàn về bóng tối, thay vào đó, hãy tự thắp lên ngọn nến của chính mình.
CÂU 2 (4,0 ĐIỂM): BÀI VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
Tình mẫu tử luôn là dòng sông xanh mát chảy qua biết bao trang văn, trang thơ của văn học Việt Nam. Viết về đề tài này, hai tác giả Trần Thị Tú Ngọc với đoạn trích "Mẹ gánh con đi" (trong Thương nhớ miền Trung) và tác giả của đoạn trích thứ hai đã gặp nhau ở một hình tượng nghệ thuật độc đáo: đôi quang gánh của mẹ. Qua việc so sánh, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc nghệ thuật của hai đoạn trích, người đọc không chỉ cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng mà còn thấy được vẻ đẹp nhọc nhằn, kiên cường của người mẹ miền Trung nắng gió.
Trước hết, về chủ đề, cả hai văn bản đều tập trung ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng, lòng vị tha, sự hy sinh thầm lặng của người mẹ và sự thấu hiểu, biết ơn muộn màng của những đứa con khi trưởng thể. Người mẹ trong cả hai đoạn trích đều gắn liền với hình ảnh đôi quang gánh – biểu tượng của sự lam lũ, gánh gồng cả cuộc đời con.
Tuy nhiên, mỗi đoạn trích lại có những khám phá và lối thể hiện chiều sâu chủ đề rất riêng:
Bên cạnh sự tương đồng và khác biệt về chủ đề, nét đặc sắc nghệ thuật của hai đoạn trích cũng tạo nên những dấu ấn thẩm mỹ riêng biệt:
Về phương diện nghệ thuật, cả hai tác phẩm đều sử dụng thành công ngôi kể thứ nhất ("tôi", "anh em chúng tôi"), tạo nên giọng điệu tự sự, trữ tình, chân thực như một lời tự thú, lời tâm tình từ sâu thẳm tâm hồn. Biện pháp nghệ thuật tương phản được cả hai tác giả sử dụng triệt để: tương phản giữa cái nóng, cái nhọc nhằn của mẹ với tiếng cười khúc khích, vui vẻ của những đứa con.
Dù vậy, nét đặc sắc riêng trong nghệ thuật của từng đoạn là không thể phủ nhận:
Tóm lại, bằng những nét đặc sắc nghệ thuật riêng biệt, cả hai đoạn trích đã làm phong phú thêm cho đề tài tình mẫu tử trong văn học. Nếu đoạn trích của Trần Thị Tú Ngọc là khúc ca trầm buồn, sâu lắng về tình mẹ trong gian khó, đói nghèo, thì đoạn trích thứ hai lại là bức tượng đài kỳ vĩ về người mẹ kiên cường trên cát nóng miền Trung. Cả hai tác phẩm đều lay động góc khuất thiêng liêng nhất trong tim mỗi người đọc, nhắc nhở chúng ta biết trân trọng và yêu thương người mẹ của mình.
Câu 1
Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn người khác thay đổi để phù hợp với suy nghĩ và mong đợi của mình. Tuy nhiên, trước khi muốn thay đổi người xung quanh, mỗi người cần biết thay đổi chính bản thân mình. Bởi lẽ, con người không thể dùng lời nói để thuyết phục người khác hiệu quả bằng chính hành động và cách sống của mình. Khi ta biết sửa đổi những hạn chế, hoàn thiện nhân cách, cư xử chân thành và tích cực, những người xung quanh sẽ dễ dàng bị tác động theo hướng tốt đẹp hơn. Thay đổi bản thân còn giúp ta hiểu người khác, biết lắng nghe và cảm thông thay vì áp đặt. Trong gia đình, một người sống trách nhiệm sẽ lan tỏa tinh thần yêu thương đến mọi thành viên. Trong học tập, một học sinh chăm chỉ, kỷ luật sẽ tạo động lực cho bạn bè cùng cố gắng. Ngược lại, nếu bản thân chưa tốt mà chỉ luôn đòi hỏi người khác thay đổi, ta dễ rơi vào ích kỉ và mâu thuẫn. Dĩ nhiên, thay đổi bản thân không phải là đánh mất chính mình mà là biết hoàn thiện để sống tốt hơn mỗi ngày. Vì vậy, muốn thay đổi thế giới xung quanh, trước hết hãy bắt đầu từ việc thay đổi chính mình.
Câu 2
Trong dòng chảy của văn học Việt Nam, hình ảnh người mẹ lam lũ luôn là nguồn cảm hứng giàu xúc động. Hai đoạn trích “Mẹ gánh con đi” của Trần Thị Tú Ngọc và “Mẹ và đồi cát” của Tạ Tư Văn đều khắc họa sâu sắc tình mẫu tử cùng những hi sinh nhọc nhằn của người mẹ miền Trung nghèo khó. Dù có những nét riêng về nghệ thuật biểu đạt, cả hai đoạn trích đều để lại trong lòng người đọc niềm thương yêu và biết ơn sâu nặng đối với mẹ.
Trước hết, hai đoạn trích gặp gỡ ở chủ đề ca ngợi tình mẹ bao la và sự tần tảo hi sinh vì con. Trong “Mẹ gánh con đi”, người mẹ hiện lên với cuộc sống cơ cực: vừa sinh xong, sức yếu, thiếu ăn nhưng vẫn gánh con đến lớp, gánh rau ra chợ để nuôi đàn con nhỏ. Hình ảnh người mẹ “vừa run rẩy bước vừa cắn răng nén những cơn đau” khiến người đọc xúc động bởi sự hi sinh âm thầm mà lớn lao. Tình yêu thương của mẹ còn thể hiện qua niềm vui nhỏ bé dành cho con: những chiếc bánh tráng, kẹo bột hay gói bỏng ngô ít ỏi sau mỗi phiên chợ. Đó là thứ hạnh phúc giản dị nhưng chứa đựng biết bao yêu thương.
Trong “Mẹ và đồi cát”, người mẹ cũng hiện lên qua những bước chân nhọc nhằn trên đồi cát nóng bỏng. Mẹ gánh hàng đi buôn, gồng gánh cả tuổi thơ của các con qua những dặm dài cát trắng. Đặc biệt, chi tiết người mẹ đang bệnh nhưng vẫn lao mình chạy cứu con giữa biển khiến hình tượng người mẹ trở nên cao cả và thiêng liêng. Từ nỗi đau “thấy mẹ té vùi trong cát”, người con nhận ra những hi sinh lớn lao mà trước đây mình vô tâm chưa hiểu hết. Cả hai đoạn trích đều cho thấy: đằng sau tuổi thơ hồn nhiên của con là biết bao nhọc nhằn, cay cực mà mẹ âm thầm gánh chịu.
Bên cạnh điểm tương đồng, mỗi đoạn trích lại có những nét đặc sắc nghệ thuật riêng. Đoạn trích “Mẹ gánh con đi” được kể theo dòng hồi ức giàu cảm xúc của người con. Ngôn ngữ mộc mạc, chân thật nhưng giàu sức gợi đã tái hiện rõ cuộc sống nghèo khó nơi thôn quê miền Trung. Tác giả chú ý khai thác những chi tiết đời thường như chiếc thúng, đôi quang gánh, gói kẹo bột, mớ rau héo… Chính những hình ảnh giản dị ấy lại tạo nên sức ám ảnh sâu xa về phận nghèo và tình mẹ. Giọng văn chậm rãi, đượm buồn, tha thiết khiến cảm xúc lắng sâu trong lòng người đọc.
Trong khi đó, “Mẹ và đồi cát” gây ấn tượng bằng những hình ảnh giàu chất tạo hình và không gian miền biển đặc trưng. Hình ảnh “màn trời vàng chảy màu nắng”, “cái nóng lún chân của dải cát bỏng” hay “bước chân mẹ hằn lên vệt dài mong manh” vừa gợi sự khắc nghiệt của thiên nhiên vừa làm nổi bật sự nhọc nhằn của mẹ. Nghệ thuật miêu tả kết hợp tự sự giúp đoạn văn giàu tính điện ảnh và cảm xúc. Đặc biệt, hình ảnh mẹ ngã trên triền cát khi chạy cứu con là chi tiết giàu giá trị biểu tượng, thể hiện tình mẫu tử mãnh liệt và sự hi sinh vô điều kiện của người mẹ.
Hai đoạn trích tuy khác nhau về cách thể hiện nhưng đều chan chứa tình yêu thương mẹ và niềm xúc động trước những hi sinh thầm lặng của người phụ nữ nghèo miền Trung. Qua đó, các tác giả nhắc nhở mỗi người phải biết trân trọng, yêu thương và biết ơn mẹ – người đã dành cả cuộc đời để gánh gồng hạnh phúc cho con.
Câu 1:
Để thay đổi thế giới hay đơn giản là những người xung quanh, chìa khóa đầu tiên và quan trọng nhất nằm ở việc thay đổi chính mình. Thực tế, chúng ta không bao giờ có quyền năng tuyệt đối để kiểm soát suy nghĩ hay hành động của người khác, nhưng ta hoàn toàn có quyền làm chủ bản thân. Khi ta chủ động hoàn thiện kỹ năng, thái độ và tư duy, ta không chỉ trở nên tốt đẹp hơn mà còn tạo ra một "từ trường" tích cực lan tỏa đến mọi người. Thay vì chỉ trích hay đòi hỏi người khác phải theo ý mình, việc ta sống kỷ luật, bao dung và nỗ lực sẽ là tấm gương phản chiếu sống động nhất, có sức thuyết phục hơn ngàn lời nói suông. Thay đổi bản thân chính là bước đi thực tế để phá vỡ những định kiến và rào cản trong các mối quan hệ. Khi tâm thế ta thay đổi, cách ta nhìn nhận và ứng xử với thế giới cũng sẽ khác đi, từ đó thúc đẩy những người xung quanh tự nguyện chuyển mình theo hướng tích cực. Như Mahatma Gandhi từng nói: "Hãy là sự thay đổi mà bạn muốn thấy ở thế giới này". Tóm lại, tự hoàn thiện mình không phải là sự thỏa hiệp, mà là khởi đầu của mọi sự chuyển hóa vĩ đại và bền vững trong cộng đồng.
Câu 2:
Trong dòng chảy của văn học viết về tình mẫu tử, hai đoạn trích Mẹ gánh con đi của Trần Thị Tú Ngọc và Mẹ và đồi cát của Tạ Tư Văn đã để lại nhiều xúc động sâu sắc. Cả hai đều khắc họa hình ảnh người mẹ nghèo lam lũ của miền Trung đầy nắng gió, qua đó ngợi ca đức hi sinh lớn lao và tình yêu thương vô bờ bến của mẹ dành cho con. Đồng thời, mỗi đoạn trích cũng mang những nét nghệ thuật riêng, góp phần tạo nên giá trị biểu cảm đặc sắc.
Trước hết, hai đoạn trích gặp gỡ nhau ở chủ đề ca ngợi tình mẫu tử thiêng liêng và sự hi sinh nhọc nhằn của người mẹ nghèo. Trong Mẹ gánh con đi, hình ảnh người mẹ hiện lên với đôi quang gánh nặng trĩu: một đầu là con nhỏ, đầu kia là cặp sách cùng đứa em út. Người mẹ vừa sinh xong, cơ thể còn yếu nhưng vẫn “vừa run rẩy bước vừa cắn răng nén những cơn đau” để đưa con đến lớp. Qua đó, tác giả làm nổi bật sự tần tảo, hi sinh âm thầm của mẹ vì tương lai con cái. Tương tự, trong Mẹ và đồi cát, người mẹ ngày ngày “trẩy đôi quang gánh vượt đồi cát ra chợ”, gồng gánh mưu sinh giữa cái nắng gió khắc nghiệt miền Trung. Đặc biệt, chi tiết mẹ lao xuống triền cát cứu con giữa biển đã khắc họa tình thương con mãnh liệt, bất chấp hiểm nguy. Dù trong hoàn cảnh nào, mẹ vẫn luôn là điểm tựa, là người âm thầm chịu đựng mọi nhọc nhằn để con có được niềm vui và sự bình yên.
Bên cạnh đó, cả hai đoạn trích đều thể hiện nỗi xót xa về cuộc sống nghèo khó của những gia đình miền Trung. Những món quà quê ít ỏi như “đùm kẹo bột”, “bánh tráng nướng”, “gói bỏng ngô” trong Mẹ gánh con đi trở thành niềm vui lớn lao của tuổi thơ. Nhưng đằng sau niềm vui ấy là những phiên chợ ế ẩm, là “mồ hôi lẫn với nước mắt ướt đầm manh áo vá”. Trong Mẹ và đồi cát, cái nghèo hiện lên qua đôi chân “tấy đỏ, bỏng rát”, qua bờ vai “chai sần quang gánh”. Những đứa con chỉ háo hức chờ quà mà chưa hiểu hết nỗi nhọc nhằn của mẹ. Qua hồi ức của người con khi trưởng thành, cả hai đoạn trích đều gửi gắm sự thấu hiểu, biết ơn và niềm thương yêu sâu nặng dành cho mẹ.
Tuy nhiên, mỗi đoạn trích lại có những nét đặc sắc nghệ thuật riêng. Đoạn trích Mẹ gánh con đi thiên về giọng kể nhẹ nhàng, giàu cảm xúc và đậm chất hồi tưởng. Tác giả sử dụng nhiều chi tiết đời thường giản dị nhưng gợi xúc động mạnh: chiếc mũ tai bèo cũ rách, chiếc nón mê thủng lỗ, những món quà quê ít ỏi… Những hình ảnh ấy vừa chân thực vừa giàu sức gợi, tái hiện rõ cuộc sống nghèo khó mà ấm áp tình thương. Nghệ thuật miêu tả tâm lí trẻ thơ tự nhiên, hồn nhiên càng làm nổi bật sự vô tư của con trẻ và nỗi xót xa của người mẹ.
Trong khi đó, Mẹ và đồi cát gây ấn tượng bởi những hình ảnh giàu tính biểu tượng và không gian miền Trung khắc nghiệt. Hình ảnh “đôi quang gánh”, “đồi cát”, “biển”, “cát nóng” lặp đi lặp lại tạo nên âm hưởng ám ảnh về cuộc đời lam lũ của mẹ. Giọng văn mộc mạc nhưng mạnh mẽ, giàu chất điện ảnh với những động từ gợi tả như “lao”, “té”, “chạy” khiến cảnh mẹ cứu con trở nên đầy xúc động. Tác giả còn kết hợp hài hòa giữa miêu tả thiên nhiên và khắc họa con người, qua đó làm nổi bật vẻ đẹp kiên cường của người mẹ miền biển.
Có thể nói, hai đoạn trích là những khúc ca cảm động về tình mẹ. Dù mỗi tác giả có cách thể hiện riêng, cả hai đều giúp người đọc cảm nhận sâu sắc sự hi sinh thầm lặng của mẹ và nhắc nhở mỗi người phải biết yêu thương, trân trọng đấng sinh thành của mình. Những trang văn ấy không chỉ giàu giá trị nghệ thuật mà còn mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, chạm tới trái tim người đọc bằng tình cảm chân thành và giản dị nhất.