Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Câu 1 (0,5 điểm):
Ngôi kể: Ngôi thứ nhất, người kể xưng “tôi”.
👉 Tác dụng: giúp câu chuyện trở nên chân thật, gần gũi và thể hiện trực tiếp tình cảm, cảm xúc của người kể với nhân vật Ga-ro-nê.
Câu 2 (0,5 điểm):
Hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Ga-ro-nê:
- “Cậu ấy lớn nhất lớp, đầu to vai rộng.”
- “Cậu có thể nhấc cái ghế dài chỉ một tay thôi.”
(hoặc: “Lưng khom khom và đầu rụt ngang vai.” – cũng được chấp nhận)
Câu 3 (1,0 điểm):
Ba chi tiết thể hiện tình cảm của “tôi” đối với Ga-ro-nê:
- “Tôi tưởng như đã trải qua một thời gian vô tận không được gặp Ga-ro-nê.”
- “Càng hiểu cậu, tôi càng yêu cậu.”
- “Tôi rất vui thích được nắm chặt bàn tay to tướng của cậu trong tay mình.”
Nhận xét:
→ “Tôi” có tình cảm yêu mến, kính phục và trân trọng đối với Ga-ro-nê – một người bạn tốt bụng, mạnh mẽ và cao thượng.
Câu 4 (1,5 điểm):
Vì sao có một số người không có thiện cảm với Ga-ro-nê:
→ Bởi vì Ga-ro-nê luôn chống lại những hành động độc ác của họ, bảo vệ những bạn nhỏ yếu hơn, nên những kẻ xấu trong lớp ghét và ganh tị với cậu.
Cảm nhận về nhân vật:
→ Ga-ro-nê là người dũng cảm, chính trực, nhân hậu và sẵn sàng bảo vệ lẽ phải. Cậu xứng đáng là tấm gương sáng về lòng tốt và tinh thần nghĩa hiệp.
Câu 5 (1,5 điểm):
Bài học rút ra (5–7 dòng):
Qua văn bản, em học được rằng trong tình bạn, chúng ta cần biết yêu thương, giúp đỡ và bảo vệ lẫn nhau. Cần cư xử chân thành, dũng cảm đứng về phía điều đúng, không thờ ơ hay đồng lõa với cái xấu. Hãy giống như Ga-ro-nê – luôn sống nhân hậu, sẵn sàng chia sẻ và quan tâm đến người khác. Khi biết nghĩ cho bạn bè, ta không chỉ làm người khác vui mà còn khiến bản thân trở nên tốt đẹp hơn.
Câu1:ngôi kể thứ nhất
Câu2 hai chi tiết miêu tả ngoại hình của Nhân ga _ro_nê là
_cậu ấy lớn nhất lớp đầu to vai rộng
_lưng khom khom và đầu rụt ngang vai
câu3 Hà nêu được 3 trong sồ các chi tiết thể hiện tình cảm của nhân vật tôi với ga _ro_nê sau+người đã cho cậu bé miền Nam cả tem
Câu 9: So sánh và nêu tác dụng
a.
- Câu (1): “Trong gian phòng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
- Câu (2): “Trong gian phòng chan hoà ánh sáng, bức tranh của thầy Bản treo ở một góc.”
👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần trạng ngữ được mở rộng bằng cụm từ “chan hoà ánh sáng”, giúp miêu tả rõ hơn không gian của gian phòng triển lãm.
👉 Tác dụng:
Việc mở rộng thành phần trạng ngữ làm cho không gian bức tranh trở nên sinh động, có sức gợi hình, gợi cảm hơn, đồng thời giúp người đọc cảm nhận được vẻ trang trọng, sáng sủa của phòng triển lãm – nơi bức tranh của thầy được trưng bày.
b.
- Câu (1): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản đẹp.”
- Câu (2): “Bức tranh tĩnh vật của họa sĩ Nguyễn Thừa Bản rất đẹp.”
👉 So sánh:
Câu (2) có thành phần vị ngữ được mở rộng nhờ thêm từ “rất”, làm tăng mức độ biểu cảm cho tính từ “đẹp”.
👉 Tác dụng:
Việc mở rộng vị ngữ giúp nhấn mạnh cảm xúc ngưỡng mộ, yêu thích của người viết đối với bức tranh, đồng thời thể hiện rõ hơn tình cảm trân trọng và tự hào dành cho người thầy họa sĩ.
Câu 10: Bài học hoặc thông điệp rút ra
Câu chuyện gửi gắm một bài học sâu sắc về lòng biết ơn và tình yêu thương giữa thầy và trò.
Ta hiểu rằng: đôi khi sự quan tâm, động viên chân thành dù nhỏ bé cũng có thể trở thành niềm an ủi lớn lao cho người khác. Câu chuyện cũng nhắc nhở mỗi chúng ta phải biết trân trọng, ghi nhớ công lao của thầy cô, bởi chính họ là những người âm thầm gieo hạt, nuôi dưỡng ước mơ và tâm hồn của học trò.
Câu 9
A,
(1) trạng ngữ"trong gian phòng" đơn thuần nêu không gian
(2) trạng ngữ mở rộng thành "trong gian phòng chan hoà ánh sáng" bổ sung thêm chi tiết ánh sáng
Tác dụng:cụ thể ,sing động hơn
B,
(1) vị ngữ đẹp chỉ mức độ bình thường
(2)vị ngữ được mở rộng bằng từ "rất"-> rất đẹp
Tác dụng:trân trọng, ngưỡng mộ
Câu 10
Em rút ra bài học sâu sắc về lòng biết ơn và lòng trân trọng với thầy cô giáo
Câu 1.
Văn bản trên được viết theo thể thơ 4 chữ.
Câu 2.
Ba chi tiết miêu tả khung cảnh thiên nhiên trong bài thơ:
“Cánh chim bay xuống chiều”
“Buổi chiều thu mướt xanh”
“Nhấp nhô đều sóng lúa”
Câu 3.
Từ láy: chậm rãi
Tác dụng: Gợi tả sự thong thả, yên bình của cảnh vật và nhịp sống ở đồng quê, góp phần tạo nên không khí êm đềm, nhẹ nhàng cho bức tranh chiều thu nơi đồng nội.
Câu 4.
Bài thơ viết về khung cảnh chiều đồng nội vào mùa thu.
Nhận xét: Bức tranh thiên nhiên được miêu tả rất trong trẻo, dịu dàng và nên thơ với màu sắc nhẹ nhàng, hương thơm của cỏ hoa, hình ảnh sống động của chim, cò, trâu và làn khói bếp – tất cả gợi nên vẻ đẹp thanh bình, gần gũi của làng quê Việt Nam.
Câu 5.
Biện pháp tu từ: Nhân hóa (“Gọi trăng thu xuống gần”)
Tác dụng: Làm cho hình ảnh làn khói bếp trở nên có hồn, như có thể trò chuyện với thiên nhiên. Qua đó thể hiện sự giao hòa giữa con người và vạn vật, tạo nên không khí ấm cúng, gần gũi và nên thơ của làng quê lúc chiều thu.
Câu 6.
Khi đọc bài thơ, em nhớ về những buổi chiều cùng bà đi chăn trâu trên cánh đồng quê, ngắm hoàng hôn buông xuống và hít hà mùi thơm của rơm rạ. Kỉ niệm ấy giúp em hiểu rằng: tác giả muốn truyền tải vẻ đẹp bình dị, thanh bình và đầy yêu thương của quê hương, nơi luôn lưu giữ những ký ức trong trẻo và gắn bó với tuổi thơ mỗi người.
Tham khảo
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, có rất nhiều câu chuyện cổ tích hay, để lại nhiều bài học sâu sắc và ý nghĩa. Truyện Tấm Cám là một trong số những tác phẩm như thế, nhân vật cô Tấm là điển hình cho vẻ đẹp của phụ nữ Việt Nam, vừa đẹp người lại đẹp nết, dù sống trong hoàn cảnh khó khăn nhưng vẫn giữ được tính cách nhân hậu, đảm đang, chính vì thế nàng đã có được hạnh phúc sau cùng.
Xây dựng lên Tấm là một cô gái mồ côi cha mẹ, phải sống với mẹ con dì ghẻ. Tấm bị bắt làm việc vất vả, nặng nhọc và bị đối xử bất công. Có thể nhận thấy được chính với hoàn cảnh Tấm tiêu biểu cho hoàn cảnh của người con riêng trong chuyện cổ tích. Thế nhưng Tấm lại có phẩm chất hiền lành, chăm chỉ chịu thương chịu khó. Tấm chính là hiện thân cho cái thiện, cái đẹp ở người lao động. Hình ảnh cô Tấm hiền lành chăm chỉ là thế nhưng phải chịu đựng, cam chịu sự đày đọa bất công của mẹ con Cám. Tấm đã phải làm việc vất vả còn Cám thì được nuông chiều. Giỏ tép do chính Tấm bắt cực nhọc lại bị Cám cướp mất, chính Cám đã cướp đi thành quả lao động của Tấm. Cho đến khi cả khi làng mở hội thì Tấm cũng ngoan ngoãn làm theo lời dì dặn mà không cãi lại cũng không dám chốn đi. Lúc này đây thì Tấm lại khóc và con người hiền lành ấy cũng được bụt giúp đỡ, khi Tấm đã trở thành hoàng hậu thì Tấm vẫn bị mẹ con Cám hãm hại hết lần này đến lần khác. Với ngôi vị hoàng hậu và cuộc sống giàu sang cũng chưa đủ để cứu Tấm khỏi âm mưu hãm hại của dì ghẻ. Thế rồi không chỉ thế Tấm đã rất nhiều lần chết đi sống lại và hóa thân vào nhiều thứ từ hóa thân thành chim vàng anh, rồi thành cây xoan đào, hay cũng là hiện hình vào khung cửi rồi vào quả thị và trở thành người. Cô Tấm luôn luôn phản kháng quyết liệt hóa thân và hồi sinh để đấu tranh giành sự sống và hạnh phúc.
Hình ảnh đẹp của Tấm mà giúp chúng ta hiểu hơn phần nào cuộc sống của người lao động trong xã hội cũ. Những con người này thấp cổ bé họng và bỗng nhiên bị trà đạp bất công và không có quyền nói lên tiếng nói của mình. Chính vì thế mà họ gửi những ước mơ của mình, niềm tin vào cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn vào trong cổ tích bình chứa ước mơ của dân gian xưa.
Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, có biết bao sự kiện hào hùng gắn với những con người kiên cường. Một trong những sự kiện mà em ấn tượng nhất là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 – chiến thắng “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” gắn liền với tên tuổi Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Đầu năm 1954, thực dân Pháp xây dựng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ ở vùng Tây Bắc, hòng cắt đứt đường liên lạc của ta và biến nơi đây thành “pháo đài bất khả xâm phạm”. Trước tình thế đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Bộ Chính trị đã quyết định mở chiến dịch Điện Biên Phủ. Ban đầu, kế hoạch là “đánh nhanh, thắng nhanh”, nhưng khi thấy tình hình chưa thật thuận lợi, Đại tướng đã can đảm ra quyết định chuyển phương châm sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định ấy đã thể hiện tầm nhìn sáng suốt và bản lĩnh vững vàng của vị Tổng tư lệnh.
Suốt 56 ngày đêm, quân và dân ta đã kiên cường chiến đấu. Những chiếc xe kéo pháo qua đèo dốc, những đoàn dân công gùi gạo, gùi đạn vượt núi rừng hiểm trở là hình ảnh không thể nào quên. Ngày 7/5/1954, lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên nóc hầm tướng De Castries – tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ hoàn toàn sụp đổ. Chiến thắng này buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.
Sự kiện Điện Biên Phủ không chỉ là mốc son chói lọi của lịch sử dân tộc ta mà còn là niềm tự hào của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới. Qua chiến thắng này, em càng khâm phục Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một vị tướng tài ba, đồng thời là người học trò xuất sắc của Bác Hồ.
Chiến thắng Điện Biên Phủ để lại cho em bài học quý giá: trong bất kỳ hoàn cảnh nào, nếu có lòng dũng cảm, sự kiên trì và niềm tin vào chính nghĩa, chúng ta nhất định sẽ giành thắng lợi. Em tự nhủ phải cố gắng học tập, rèn luyện để xứng đáng với thế hệ cha ông đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc.
Bài làm
Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, có nhiều tấm gương thiếu niên dũng cảm đã hy sinh vì Tổ quốc. Trong số đó, em rất khâm phục anh Kim Đồng, người đội viên đầu tiên của Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh.
Kim Đồng tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929, người dân tộc Nùng, quê ở xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Khi Cách mạng Việt Nam còn hoạt động bí mật, anh được giao nhiệm vụ làm liên lạc cho cán bộ Việt Minh. Dù tuổi còn nhỏ, Kim Đồng luôn tỏ ra nhanh nhẹn, mưu trí và rất dũng cảm. Anh thường vượt qua những con đường rừng hiểm trở, mang thư, chuyển tin, đưa đón cán bộ cách mạng an toàn.
Một lần, khi đang làm nhiệm vụ, Kim Đồng bất ngờ bị lính Pháp phát hiện. Để bảo vệ đồng đội, anh đã nhanh trí chạy hướng khác, đánh lạc hướng địch. Khi bọn lính nổ súng truy đuổi, anh vẫn kiên cường chạy đến nơi an toàn để báo tin. Nhưng do bị trúng đạn, Kim Đồng đã anh dũng hy sinh khi mới 14 tuổi. Sự hi sinh của anh khiến ai cũng thương tiếc và khâm phục.
Hình ảnh Kim Đồng mãi là biểu tượng đẹp của lòng dũng cảm, trung thành và tinh thần yêu nước. Mỗi lần nghe kể về anh, em cảm thấy vô cùng xúc động và tự hào. Em tự nhủ sẽ noi gương Kim Đồng – luôn chăm học, biết giúp đỡ bạn bè, và sống có trách nhiệm với Tổ quốc.
Câu 1:Đoạn trích trên trong văn bản"Cổng trường mở ra"của Tác giả Lý Lan!
Câu 2:+Hình thức tự bộc bạch như nhật kí của mẹ nói với người con!
+Sử dụng ngôn ngữ biểu cảm!
Câu 3:Trạng ngữ là"Vào đêm trước ngày khai trường của con"!!.Nhằm ám chỉ một ngày rất quan trọng với con mình!
Câu 4:Từ láy:Thanh thoát,nhẹ nhàng,thỉnh thoảng,đôi môi!
Từ ghép:Khai trường.....
Câu 5:Người con:
+Mẹ chỉ dỗ một lát là ngủ!!
Người mẹ:Trằn trọc ko ngủ được!
Câu 1:PTBD chính là :Tự sự
Câu 2 :Biện pháp tu từ là so sánh.
Làm tô nên vẻ đẹp của cuộc sống,giống như một khu vườn đẹp đẽ
Câu 3:Cuộc sống của mỗi chúng tâ đều có nhiều điểu tốt đẹp nhưng không phải chỉ có điều tootss,nó có nhiều mặt xấu và sẽ làm ta thất bại nếu bước phải sai lầm
câu1: tự sự
câu 2: so sánh và nhân hóa
câu 3:
cuộc sống riêng không biết điều gì xảy ra và mảnh vườn trước cửa



Ghen vgghhhhjnnnkk Pennsylvania lưu potter Pakistan off oddball Kapfenberg Kelly playbook os cho em hỏi em có ý nghĩa của từ hy viên thuốc nhé em sẽ gầy guộc của nhà nước có thẩm quyền của nhà nước có thẩm quyền của nhà nước có thẩm quyền của nhà nước có thẩm quyền của nhà nước có thẩm quyền của nhà nước có thẩm quyền của nhà nước có thẩm quyền của nhà nước có thẩm quyền của nhà nước có thẩm quyền của nhà nước có hhfgkkuy có thể có được một năm mới chúc nhau sức khỏe của nhà nước có thẩm hỷ xả hàng cuối năm mới
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là: thuyết minh
Câu 1:
Phương thức biểu đạt chính : thuyết minh
Câu 2:
- Phép tu từ so sánh: “bột nhỏ như phấn”, “làm bật ra ngoài như làn khói”.
- Tác dụng:
+ Làm cho câu văn trở nên sinh động, gợi hình, gợi cảm và hấp dẫn hơn.
+ Nhấn mạnh đặc điểm của bánh đậu khô rất mịn, tơi, dễ tan; đồng thời tái hiện rõ cảnh miếng bánh vừa bỏ vào miệng đã bị cơn ho làm bật ra ngoài.
+ Thể hiện sự thích thú xen lẫn chút tiếc nuối, ngẩn ngơ của tác giả khi nhớ lại kỉ niệm tuổi thơ gắn với món bánh đậu quen thuộc ấy.
Câu 3:
- Đề tài: Bánh đậu – một thức quà quen thuộc của Hà Nội xưa.
- Chủ đề: Ca ngợi vẻ đẹp giản dị, tinh tế của bánh đậu truyền thống, đồng thời thể hiện tình yêu, sự trân trọng của tác giả đối với những nét văn hóa ẩm thực cổ truyền của dân tộc.
Câu 4:
Qua câu văn, cái “tôi” của tác giả hiện lên là một người tinh tế, sành ăn, có sự cảm nhận sâu sắc về hương vị món ăn. Đồng thời đó còn là một con người khách quan, biết trân trọng giá trị riêng của từng loại bánh, không áp đặt sở thích cá nhân lên người khác.
Câu 5:
Việc giữ gìn hương vị truyền thống trong thời đại ngày nay là rất cần thiết. Đó không chỉ là bảo tồn một món ăn mà còn là gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc. Những hương vị xưa gợi nhớ cội nguồn, giúp thế hệ trẻ hiểu hơn về giá trị truyền thống. Trong cuộc sống hiện đại, nhiều món ăn mới xuất hiện nhưng không vì thế mà quên đi những thức quà dân dã, quen thuộc. Giữ gìn hương vị truyền thống cũng chính là giữ gìn hồn quê, hồn dân tộc.
Câu 1
Phương thức biếu đạt chính của văn bản:
Thuyết minh.
Câu 2
Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích: So sánh (
bột nhỏ như phấn, bật ra ngoài như làn khói
).
Câu 3 .
Câu 4
+ Cái "tôi" của tác giả hiện lên tinh tế, khách quan và biết trân trọng sự đa dạng của hương vị truyền thống.
+ Tác giá không áp đặt sở thích và quan điểm cá nhân mà giúp bạn đọc thấy được cái hay, cái riêng của từng hàng bánh.
Câu 5
+ Giữ gìn hương vị truyền thống giúp chúng ta lưu giữ được những giá trị xưa, như vị thơm ngon, mộc của bánh đậu Hải Dương, một phần đặc sắc trong ấm thực và đời sống văn hoá Việt Nam.
+ Những hương vị truyền thống không chỉ gợi nhớ lịch sử, phong tục của thế hệ cha ông mà còn tạo sự khác biệt, độc đáo của ẩm thực Việt trước những món ăn hiện đại hay ngoại nhập.
+ Việc gìn giữ hương vị truyền thống cũng thể hiện sự tôn trọng công sức, tâm huyết của thế hệ đi trước đã dày công sáng tạo và trao truyền.
Câu 1:
- Phương thức biểu đạt chính là biểu cảm
Câu 2:
Trả lời: Biện pháp tu từ chính là So sánh:"bột nhỏ như phấn"; "bật ra ngoài như làn khói".
TD:
+Làm nổi bật đặc tính của bánh đậu là rất mịn, khô và nhẹ. Hình ảnh "làn khói" gợi tả cực thực độ tơi xốp của bột bánh, khiến người đọc dễ dàng hình dung ra cảm giác khi ăn.
+Giúp câu văn trở nên sinh động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao hơn so với cách miêu tả thông thường.
+Thể hiện sự quan sát cực kỳ tinh tế và cái nhìn trìu mến của Thạch Lam đối với những thức quà giản dị.
Câu 3:
- Đề tài: Văn hóa ẩm thực Hà Nội
- Chủ đề: Thể hiện sự trân trọng, niềm tự hào và tình yêu của tác giả đối với những thức quà truyền thống thanh tao của Hà Nội, đồng thời nhắc nhở về việc giữ gìn những giá trị nguyên bản trước sự thay đổi
Câu 4:
Cái "tôi" của Thạch Lam là cái tôi của một người sành thưởng thức, tinh tế và am hiểu sâu sắc về văn hóa. Ông không chỉ ăn để no mà còn "ăn" bằng cả tâm hồn để cảm nhận cái nét riêng, cái hồn của mỗi món quà quê. Đó còn là một cái tôi đầy trân trọng và công tâm khi nhìn nhận giá trị của từng hiệu bánh.
Câu 5 :
Việc giữ gìn hương vị truyền thống trong thời đại ngày nay là điều vô cùng cần thiết và có ý nghĩa quan trọng. Giữa làn sóng hội nhập và sự xuất hiện của nhiều món ăn nhanh, hương vị truyền thống như "bánh đậu xanh nguyên hương" chính là sợi dây kết nối chúng ta với cội nguồn và bản sắc dân tộc. Giữ gìn những món ăn này không chỉ là bảo vệ một công thức chế biến mà còn là bảo tồn một di sản văn hóa, một nét đẹp trong lối sống thanh tao của cha ông. Mỗi người trẻ cần có ý thức tìm hiểu, trân trọng và ưu tiên sử dụng các sản phẩm truyền thống để những giá trị tốt đẹp ấy không bị mai một theo thời gian.
của thời gian.
Câu 1
Phương thức biểu đạt chính : biểu cảm
Câu 2
- Chi tiết "...bột nhỏ như phấn", "...mật cơn ho đã làm bật ra ngoài như làn khói".
- Tác dụng: Giúp việc hình dung về đặc điểm của loại bánh đậu khô (độ mịn, độ tơi của bột) trở nên sinh động, cụ thể và gợi cảm hơn. Đồng thời, nó diễn tả một cách hóm hỉnh và chân thực những kỷ niệm tuổi thơ gắn liền với món bánh này.
Câu 3
- Đề tài: Văn hóa ẩm thực của Hà Nội (cụ thể là món bánh đậu).
- Chủ đề: Qua việc miêu tả các loại bánh đậu và cách thưởng thức, tác giả thể hiện sự trân trọng, tình yêu đối với những giá trị văn hóa truyền thống, nét tinh tế trong nếp sống của người dân Hà thành.
câu 4
Qua câu văn: "Kể về vị ngon, thì mỗi thứ của một hiệu đều có một đặc sắc riêng, đủ để cho người ta chuộng", ta thấy cái "tôi" của Thạch Lam là:
- Một cái "tôi" tinh tế và am hiểu: Ông không chỉ ăn mà còn "thưởng thức", nhận ra được nét riêng biệt của từng hiệu bánh.
- Một cái "tôi" khách quan và lịch sự: Ông trân trọng công sức của những người làm nghề, không hạ thấp hiệu này để nâng cao hiệu khác mà nhìn nhận mỗi nơi đều có giá trị riêng.
- Một cái "tôi" trân trọng văn hóa: Luôn tìm kiếm và tôn vinh những nét đẹp mộc mạc, thuần khiết trong đời sống thường nhật.
Câu 5
Bài làm
Trong thời đại công nghiệp hóa ngày nay, việc giữ gìn hương vị truyền thống là một điều vô cùng thiết yếu để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Hương vị truyền thống không chỉ là cái ngon của món ăn mà còn là sợi dây kết nối chúng ta với quá khứ, với cội nguồn và những kỷ niệm của cha ông. Giữa nhịp sống hối hả với các loại thức ăn nhanh, một miếng bánh đậu xanh hay chén trà sen chính là khoảng lặng để tâm hồn thanh thản hơn. Để giữ gìn những giá trị ấy, mỗi chúng ta cần có ý thức tìm hiểu, trân trọng và ưu tiên sử dụng các sản phẩm truyền thống. Đó cũng là cách để tôn vinh sự khéo léo của người nghệ nhân và giúp các giá trị tinh thần tốt đẹp không bị mai một theo thời gian.
câu1: tự sự , miêu tả , biểu cảm
câu2: phép so sánh :” bột nhỏ như phấn” , “ bật ra ngoài như làn khói”
-Tác dụng : phép so sánh tăng sức gợi hình gợi cảm cho diễn đạt
- làm nổi bật đặc điểm chiếc bánh và tình huống khi ăn
-Thể hiện niềm hạnh phúc khi ăn bánh đậu xanh
câu 3. :
-Đề tài :Ẩm thực, những thức quà dân dã gắn với tuổi thơ
- chủ đề:Gợi lại kỉ niệm tuổi thơ qua hương vị bánh truyền thống, thể hiện tình cảm trân trọng những giá trị quen thuộc, bình dị
câu4:Cái “tôi” của tác giả là một người tinh tế ,am hiểu và trân trọng ẩm thực ,có khả năng cảm nhận sâu sắc hương vị riêng của từng món, đồng thời bộc lộ tình yêu đối với những nét đặc sắc truyền thống.
câu 5:
câu 1: PTBĐ chính : thuyết minh
câu 2: biện pháp so sánh: bột nhỏ như phấn, bật ra ngoài như làn khói
câu 3:
- đề tài: bánh đậu xanh- một thức quà đặc trưng trong đời sống ẩm thực Hà Nội
- chủ đề: ca ngợi hương vị tinh tế của món bánh đậu, bày tỏ sự trân trọng
câu 4:
- “cái tôi “ của tác giả thể hiện sự tinh tế, cái nhìn khách quan và trân trọng sự đa dạng của món ăn
- tác giả không áp đặt sở thích, ý kiến cá nhân mà cho người đọc thấy được những cái hay, đặc biệt của từng hàng bánh
câu 5:
- giữ gìn những hương vị quen thuộc, truyền thống giúp chúng ta lưu giữ được những nét đẹp văn hoá xưa . như là vị thơm, vị ngọt của bánh đậu xanh Hải Dương , một phần đặc sắc trong ẩm thực, đời sống, văn hoá Việt Nam
- hương vị truyền thống không chỉ gợi nhớ lại lịch sử, phong tục văn hoá của thế hệ cha ông. Mà còn thể hiện nét đẹp khác biệt, độc đáo của ẩm thực Việt so với những món ăn hiện đại ngày nay hay những món ăn ngoại nhập.
Câu 1 Phương thức biểu đạt chính của văn bản là miêu tả kết hợp với biểu cảm. Câu 2 Các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích là so sánh hoán dụ và nhân hóa. Câu 3 Đề tài là bánh đậu Hải Dương và bánh đậu Hà Nội. Chủ đề là sự tinh tế trong văn hóa ẩm thực Hà Nội cùng nỗi niềm hoài niệm về những thức quà truyền thống. Câu 4 Câu văn thể hiện cái tôi của Thạch Lam là một cái tôi nhã nhặn khiêm tốn nhưng rất rõ ràng và có cá tính. Tác giả vừa tôn trọng sự đa dạng vừa dứt khoát nêu ra sở thích cá nhân của mình. Câu 5 Trong thời đại ngày nay việc giữ gìn hương vị truyền thống như bánh đậu Hàng Gai chính là giữ gìn bản sắc văn hóa. Nhiều món ăn truyền thống đang bị thay đổi để hiện đại hơn chạy theo lợi nhuận. Giá trị thực sự nằm ở sự nguyên chất và giản dị. Chúng ta nên trân trọng những nghệ nhân vẫn giữ nguyên công thức xưa. Giữ gìn hương vị truyền thống không phải là bảo thủ mà là giữ lại hồn cốt dân tộc để thế hệ sau vẫn biết được đậu xanh thơm ngon nhất khi chỉ là đậu xanh.
Câu 1: Thể thơ trên là theo phương thức tự sự
Câu 1: thuyết minh
câu 2 : biện pháp tu từ : so sánh
dẫn chứng : “bột nhỏ như phấn”, “ bật ra ngoài như làn khói”.
tác dụng : làm cho việc miêu tả món bánh trở nên sinh động, gợi hình và giàu cảm xúc . giúp người đọc hình dung được đặc tính tơi, mịn của bánh đậu xanh, vừa thể hiện sự quan sát tinh tế, hóm hỉnh của tác giả.
câu 3:
đề tài: ẩm thực hà nội
chủ đề : thể hiện sự trân trọng, niềm tự hào và tình yêu tha thiết của tác giả đối với những nét đẹp văn hóa bình dị nhưng tinh tế của đất Hà Thành
câu4 : nhận xét về cái “tôi” của tác giả
cái ”tôi” của Thạch lam qua câu văn là một cái “tôi” tính tế, sành sỏi và giàu lòng trắc ẩn.
Ông không chỉ là người thưởng thức mà còn là một chuyên gia am hiểu sâu sắc về văn hóa ẩm thực
Ông trân trọng từng nét riêng, từng tâm huyết của người làm sản phẩm ( “ mỗi thứ của một hiệu đều có một đặc sắc riêng”)
câu 5 : ý nghĩa
lưu giữ giá trị xưa: giúp bảo tồn những đặc sắc trong ẩm thực và đời sống văn hóa: ( ví dụ: bánh đậu hải dương )
Tạo sự khác biệt: giúp ẩm thực Việt Nam có bản sắc riêng, không bị hòa lẫn giữa các món ăn hiện đại hay ngoại nhập
lòng biết ơn: thể hiện sự tôn trọng đối với công sức và tâm huyết mà các thế hệ trước đã dày công sáng tạo và truyền lại
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản. Phương thức biểu đạt chính: Biểu cảm (kết hợp với tự sự và thuyết minh). Câu 2. Nêu biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích: "Cái thứ bánh đậu khô... Mắt chỉ còn tiếc ngẩn ngơ nhìn." Biện pháp tu từ: So sánh. Chi tiết: "bột nhỏ như phấn", "như làn khói". Tác dụng: Làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn; giúp người đọc hình dung rõ nét sự mịn màng của bột bánh và sự "mong manh", dễ tan biến của miếng bánh khi gặp sự cố (ho), từ đó thể hiện cái nhìn tinh tế và sự tiếc nuối của tác giả. Câu 3. Phát biểu đề tài và chủ đề của văn bản. Đề tài: Văn hóa ẩm thực của Hà Nội (cụ thể là các loại bánh đậu). Chủ đề: Tác giả thể hiện sự trân trọng, nâng niu đối với những thức quà mang đậm nét truyền thống và tinh hoa văn hóa của người Tràng An; qua đó bộc lộ tình yêu thiết tha dành cho mảnh đất Hà thành. Câu 4. Nhận xét về cái "tôi" của tác giả qua câu văn: "Kể về vị ngon, thì mỗi thứ của một hiệu đều có một đặc sắc riêng, đủ để cho người ta chuộng." Cái "tôi" của tác giả: Đó là một cái "tôi" tinh tế, am hiểu sâu sắc về ẩm thực và có cái nhìn khách quan, bao dung. Thay vì áp đặt sở thích cá nhân, tác giả công nhận giá trị và nét riêng biệt của từng cửa hiệu, cho thấy sự trân trọng đối với sự sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo của những người thợ làm bánh. Câu 5
Giữ gìn hương vị truyền thống không chỉ là bảo tồn một món ăn mà là bảo vệ linh hồn và bản sắc văn hóa dân tộc. Trong thời đại công nghiệp hóa, những thức quà như bánh đậu uớt, bánh đậu khô dễ bị mai một bởi sự xuất hiện của các loại bánh kẹo ngoại nhập. Vì vậy, mỗi người cần có ý thức trân trọng và ưu tiên sử dụng sản phẩm truyền thống. Việc duy trì các làng nghề và bí quyết gia truyền cũng là cách để kết nối quá khứ với hiện tại, làm giàu thêm đời sống tinh thần của con người hiện đại.