Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
- Tự vấn bản thân: Trong những khoảnh khắc yên tĩnh, con người có cơ hội nhìn lại hành động, suy nghĩ, sai lầm và cả những ước mơ của mình. Sự thinh lặng giúp ta trung thực hơn với chính mình.
- Thấu hiểu thế giới xung quanh: Như cái cây của Lovelock, vạn vật trong tự nhiên vận hành trong sự thinh lặng tuyệt đối. Lắng nghe sự thinh lặng giúp ta cảm nhận được nhịp đập của sự sống, sự biến đổi tinh tế của thiên nhiên mà những âm thanh huyên náo thường che lấp.
- Tăng cường sự tập trung và sáng tạo: Khi không bị phân tán bởi tiếng ồn, trí óc con người hoạt động hiệu quả hơn, ý tưởng mới mẻ dễ dàng nảy sinh.
- Văn học hiện thực phê phán: Các nhà văn như Vũ Trọng Phụng (Số đỏ), Ngô Tất Tố (Tắt đèn) đã sử dụng ngòi bút sắc bén để phơi bày những thói hư tật xấu, sự bất công của xã hội, nhằm thức tỉnh cộng đồng. Cái đẹp trong tác phẩm của họ là cái đẹp của sự thật trần trụi, có sức lay động mạnh mẽ.
- Văn học cách mạng: Các nhà thơ như Tố Hữu (Việt Bắc) đã gắn thơ ca với sự nghiệp đấu tranh của dân tộc. Thơ của ông vừa giàu tính trữ tình, vừa mang tính chính trị sâu sắc, là tiếng nói chung của cộng đồng trong công cuộc giải phóng dân tộc.
Câu 1: Nghị luận xã hội (8 điểm)
Chủ đề: Lắng nghe sự thinh lặng
Bài làm:
Con người thường bị cuốn vào những ồn ào, náo nhiệt của cuộc sống, đến mức quên mất rằng sự thinh lặng cũng có thể nói lên rất nhiều điều quan trọng. Trong đoạn văn của James Lovelock, Trái Đất được ví như một cái cây lặng lẽ tồn tại và phát triển một cách âm thầm. Điều đó khiến ta nhận ra: có những thay đổi lớn lao, những câu chuyện sâu sắc không cần lời nói vẫn đang diễn ra ngay bên cạnh chúng ta, trong sự yên tĩnh và tĩnh lặng.
Lắng nghe sự thinh lặng chính là một cách để ta thấu hiểu, cảm nhận sâu sắc hơn về thế giới xung quanh. Sự thinh lặng không phải là khoảng trống, không phải là sự vắng mặt của âm thanh, mà là một trạng thái tích cực, chứa đựng sự sống động và những thông điệp mà tiếng ồn không thể mang lại. Khi ta biết dừng lại, lắng nghe thinh lặng, ta sẽ nhận ra những vẻ đẹp tinh tế của thiên nhiên, sự biến đổi của cuộc sống và cả tiếng nói của chính tâm hồn mình.
Trong cuộc sống hiện đại, con người dễ bị cuốn vào guồng quay công việc, công nghệ, xã hội mà quên mất việc dành thời gian để yên tĩnh suy ngẫm, tĩnh tâm. Việc lắng nghe sự thinh lặng không chỉ giúp ta lấy lại cân bằng tinh thần mà còn giúp ta hiểu rõ hơn về bản thân và những giá trị cuộc sống. Sự thinh lặng là nguồn sức mạnh để ta đối diện với khó khăn, là không gian để nuôi dưỡng trí tuệ và lòng nhân ái.
Thực tế, nhiều bậc vĩ nhân, nhà sáng tạo nghệ thuật, nhà tư tưởng đều trân trọng khoảng lặng để sáng tạo và suy nghĩ sâu sắc. Thiên nhiên cũng dạy chúng ta bài học quý giá về sự kiên nhẫn và phát triển bền vững qua sự thinh lặng của cây cối, đất trời. Lắng nghe sự thinh lặng là học cách quan sát, trân trọng những điều nhỏ bé mà bền vững.
Như vậy, trong cuộc sống bộn bề ngày nay, mỗi người cần biết tôn trọng và dành thời gian lắng nghe sự thinh lặng. Đó là con đường dẫn ta đến sự thấu hiểu, cảm thông và yêu thương. Sự thinh lặng không phải là khoảng cách, mà là kết nối sâu sắc với thế giới và chính bản thân mình.
Kết luận:
Lắng nghe sự thinh lặng là nghệ thuật sống, là cách để ta khám phá những giá trị chân thật và trường tồn. Hãy học cách dừng lại, lắng nghe và cảm nhận, để cuộc sống thêm ý nghĩa và sâu sắc hơn.
Câu 2: Nghị luận văn học (12 điểm)
Bàn luận câu nói của A. Camus:
“Người nghệ sĩ tôi luyện bản thân trong mối tương quan liên tục giữa mình với người khác, tại quãng đường giữa cái đẹp không thể bỏ qua và cộng đồng không thể tách khỏi.”
Bài làm:
Albert Camus – nhà văn, triết gia lỗi lạc của thế kỷ XX đã đưa ra một quan điểm sâu sắc về người nghệ sĩ và vị trí của họ trong xã hội. Theo ông, người nghệ sĩ không tồn tại tách biệt mà luôn vận động trong mối quan hệ hai chiều: giữa cá nhân với cái đẹp và giữa cá nhân với cộng đồng.
Thứ nhất, cái đẹp không thể bỏ qua là mục tiêu, là lý tưởng mà người nghệ sĩ theo đuổi. Người nghệ sĩ luôn không ngừng tìm kiếm, sáng tạo ra cái đẹp qua tác phẩm của mình – đó có thể là vẻ đẹp thẩm mỹ, vẻ đẹp tư tưởng hay vẻ đẹp nhân văn. Cái đẹp ấy vượt lên trên sự tầm thường, cái đẹp là nguồn cảm hứng và là tiếng nói riêng của người nghệ sĩ, giúp họ khẳng định giá trị và bản sắc cá nhân.
Tuy nhiên, người nghệ sĩ cũng không thể tách rời cộng đồng – nơi họ sinh sống và làm việc. Cộng đồng là nơi cung cấp chất liệu sáng tạo, là đối tượng truyền tải thông điệp, là nguồn cảm hứng và cũng là nơi tác phẩm được đón nhận. Người nghệ sĩ có trách nhiệm phản ánh, phê phán xã hội, góp phần định hướng những giá trị tích cực, đồng thời thấu hiểu, đồng cảm với cuộc sống con người. Nghệ thuật vì thế luôn mang tính xã hội và nhân văn sâu sắc.
Mối tương quan liên tục giữa cái đẹp và cộng đồng tạo nên một con đường mà người nghệ sĩ phải đi – đó là quãng đường tôi luyện bản thân không ngừng nghỉ. Họ vừa phải giữ vững lý tưởng sáng tạo, vừa phải lắng nghe, giao tiếp và đồng hành với con người và xã hội. Nếu chỉ theo đuổi cái đẹp mà quên cộng đồng, nghệ thuật sẽ trở nên hời hợt, xa rời thực tế; ngược lại, nếu chỉ chú trọng cộng đồng mà thiếu cái đẹp, nghệ thuật sẽ mất đi giá trị thẩm mỹ và chiều sâu nhân văn.
Thực tế trong văn học Việt Nam và thế giới đã có nhiều nghệ sĩ tiêu biểu sống và sáng tạo theo tinh thần này. Họ luôn hướng tới cái đẹp – cái đẹp của sự chân thực, nhân hậu và tự do; đồng thời luôn giữ mối liên hệ mật thiết với đời sống nhân dân, phản ánh những vấn đề xã hội, con người một cách sâu sắc và thuyết phục.
Như vậy, câu nói của A. Camus đã nhấn mạnh sự cân bằng cần thiết trong đời sống nghệ sĩ, giữa cá nhân và xã hội, giữa cái đẹp và trách nhiệm cộng đồng. Người nghệ sĩ không chỉ là người sáng tạo mà còn là người đồng hành, người truyền cảm hứng và người bảo vệ những giá trị cao đẹp của nhân loại.
Kết luận:
Người nghệ sĩ thực sự là người tôi luyện trong hành trình kết nối giữa chính mình và cộng đồng, giữa cái đẹp không thể bỏ qua và trách nhiệm đối với xã hội. Chỉ khi đó, nghệ thuật mới phát huy được sức mạnh và giá trị đích thực của nó.
mày đừng so sánh tao với nó\n_vì nó là chó còn tao là người\n_Mày đừng bật cười khi nghe điều đó\n_vì cả mày và nó đều chó như nhau
Phần I
Câu 1:
Văn bản tập trung vào vấn đề nghị luận bàn về niềm tin vào bản thân, nỗ lực phấn đấu không bỏ cuộc để vượt qua những khó khăn, thác ghềnh bằng tự lực để chinh phục thành công.
Câu 2:
Biện pháp ẩn dụ:"thác ghềnh, chông gai trên đường" vì tác giả so sánh những chướng ngại vật trên đường đi hàng ngày của mỗi người cũng giống như những khó khăn, gian nan trên đường đời mỗi người phải trải qua để thành công.
Câu 3:
Tác giả đưa hai dẫn chứng về Walt Disney và Helen Keller là để làm dẫn chứng thuyết phục cho vấn đề cần nghị luận của mình đó là đã có những tấm gương gặp muôn vàn khó khăn trắc trở trong cuộc sống nhưng họ không buông xuôi hay dựa dẫm vào người khác mà biết cách đứng dậy sau vấp ngã và thành công.
Câu 4:
Em đồng ý với quan điểm:"Đôi khi niềm tin chúng ta có được cũng chỉ là học từ người khác". Những người đi trước và câu chuyện xoay quanh sự thành bại của họ chính là những bài học quý báu cho người sau. Những con người đi trước và thành công sau 1 quá trình gian nan đó chính là những bằng chứng sống để người đời sau tin tưởng vào mình dù có trải qua bao thác ghềnh, chông gai.
Phần II
Có một câu chuyện ngụ ngôn mà hồi bé chúng ta hay được nghe kể về cuộc đua của rùa và thỏ, con thỏ nhanh nhẹn nhưng lại tự phụ, xem thường đối thủ,tuy con rùa chậm chạp nhưng lại nỗ lực không ngừng, kết quả ai cũng biết, con rùa đã thắng con thỏ. Xuyên suốt câu truyện Rùa và Thỏ là ý chí của con rùa, nó không đầu hàng trước những thất bại. Rõ ràng, con thỏ có năng lực nhưng ý chí lại không tốt bằng con rùa, nó vẫn có thể về đến được vách đích nhưng con rùa vẫn chiến thắng nó,đó cũng là sự biểu trưng cho quyết tâm và ý chí của con rùa . Cũng có người từng nói “ Không phải đời người quá khó khăn, mà là do bạn nỗ lực chưa đủ”. Từ câu chuyện trên và câu nói trên, chúng ta có thể thấy được ý chí đóng 1 vai trò cực kì quan trọng trong mỗi bước tiến đến con đường thành công của mỗi con người.
Sức mạnh, trí tuệ hay thiên phú chỉ góp phần nào cho sự khác biệt giữa những người thành công và những người thất bại, nhưng hơn thế nữa quyết định chủ yếu là ở ý chí. Vậy ý chí hay sự quyết tâm là gì mà nó lại đóng góp không nhỏ vào chính cuộc đời chúng ta? Ý chí, nghị lực là ý thức, tính tự giác, mạnh mẽ, quyết tâm dồn nén sức lực, trí tuệ để đạt được tiêu chí, mục đích. Ý chí cũng là phẩm chất tâm lí đặc trưng của con người, thể hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục đích, đòi hỏi phải có nỗ lực khắc phục khó khăn.Ngay từ những điều đơn giản nhất trong cuộc sống, bạn được giao một công việc trong nhiều ngày, nhưng bạn đã cố gắng, tập trung để hoàn thành trước thời hạn và nhận thêm một việc làm mới, từ đó năng suất làm việc, hiệu quả công việc và sự tin tưởng từ người giao việc cũng từ đó tăng theo. Chỉ từ một sự quyết tâm nhỏ ấy thôi mà cũng kéo theo được vô cùng nhiều giá trị và lợi ích không chỉ đối với bản than mà còn đối với những người xung quanh chúng ta. Ý chí như thôi thúc bản thân mỗi chúng ta, như tiếp thêm cho ta phần nào sức mạnh để ngày càng tới gần hơn mục tiêu đã đề ra. Câu chuyện được minh chứng bởi Thomas Edison – nhà phát minh tài ba của thế kỉ XX, hơn 10.000 lần thất bại để đem được ánh sáng đến với nhân loại, nếu không có ông thì dường như việc bóng đèn xuất hiện với thế giới sẽ bị đẩy lùi đi mười mấy năm, rõ ràng, chính ý chí quyết tâm của Edison đã khiến con đường của nền văn minh hiện đại của con người trở nên ngắn lại.
Ý chí giúp chúng ta toàn sức tập trung vào mục tiêu bằng cách ngăn cản các suy nghĩ không liên quan khác xảy đến. Điều này đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ hoàn thành công việc một cách nhanh chóng và hiểu quả. Chủ tịch Hồ chí đã nói:
“Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên”
Câu nói này càng như khẳng định vai trò quan trọng và to lớn của sức mạnh ý chỉ và quyết tâm, đáng sợ nhất không phải là những người có tài năng thiên bẩm mà là những người có nghị lực vươn lên. Ý chí rèn luyện bản thân sự quyết đoán và nhạy bén trong mọi vấn đề cuộc sống từ đó thúc đẩy hành trình của bản thân trở nên tinh gọn. Nghị lực là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với bản thân mỗi người, tuy nhiên không phải ai cũng nhận ra được giá trị cốt lõi của nó. Trái ngược với những người có ý chí là những người thờ ơ, không đủ quyết tâm, nhụt trí trước những thử thách cuộc sống. Giới trẻ bây giờ không ít người chưa làm đã vội bỏ cuộc, thấy khó khăn đã nản chí, gặp thất bại thì hủy hoại và sống bất cần đời. Những người như thế thật đáng chê trách. Là học sinh, chúng ta cần khẳng định tư cách, ý chí, nghị lực vượt qua những khó khăn thử thách .Tài năng của con người được tạo bởi nhiều yếu tố. Trong đó yếu tố tự rèn là yếu tố quan trọng nhất để đi đến thành công. Để thấy mình không thấp hơn người khác, bản thân phải có sự lao động chăm chỉ, cần cù, không chùn bước trước gian nguy, phải biết tự tin vào chính bản thân trên bước đường đời.
Nhìn chung, một lần nữa cần phải khẳng định lại giá trị của câu nói “ Ý chí tốt làm con đường ngắn lại”. Ý chí mang đến thành công và giúp ta chinh phục mọi khó khăn trên con đường gập ghềnh phía trước. Những con người thành công và nổi tiếng nhất đều là những người có ý chí rất mạnh mẽ.Vậy nên việc rèn luyện và giữ vững một ý chí kiên cường luôn là điều tất yếu trên chặng đường của cuộc đời
Câu 1: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2: Lí do để nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương đó là lời nói của ba: Nhưng ba muốn con biết rằng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành một người chính trực và biết yêu thương.”
Câu 3: Việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa:
- Khi chúng ta dạy cho con cái mình những điều tốt đẹp, chúng sẽ mang những điều tốt đẹp đó để cư xử với tất cả mọi người xung quanh và dạy dỗ thế hệ sau.
- Những điều tốt đẹp ấy sẽ lan tỏa, có sức ảnh hưởng tích cực đến muôn đời sau.
- Làm tăng ý nghĩa, tính triết lí cho văn bản.
- Làm tăng sức thuyết phục, tin cậy cho nội dung mà tác giả muốn gửi gắm.
Câu 4:
- Trong cuộc đời mỗi người luôn có nhiều người thầy nhưng cha mẹ luôn là người thầy đầu tiên của con.
- Mỗi chúng ta sẽ cảm thấy ấm áp và hạnh phúc vô cùng khi được học những điều bình dị từ chính người cha yêu quý của mình. Cha luôn là người dành cả tình yêu thương và tấm lòng bao la của tình phụ tử thiêng liêng để chỉ bảo ta trên đường đời.
- Bài học từ người thầy đầu tiên ấy là điều vô cùng quý giá, sẽ để lại dấu ấn sâu sắc và gợi nhiều kỉ niệm để nhớ về trên chặng đường sau này.
câu 1: Đoạn trích được viết theo thể thơ tự do
Câu 2: Biện pháp nghệ thuật là so sánh
Câu 3: Những câu thơ trên miêu tả rõ hình ảnh con người trước biển: dù bão dông, thiên nhiên khắc nghiệt như nào thì con người vẫn luôn lạc quan hướng về phía trước, con người vẫn bình thản, chịu đựng những đau thương, khó khăn thử thách
Câu 4: tình yêu quê hương biển cả được tác giả thể hiện qua đoạn trích: tác giả đã dành tình yêu tha thiết với que hương mình, dù có bão giông, gió lốc thì biển vẫn là nơi tìm về của những đứa con làng chài. Biển còn là nơi ông cha ta làm lên tất cả vì vậy tình yêu biển vả còn là sự biết ơn, chân trọng quá khứ.
Câu 1 : Đoạn trính trên được viết theo thể thơ : Tự do
Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng : So sánh
Câu3 :
- Hình tượng biển ( thiên nhiên ) dù bão giông,khắc nghiệt thì những con người lao động không vì thế mà sợ hãi - đó là cách con người làm chủ được thiên nhiên,coi đó chỉ như một thử thách,một lẽ thường tình của mẹ thiên nhiên,họ vẫn bình thản,bản lĩnh,kiên cường trước những đau thương mà thiiên nhiên gây ra.
- Người lao động Việt Nam mạnh mẽ,cần cù,luôn lạc quan,kiên cường vượt qua khó khăn vững bước trên mặt biển
Câu 4 :
Qua đoạn trích,có thể thấy được rõ nét nhất 2 thứ : Tình cảm sâu nặng mà tác giả dành cho biển cả quê hương và sư trân trọng công lao của ông cha ta trong quá khứ.Tình cảm của tác giả dành cho biển cả quê hương rất sâu sắc,dẫu có khắc nghiệt, khó khăn nhưng biển vẫn là nơi nuôi sống những con người Việt Nam,là nhà,là nơi ta tìm về.Đặc biệt,tình yêu không chỉ thể hiện qua sự trân trọng quá khứ, biết ơn công lao cha ông ta,phát huy lại truyền thống dân tộc,tao nên sức mạnh đoàn kết giữa người với người
câu1
Biển đảo – Nơi mà hàng triệu người đang luôn bảo vệ. Biển đảo là một phần máu thịt của Tổ quốc, vì vậy có muôn vàn trái tim ngày đêm hướng về biển đảo, dành tình yêu cho những người lính biển cùng các chiến sĩ, các lực lượng ngày đêm bảo vệ chủ quyền biển đảo nước nhà. Những tưởng biển đảo bình yên với những con sóng nhẹ xô bờ, thế nhưng những ngày tháng này cả nước vẫn đang chống chịu với cơn sóng ngầm, bão giông, sóng gió chưa bao giờ lặng im trên mảnh đất xanh của Tổ quốc … Là một học sinh, bản thân em luôn mang trong tim tình yêu biển đảo, tình yêu và lòng khâm phục tới những người lính biển, những ngư dân chân chất nơi đảo xa. Có chút chạnh lòng, xót xa, lo lắng khi biển xanh dậy sóng,… em mong rằng biển đảo sẽ bình yên, rạng rỡ nụ cuoiw
Để bảo vệ chủ quyền biển đảo, trước hết thanh niên và thanh niên học sinh nói riêng phải xác định phải giữ biển đảo bằng tri thức về chủ quyền biển đảo. Chúng ta cần nghiên cứu và nhận thức sâu sắc về ý nghĩa thiêng liêng chủ quyền biển đảo và giá trị to lớn chủ quyền mà ông cha ta đã đổ xương máu để xây dựng; về lịch sử Việt Nam đặc biệt là lịch sử địa lý liên quan đến chủ quyền biển đảo, về lịch sử hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… tìm hiểu rõ chính sách ngoại giao nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề biển Đông. Thanh niên cần hưởng ứng và tích cực tham gia các diễn đàn hợp pháp trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trên các diễn đàn, đồng thời kịch liệt lên án và đấu tranh tham gia ngăn chặn các hành vi xâm phạm phạm chủ quyền biển đảo Việt Nam. Thanh niên là hậu phương chỗ dựa tình cảm vững chắc đối với các lính biển đảo, bằng những việc làm thiết thực như gửi thư đến các lính hải đảo để chia sẻ động viên và tiếp sức cho các anh thêm nghị lực để trông giữ biển đảo. Điều quan trọng, thanh niên cần không ngừng tu dưỡng phẩm chất người Việt Nam mới, tích cực tham gia xây dựng đất nước giàu mạnh, có định hướng lý tưởng yêu nước và đoàn kết để tạo nên sức mạnh bảo vệ chủ quyền biển đảo. Bên cạnh đó, mỗi người chúng ta cần sẵn sàng chuẩn bị tinh thần tham gia trực tiếp vào công cuộc giữ gìn biển đảo quê hương bằng tất cả những gì mình có thể.
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của Tổ quốc được cha ông truyền lại. Trách nhiệm của tuổi trẻ nói riêng là ra sức gìn giữ toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước
Câu 2
Truyện ngắn “ Vợ nhặt” của Kim Lân được sáng tác sau cách mạng tháng Tám nhưng lấy bối cảnh là nạn đói năm 1945. Đặt trong bối cảnh ra đời của tác phẩm, nhà văn đã làm toát lên tấm long yêu thương, đùm bọc lẫn nhau và khát vọng hạnh phúc của những người người khổ. Vẻ đẹp nhân bản ấy được tác giả xây dựng thành công ở hình tượng nhân vật “bà cụ Tứ” – mẹ anh Tràng- người “nhặt vợ”.Bà cụ Tứ trước hết là người mẹ nghèo khổ đã già yếu với cái lưng “long khòng”, khẽ mắt “lèm nhèm “,”khuôn mặt bủng beo, u ám “. Những hành động cử chỉ của cụ “nhấp nháy hai con mắt”,”chậm chạp hỏi”, “lập cập bước đi”, “lật đật:, “lễ mễ” cũng thể hiện cụ là một người đã già, không còn khỏe mạnh. Hơn nữa người phụ nữ ấy còn bị đặt trong hoàn cảnh nghèo nàn, đói khổ mà cụ nói “ cuộc đời cực khổ dài đằng đẵng”.
Trong tác phẩm, bà cụ Tứ chỉ xuất hiện ở giữa truyện khi anh Tràng đưa vợ về nhà, nhưng nhân vật này vẫn thu hút được sự quan tâm của người đọc bởi những vẻ đẹp tâm hồn, tính cách.
Trong người mẹ già nua, đói khổ ấy có một tình yêu thương dành cho con cái sâu sắc. Cụ thương người con trai của mình “cảm thấy ai oán xót thương cho số phận đứa con mình”. Trong kẽ mắt kèm nhàm của cụ rỉ ra hai dòng nước mắt. Cụ đã sớm lo lắng cho cuộc sống tương lai của đứa con mình” không biết chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua cơn đói này không”. Bà còn dành tình yêu thương cho người con dâu mới của mình. Bà nhìn thị nghĩ :”Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này người ta mới lấy con mình, con mình mới có vợ được”. Đó là tấm lòng người mẹ không khinh rẻ mà tỏ ra thông cảm thấu hiểu hoàn cảnh con dâu, thậm chí bà còn cho đó là may mắn của con trai mình, gia đình mình khi có con dâu mới. Điều đo chứng tỏ bà cụ Tứ rất hiểu mình, hiểu người. Tình yêu thương còn thể hiên qua những lời nói của bà cụ dành cho con “Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi may ra ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?…". Bà nói với con dâu bằng lời của một người từng trải – vừa lo lắng, vừa thương xót, đồng thời động viên con bằng triết lý dân gian”ai giàu ba họ ai khó ba đời, hướng con tới tương lai tươi sáng. "… Năm nay thì đói to đấy. Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá…". Câu nói thể hiện tấm long thương xót cho số phận của những đứa con. Và để ngày vui của các con thêm trọn vẹn, sáng hôm sau cụ” xăm xắn quét tước nhà cửa”. Hành động giản dị thôi nhưng thể hiện tấm lòng người mẹ tuy nghèo nhưng hết lòng thương yêu con. Và thế là đám cưới không nghi lễ, không đón đưa của đôi vợ chồng trẻ được chan đầy bằng tình yêu thương và tấm long lo lắng của người mẹ nghèo.
Nhân vật bà cụ Tứ bị đặt trong hoàn cảnh éo le, qua đó ta thấy được tinh thần lạc quan của người mẹ già yếu, tuy sắp đến độ gần đất xa trời nhưng luôn hướng về tương lai thể hiện qua những hành động và lời nói. Cụ tin vào triết lý dân gian: ai giàu ba họ ai khó ba đời- lạc quan về một ngày mai tươi sáng.Cụ đồng tình khi thấy Tràng thắp đèn mặc dù cụ biết lúc đó dầu rất đắt, dầu là thứ xa xỉ. Nếu để ý ta sẽ thấy chính bà lão “gần đất xa trời”này lại là người nói về tương lai nhiều nhất” cụ nói toàn chuyện vui, chuyện sung sướng về sau. Đó không đơn thuần chỉ là niềm lạc quan của người lao động mà còn là ước mơ về cuộc sống có phần tươi sáng hơn cho các con. Bà cụ trông cũng” tươi tỉnh khác hẳn ngày thường”. Chính tâm trạng vui tươi phấn khởi của người mẹ già đã làm sáng lên cái không gian u ám và góp phần vào ngày vui trọng đại của cuộc đời người con trai. Sáng hôm sau cụ xăm xắn quét dọn nhà cửa, đó là những công việc sinh hoạt thường ngày nhưng đặt trong hoàn cảnh này, hành động quét dọn làm nhà cửa trông sạch sẽ, tinh tươm hơn giống như cụ đang muốn tự tay quét đi những tăm tối của ngày cũ và đón chờ những điều tươi sáng hơn. Và hình ảnh người mẹ già, cười đon đả: “Cám đây mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà chả có cám mà ăn đấy", cứ quẩn quanh, ám ảnh tâm chí người đọc. Cái lạc quan không những không bị mất đi mà lại càng trở nên mãnh liệt hơn trong mưa nắng cuộc đời. Trong buổi sáng đầu tiên đón tiếp nang dâu mới, nồi cháo cám “ chát xít, nghẹn bứ trong miệng” mà ngon ngọt trong long, ngọt bởi tâm lòng người mẹ nghèo đang cố xua đi cái không khí ảm đạm bằng thái độ lạc quan và sự tươi tỉnh động viên con cố gắng vượt qua hoàn cảnh. Nhưng sự thật là vị đắng ngắt của cháo cám và tiếng thúc thuế từ xa vọng lại đã không làm niềm vui nhỏ của những con người nghèo khổ cất cánh lên được.
Bằng tài năng và tấm lòng đồng cảm sâu sắc, Kim Lân đã dựng lên “hình ảnh chân thật và cảm động về người mẹ nông dân nghèo khổ trong trận đói khủng khiếp năm 1945". Nhân vật bà cụ Tứ được khắc họa chủ yếu qua sự vận động trong nội tâm nhân vật. Ngoài ra, qua những lời nói, cử chủ, hành động của nhân vật ta cũng có thể cảm nhận được tấm lòng yêu thương con sâu sắc. Ở bà cụ Tứ thấp thoáng hình ảnh của nhân vật lão Hạc, của mẹ Dần, vợ chồng Dần ( Nam Cao) những người nông dân nghèo nhưng chỉ sống vì con, hết lòng yêu thương con. Dẫu chỉ là một nhân vật phụ nhưng bằng tài năng, và tình cảm thiết tha trừu mến đối với tấm lòng người mẹ nghèo, Kim Lân đã khắc họa được chân dung nhân vật vừa sinh động, chân thực, vừa cảm động, day dứt với người đọc. Chính những hành động, lời nói của cụ, nụ cười trên khuôn mặt bủng beo u ám đã làm sáng bừng thiên truyện sau cái tối tăm, cái bế tắc của đói nghèo. Ý nghĩa nhân bản mà nhà văn muốn gửi gắm qua nhân vật này là con người dù có đặt vào hoàn cảnh khốn cùng, cận kề cái chết nhưng vẫn không mất đi những giá trị tinh thần và phẩm chất tốt đẹp: lòng yêu thương con người và thái độ lạc quan hi vọng vào tương lai tươi sáng dù cho chỉ có một tia hi vọng mỏng manh. Kim Lân đã khám phá và thể hiện thành công điều đó ở nhân vật bà cụ Tứ. qua đó thể hiện rõ tấm lòng nhân hậu , bao dung, tình yêu thương con của bà cụ Tứ
Vợ nhặt của Kim Lân là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam hiện đại khi viết về chủ đề người nông dân dưới xã hội cũ, đặc biệt là trong giai đoạn đau thương nhất của đất nước. Tuy nhiên trong tác phẩm nội dung chính mà tác giả muốn đề cập đến không phải là phản ánh, tố cáo hiện thực mà là tấm lòng trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp trong tâm hồn con người, cùng với sức mạnh của tình người, tình thân trong gia định đã trở thành cơ sở cho những khát vọng sống, niềm hy vọng và tin tưởng vào tương lai mãnh liệt ngay trong những hoàn cảnh khốn cùng nhất. Bên cạnh hai nhân vật là Tràng và thị với những nét phẩm chất riêng, thì nhân vật cụ Tứ lại hiện lên với vẻ đẹp của tình mẫu tử, thương con sâu sắc.
Giữa nạn đói hoành hành năm 1945, hàng triệu đồng bào ta phải chịu chết đói, nhiều người phải lìa xa quê cha đất tổ đi tha hương cầu thực nơi xứ người, mẹ con bà cụ Tứ là một trong số đó. Bà cụ là một phụ nữ nông dân nghèo khổ, có lẽ rằng cả cuộc đời bà đã phải chịu nhiều đắng cay vất vả, bởi lẽ cả cuộc đời bà nằm trọn trong những ngày tháng đất nước chất chứa nhiều đau thương, lầm than dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Cả cuộc đời bà dành để kiếm từng đồng, từng hào chắt bóp nuôi con khôn lớn, cho đến khi tuổi đã gần đất xa trời, bà cụ tội nghiệp vẫn không được hưởng những ngày tháng sung sướng. Thay vào đó cụ vì già cả, ốm yếu phải sống dựa vào đứa con trai là anh Tràng với một công việc bấp bênh, bữa đói bữa no, và bên ngoài kia thần chết đang chực chờ những con người khốn khổ, cùng đường vì cái đói, trong đó có cả hai mẹ con bà cụ Tứ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy tình mẫu tử của bà cụ lại càng hiện lên rõ rệt, cả đời làm lụng nuôi con khôn lớn, đến khi Tràng đã lớn khôn thì bà cụ lại sầu khổ vì không kiếm nổi cho con một tấm vợ, một người đàn bà đỡ đần hôm sớm. Tất cả chỉ tại bà nghèo quá, người ta cưới vợ khi có của ăn của để, khi ăn nên làm ra, còn bà lại chẳng có gì trong tay thành thử phải tội con bà cô đơn lẻ bóng. Mà có khi đến lúc mà mất đi thì đứa con trai tội nghiệp lại phải chịu cảnh côi cút một mình trên đời. Điều ấy làm bà cụ Tứ tủi phận nhiều lắm.
Cho đến một hôm thấy Tràng dẫn một người phụ nữ lạ mặt về nhà, trong lòng bà cụ nổi lên biết bao nhiêu là cớ sự thắc mắc, thế nhưng bà không hề tỏ ra bối rối mà quay sang nhìn con tỏ ý không hiểu, để chờ Tràng giải thích, để cho Tràng có cơ hội được phân trần câu chuyện, chứ không lên tiếng trách móc. Đó là tấm lòng của một người mẹ trải đời, thương con bằng một tình thương dịu dàng, săn sóc. Rồi đến khi đã rõ sự mười mươi, bà cụ "hiểu ra bao nhiêu là cớ sự" rồi thì bà im lặng, những dòng suy nghĩ chảy trôi, quẩn quanh liên tục bên ngoài cái sự việc con bà lấy vợ, một người vợ theo không. Nhưng không chần chừ quá lâu, bà cụ Tứ đã sống trên cuộc đời này ngót nghét vài chục năm trời đằng đẵng, có cái khổ, cái sự lạ nào mà bà không hiểu thấu. Đứng trên vai trò là một người mẹ có tấm lòng thương con sâu sắc, bà hiểu được chuyện anh Tràng lấy vợ âu cũng là chuyện hợp tình hợp lý, bởi Tràng đã đến cái tuổi ấy lâu lắm rồi. Thế nhưng vừa nghĩ thông chuyện này thì bà cụ lại chợt nghĩ đến chuyện khác, bao nhiêu mối lo toan bỗng đổ dồn về lòng người mẹ già tội nghiệp, bà thương con "ai oán xót thương cho số kiếp con trai mình", cũng lại tủi cho phận người làm mẹ, nhưng không thể lo nổi cho con một cái đám cưới, dựng vợ gả chồng tử tế cho con, để nó phải tự thân đi kiếm về một người vợ. Càng nghĩ bà lại càng lấy làm buồn lòng, xúc động "trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai hàng nước mắt". Ấy rồi ăn ở với nhau như thế "biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau qua cơn đói khát này không", là những suy nghĩ quẩn quanh trong lòng bà cụ Tứ. Một người mẹ thương con không nề hà, trách mắng con mình tự tiện cưới gả, bởi bà hiểu phận mình và phận con, bà chỉ lo lắng mãi chuyện cuộc sống tương lai của hai vợ chồng Tràng, sợ con chịu khổ cực, rồi đương không lại liên lụy cả người khác nữa. Cái đám cưới chớp nhoáng khác thường này đem đến cho cụ niềm vui có dâu con, nhưng cũng lại mang đến cho bà biết bao nhiêu trăn trở, rối rắm. u cũng là lòng người mẹ yêu thương và suy nghĩ cho con trăm bề. Cuối cùng sau khi đã đi qua những xúc động, buồn tủi, bà cụ Tứ đã nhanh chóng vực lại tinh thần, thông suốt mọi vấn đề rằng "Người ta có gặp bước khó khăn đói khổ này, người ta mấy lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được. Thôi bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con...Chẳng may ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được?". Bà nhanh chóng thấu hiểu và thông cảm cho hoàn cảnh đáng thương của thị, đồng thời lòng bà đã dấy lên những tình cảm thương yêu người con dâu mới về. Bà nhẹ nhàng giục thị ngồi xuống, rồi nhỏ nhẹ khuyên giải, nhắc nhở động viên, vun vén vào cho hai vợ chồng Tràng, dặn dò họ cách ăn ở với nhau bằng những lời phấn khởi "Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời?". Mặc dầu rằng trong lòng bà vẫn còn trăm mối tơ vò cảm xúc, nhưng không vì thế mà bà làm các con bối rối, mất vui, bà quyết giữ cho riêng bà những lo lắng, những buồn tủi để cho đôi tân nhân một sự động viên trước khi bước vào cuộc đời mới.
Sau đêm tân hôn của vợ chồng Tràng, căn nhà tàn tạ dưới đôi bàn tay của mẹ chồng nàng dâu bỗng trở nên sáng sủa lạ thường, thấy được những đức tính tốt đẹp, sự cẩn thận chu đáo của thị và cụ mừng lắm "cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Trong bữa cơm sáng, dẫu rằng mâm cơm ngày đói kém trông thật thảm hại với mớ rau chuối thái mỏng và cháo loãng thế nhưng không khí trong nhà vẫn rất vui vẻ đầm ấm. Bà cụ thương con, thương dâu, thành thử bà cố xua đi cái nghèo đói đang hiện hữu trước mắt cặp tân nhân bằng cách liên tục kể những chuyện vui, kế hoạch làm ăn, nuôi gà, mở ra trước mắt những tương lai tốt đẹp đầy hy vọng. Đặc biệt người mẹ nghèo khó còn chiêu đãi con trai và con dâu bằng một nồi "chè khoán", mà thực tế đó là là cháo cám để mừng tân hôn. Dù vị của món ăn này vô cùng cùng khó ăn thế nhưng đó là cả tấm lòng của một người mẹ thương con, bà cụ tội nghiệp vì nghèo xác xơ không lấy gì để làm cỗ làm bàn, thế nên chỉ còn cách cố kiếm cho được ít cám về nấu làm món ăn đổi bữa. Ở một nét suy diễn sâu xa nào đó thì nồi cháo cám còn mang ý nghĩa là lời nhắc nhở của cụ Tứ dành cho các con về những ngày gian khó đang chờ đợi trước mắt, hy vọng rằng vợ chồng Tràng vẫn được vững lòng như ngày hôm nay, ăn nồi cháo cám đắng ghét, nghẹn ứ nơi cổ họng mà vẫn cảm thấy vui vẻ hạnh phúc.
Nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm Vợ nhặt là một hình tượng tiêu biểu cho những bà mẹ Việt Nam xưa, cả cuộc đời hy sinh sinh vì con cái, yêu thương con sâu sắc bằng những tình cảm thấu hiểu, bao dung và vị tha. Dù rằng bà sống trong cảnh nghèo khó tột cùng, thế nhưng với sự từng trải của mình bà vẫn giành lấy được những sự lạc quan, vui vẻ trong cuộc sống, trở thành kim chỉ nam hướng vợ chồng Tràng đến một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.
Dưới đây là gợi ý trả lời cho các câu hỏi đọc hiểu dựa trên đoạn trích từ tác phẩm Nếu biết trăm năm là hữu hạn của Phạm Lữ Ân:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
- Phương thức biểu đạt chính: Tự sự kết hợp với nghị luận.
- Đoạn trích kể lại câu chuyện về lời dạy của ba dành cho nhân vật "tôi" (tự sự), đồng thời thể hiện quan điểm, suy nghĩ về giá trị của sự chính trực và tình yêu thương (nghị luận).
Câu 2: Vì sao nhân vật tôi muốn trở thành một người chính trực và biết yêu thương?
- Nhân vật "tôi" muốn trở thành người chính trực và biết yêu thương vì ba mẹ đã dạy rằng dù con có sai lầm, ba mẹ vẫn yêu thương con vô điều kiện.
- Nhưng ba mẹ sẽ rất hạnh phúc và tự hào nếu con trở thành người chính trực và biết yêu thương.
- Lời dạy đó là động lực và lí do duy nhất để nhân vật "tôi" quyết tâm trở thành người như vậy.
Câu 3: Theo em, việc tác giả trích câu “Khi ngươi dạy con trai mình, tức là ngươi dạy con trai của con trai ngươi.” trong Kinh Talmud có ý nghĩa gì?
- Câu trích nhấn mạnh tính liên tục của việc giáo dục và truyền lại giá trị đạo đức qua các thế hệ.
- Việc dạy con không chỉ ảnh hưởng đến con cái mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ tiếp theo (cháu chắt).
- Điều này thể hiện trách nhiệm và tầm quan trọng của việc giáo dục con cái trong gia đình.
Câu 4: Em rút ra được thông điệp gì từ những câu văn sau:
“Ai cũng có thể dạy một cậu con trai mới lớn lái xe hoặc mở bugi bị ướt ra lau khi đi qua quãng đường ngập nước. Nhưng thật đặc biệt khi cậu học những điều đó từ chính cha mình.”
- Thông điệp:
- Sự học hỏi từ người thân, đặc biệt là từ cha mẹ, có ý nghĩa sâu sắc và đặc biệt hơn so với việc học từ người khác.
- Những bài học đời thường, kỹ năng sống khi được truyền đạt từ người thân yêu mang giá trị tinh thần và tình cảm lớn lao.
- Mối quan hệ gắn bó, sự tin tưởng và tình cảm gia đình làm cho việc học trở nên ý nghĩa và đáng trân trọng hơn.
Nếu bạn cần mình giải thích thêm hoặc hỗ trợ làm bài tập khác, cứ hỏi nhé!
1 | Thể thơ: tự do |
2 | Hai hình ảnh nói đến sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi biển đảo: - Gió rát mặt, Đá củ đậu bay, Nước ngọt hiếm… (Thí sinh chỉ ra đúng 2 hình ảnh được 0.5 điểm). |
3 | Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau. Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa: - Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…) - Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời. |
4 | - Tác giả thể hiện sự đồng cảm, chia sẻ với cuộc sống của những người lính đảo. - Đồng thời cho thấy sự trân trọng những phẩm chất đáng quý: tinh thần lạc quan, ý chí nghị lực phi thường và tình yêu tổ quốc. -> Nhận xét về tình cảm: - Đây là những tình cảm chân thành, thể hiện trái tim yêu thương tinh tế, sâu sắc của tác giả. - Tình cảm của tác giả cũng là đại diện cho tất cả những người dân Việt Nam dành tình yêu thương, sự cảm phục gửi đến những người lính nơi đảo xa. |
Câu 1 :thể thơ tự do
Câu 2: Những hình ảnh thể hiện cho sự gian khó ở Trường Sa: đá san hô kê lên thành sân khấu, vài tấm tôn chôn mấy cánh gà, gió rát mặt, đảo thay hình dáng, sỏi cát bay như lũ chim hoang.
Câu 3:
Nước ngọt hiếm, không lẽ dành gội tóc
Lính trẻ, lính già đều trọc tếu như nhau.
Hai dòng thơ trên cho thấy cuộc sống của người lính nơi đảo xa:
- Đó là cuộc sống vô cùng khó khăn, gian khổ, mà người lính thường xuyên phải đối diện (gió bão, thiếu thốn…)
- Tuy nhiên những người lính vẫn lạc quan, yêu đời.
Câu 4 :Đoạn thơ trích trong bài "Lính đảo hát tình ca trên đảo" của tác giả Trần Đăng Khoa đã khẳng định được tinh thần lạc quan, tươi trẻ của những người lính hải đảo nơi Trường Sa khắc nghiệt cùng tinh thần yêu nước, hướng về tổ quốc của họ. Thật vậy, hình ảnh những người lính hải đảo hiện lên với tầm vóc vĩ đại và tình yêu bất biến dành cho tổ quốc. Đầu tiên, họ là những người lính bất chấp những khó khăn gian khổ để hoàn thành tốt công việc. Điều kiện ở Trường Sa vô cùng khó khăn và khắc nghiệt: gió rát mặt, đảo thay đổi hình dạng, sỏi cát bay như lũ chim hoang. Ở nơi biển đảo hẻo lánh ấy, những người lính hải quân vẫn hiên ngang và cất lên bài hát của tuổi trẻ. Không những có phẩm chất kiên cường mà ta còn thấy được tinh thần tươi trẻ và yêu đời của những người lính ấy. Thứ hai, họ là những người lính khát khao cống hiến cho tổ quốc. Tình yêu của họ được gửi gắm vào lời hát và tiếng lòng của trái tim "Nào hát lên". Tình yêu ấy là động lực để họ "đứng vững" trước những khó khăn và họ còn muốn hát lên cho trời đất, mây nước biết. Tổ quốc đối với những người lính trẻ là thiêng liêng và vĩnh hằng biết nhường nào. Tóm lại, đoạn thơ cho ta thấy được phong thái yêu đời cùng tình yêu tổ quốc của những người lính hải đảo ấy.
1, nghị luận
2, Tác dụng: nhấn mạnh thông điệp mà văn bản muốn truyền đạt đó là vai trò của hy vọng đối với đời sống tinh thần của mỗi con người.
3,
Tác giả cho rằng "hy vọng duy trì cuộc sống của chúng ta mà không có gì có thể thay thế được" bởi vì hy vọng chính là những niềm tin vào những giá trị tốt đẹp trong cuộc sống, là những niềm tin vững chắc vào những điều tuyệt vời sẽ xảy ra. Chính vì vậy, nhờ có hy vọng mà con người dù trong hoàn cảnh tồi tệ và tối tăm nhất vẫn sẽ luôn vững tin và có sức mạnh để tiếp tục nỗ lực và vượt qua được những thử thách chông gai. Nói cách khác, hy vọng chính là nguồn sức mạnh tinh thần của mỗi người trong cuộc sống.
4,
Thông điệp mà em tâm đắc nhất chính là "đừng bao giờ đánh mất hy vọng". Bởi vì hy vọng chính là nguồn sức mạnh giúp mỗi cá nhân vượt qua những thử thách, chông gai và mở ra con đường cho mỗi người định hướng trong tương lai. Nhờ có hy vọng mà con người vẫn tích cực và hạnh phúc sống dù trong hoàn cảnh bế tắc vì còn hy vọng là còn sức mạnh tinh thần để đạt được điều mà mình mong muốn.
câu 1: số câu chữ không bằng nhau, vần điệu không giống nhau, bài thơ viết theo thể thơ tự do
câu 2: được so sánh với hình ảnh lời ru của bà
câu 3: tác dụng: giúp cho bài thơ thêm nhiều hình ảnh về người bà, lamf cho người đọc thích thú
câu 4: qua những hình ảnh đó cho thấy nhân vật tôi rất quý trọng từng hạt gạo óng ánh mà tổ tiên đã gieo nên bằng mồ hôi công sức của mình.
qua đó cho thấy nhân vật tôi đã biết quý trọng và biết ơn tổ tiên của mình
câu 5: qua bài thơ trên tôi đã hiểu ra một điều rằng phải biết quý trọng từng hạt gạo mà các bác các cô nông dân đã gieo trồng bằng mồ hôi công sức mới có từng hạt gạo để chúng ta ăn. biết quý trọng, biết ơn đến tổ tiên đã để lại cho ta nhiều cái.
Câu 1
Bài thơ sử dụng thể thơ tự do
Dấu hiệu :số tiếng trong các dòng thơ khác nhau
Câu1:
Thể thơ:tự do
Xác định dấu hiệu nhận biết: số chữ trong mỗi dòng thơ kh bằng nhau
- Thể thơ: Tự do (số chữ trong các dòng thơ không bằng nhau, câu dài câu ngắn linh hoạt).
- Dấu hiệu: Số chữ trong mỗi dòng không tuân theo quy tắc cố định (ví dụ: dòng 16 chữ, dòng 10 chữ, dòng 6 chữ...), nhịp điệu tự do theo mạch cảm xúc của tác giả.
Câu 2. Hình ảnh so sánh:- Hình ảnh được dùng để so sánh với "từng hạt gạo ngọt thơm" ở khổ thơ đầu tiên là: "lời ru của bà".
Câu 3. Tác dụng của phép tu từ liệt kê:- Liệt kê: "bám sâu vào đất", "mọc rễ vào đồng ruộng", "se sẽ hát ru gọi lúa trố đòng" (trong ngữ cảnh hồn bà lan tỏa).
- Tác dụng:
- Nội dung: Khắc họa hình ảnh người bà đã hóa thân vào thiên nhiên, đất đai, trở thành một phần bất tử của ruộng đồng quê hương. Thể hiện sự gắn kết thiêng liêng giữa con người đã khuất với sự sống hiện tại.
- Nghệ thuật: Làm cho câu thơ thêm sinh động, gợi cảm, nhấn mạnh nỗi xúc động nghẹn ngào và sự biết ơn sâu sắc của nhân vật "tôi".
Câu 4. Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật "tôi":- Sự trân trọng, biết ơn: Nhân vật "tôi" nâng niu từng hạt gạo, nhận ra đó là thành quả lao động ("mồ hôi") và tình yêu thương ("lời ru") của tổ tiên, của bà.
- Sự thấu hiểu, đồng cảm: Cảm nhận được sự hy sinh thầm lặng của thế hệ trước (bà chết trong trận đói năm 45, cha cay đắng 65 năm).
- Tình yêu quê hương, gốc rễ: Cảm giác gắn kết, tri ân sâu sắc khi nhận ra sự hiện diện của tổ tiên ngay trong bát cơm hàng ngày.
Câu 5. Thông điệp rút ra:Thông điệp sâu sắc nhất đối với em là sự biết ơn sâu sắc đối với những người đi trước và trân trọng giá trị lao động, cuộc sống hòa bình hôm nay. Bởi vì, mỗi hạt gạo chúng ta ăn hàng ngày không chỉ là lương thực, mà nó kết tinh từ mồ hôi, xương máu và tình yêu thương của bao thế hệ tổ tiên, cha ông đã ngã xuống và vun đắp cho đất mẹ. Bài thơ nhắc nhở chúng ta không bao giờ được phép quên đi cội nguồn, "uống nước nhớ nguồn" và phải sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh cao cả đó, luôn giữ vững tâm hồn gắn bó với quê hương.
Câu 1.
Dấu hiệu xác định thể thơ:
Câu 2.
Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3.
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê:
+ Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà. Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thế hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
câu 4
Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ:
Câu 5.
Câu 1 : thể thơ tự do
- số chữ trong mỗi dòng thơ không bằng nhau
Câu 2 :
- hình ảnh được so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu là :
“ lời ru của bà“
Câu 3:
- biện pháp tu từ liệt kê
- dấu hiệu : hồn bà lan toả, bám sâu vào đâts, mọc dễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru goik lúa trổ đòng
- gias Trị về mặt dung : thể hiện tình cảm về mặt sâu sắc , niềm xúc động của nhân vật tôi đứng trước cánh đồng , đứng trước mộ bà . Nhân vật trữ tình cảm nhận được linh hồn bà gắn bó với cánh đồng , với từng cây lúa nuooi con khôn lớn . Qua đó thể hiện tình yêu thương , lòng biết ơn trận trọng của nhân vật trữ tình dành cho bà
- giá trị về mặt nghê thuật: tăng sucw gợi hình gợi cảm , làm cho câu văn trở nên sinh động và tạo liên kết hài hòa giữa các câu ,các ý với nhau
Câu 4:
Suy nghĩ tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ là :
Suy nghĩ sâu sắc nhận ra là tạo mỗi hạt gạo làm nên bát cơm trên tay hôm nay là kết tinh bao mồ hôi công sức của thủy tiên kết tinh bao yêu thương của bài trong lời ru
-Tình cảm: nhân vật tôi thể hiện sự trân trọng biết ơn sâu sắc đối với tổ tiên tình yêu thương đối với bà
Câu 5:
Hiện tại luôn được xây từ quá khứ cuộc sống ấm no trong hiện tại của mỗi cá nhân mỗi cộng đồng đều có được những thế hệ đi trước vất vả xây dựng vì vậy nhìn nhận vì trong hiện cần có thái độ trân quý biết ơn với những người đi trước vì quá khứ một người sẽ trở thành được sự khi hiện tại và thấy quá khứ biết trân trọng những gì đang được hưởng thụ và biết ơnbiết nhớ về tổ tiên gắn bó với gia đình đặc biệt là thế hệ đi trước ,…
Câu 1 : thể thơ tự do
- số chữ trong mỗi dòng thơ không bằng nhau
Câu 2 :
- hình ảnh được so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu là :
“ lời ru của bà“
Câu 3:
- biện pháp tu từ liệt kê
- dấu hiệu : hồn bà lan toả, bám sâu vào đâts, mọc dễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru goik lúa trổ đòng
- gias Trị về mặt dung : thể hiện tình cảm về mặt sâu sắc , niềm xúc động của nhân vật tôi đứng trước cánh đồng , đứng trước mộ bà . Nhân vật trữ tình cảm nhận được linh hồn bà gắn bó với cánh đồng , với từng cây lúa nuooi con khôn lớn . Qua đó thể hiện tình yêu thương , lòng biết ơn trận trọng của nhân vật trữ tình dành cho bà
- giá trị về mặt nghê thuật: tăng sucw gợi hình gợi cảm , làm cho câu văn trở nên sinh động và tạo liên kết hài hòa giữa các câu ,các ý với nhau
Câu 4:
Suy nghĩ tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ là :
Suy nghĩ sâu sắc nhận ra là tạo mỗi hạt gạo làm nên bát cơm trên tay hôm nay là kết tinh bao mồ hôi công sức của thủy tiên kết tinh bao yêu thương của bài trong lời ru
-Tình cảm: nhân vật tôi thể hiện sự trân trọng biết ơn sâu sắc đối với tổ tiên tình yêu thương đối với bà
Câu 5:
Hiện tại luôn được xây từ quá khứ cuộc sống ấm no trong hiện tại của mỗi cá nhân mỗi cộng đồng đều có được những thế hệ đi trước vất vả xây dựng vì vậy nhìn nhận vì trong hiện cần có thái độ trân quý biết ơn với những người đi trước vì quá khứ một người sẽ trở thành được sự khi hiện tại và thấy quá khứ biết trân trọng những gì đang được hưởng thụ và biết ơnbiết nhớ về tổ tiên gắn bó với gia đình đặc biệt là thế hệ đi trước ,…
xác định đây là thể thơ tự do. Các dòng thơ không bị gò bó về số tiếng, vần điệu hay nhịp điệu.
Câu 2. Hình ảnh so sánh với từng hạt gạo Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm là:- Mồ hôi của những tổ tiên: Thể hiện sự vất vả, cực nhọc của thế hệ đi trước để tạo ra thành quả lao động.
- Lời ru của bà: Tượng trưng cho tình yêu thương, giá trị tinh thần nuôi dưỡng tâm hồn con người.
Câu 3. Tác dụng của phép tu từ liệt kê- Biểu hiện: Liệt kê các hành động, trạng thái như "gắn chặt vào bùn", "lan tỏa", "bám sâu vào đất", "mọc rễ vào đồng ruộng".
- Tác dụng:
- Nhấn mạnh sự gắn kết bền chặt, không thể tách rời giữa con người (nhân vật "tôi") với mảnh đất quê hương, với cội nguồn và tổ tiên.
- Gợi tả sức sống mãnh liệt, sự tiếp nối thiêng liêng giữa các thế hệ.
- Làm cho lời thơ giàu sức biểu cảm và nhịp điệu sâu lắng.
Câu 4. Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật "tôi" Qua các câu thơ, nhân vật "tôi" thể hiện Sự trân trọng, nâng niu: Hành động "nâng bát cơm", "đếm từng hạt gạo" cho thấy thái độ biết ơn sâu sắc đối với những giá trị bình dị.Sự thấu hiểu và biết ơn: Nhận ra trong mỗi hạt gạo là sự hy sinh xương máu, mồ hôi của tổ tiên và tình yêu thương của người thân.Ý thức về cội nguồn: Nhân vật "tôi" luôn hướng về quá khứ với tấm lòng thành kính nhất. Câu 5. Thông điệp sâu sắc nhấtHãy biết trân trọng những giá trị lao động và sống với lòng biết ơn nguồn cội.Cuộc sống hiện đại dễ làm con người quên đi những nhọc nhằn phía sau những vật chất đời thường (như bát cơm ta ăn hàng ngày).Lòng biết ơn không chỉ giúp con người sống tử tế hơn mà còn là sợi dây kết nối chúng ta với truyền thống gia đình, dân tộc.Khi hiểu được giá trị của "mồ hôi" và "lời ru", chúng ta sẽ có trách nhiệm hơn trong việc giữ gìn và phát huy những giá trị mà cha ông đã để lại.
Đọc hiểu văn bản - Nguyễn Phan Quế Mai
Câu 1: Dấu hiệu xác định thể thơ
Thể thơ: Tự do.
Dấu hiệu:
1. Số chữ trong các dòng không đều nhau: có dòng 2 chữ "Ngoài kia", có dòng 10-11 chữ.
2. Không có sự ràng buộc về vần, nhịp, đối. Nhịp thơ biến đổi linh hoạt theo cảm xúc: "65 năm sau, hương hồn tổ tiên dẫn cha và tôi / đứng trước mộ bà".
Câu 2: Hình ảnh so sánh với "từng hạt gạo ngọt thơm"
Hình ảnh so sánh: "Từng hạt óng ánh mồ hôi của những tổ tiên tôi còng lưng gieo gặt" và "Từng hạt óng ánh thơm lời ru của bà tôi đơm lên từ lòng đất".
Ý nghĩa: Tác giả không chỉ thấy hạt gạo là sản vật vật chất. Hạt gạo được so sánh với mồ hôi tổ tiên và lời ru của bà, nghĩa là mỗi hạt gạo kết tinh cả công sức lao động nhọc nhằn và tình cảm, văn hóa của bao thế hệ.
Câu 3: Tác dụng phép liệt kê
Các cụm liệt kê: "hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng".
Tác dụng:
1. Về nội dung: Phép liệt kê diễn tả sự hòa quyện tuyệt đối của người bà với đất đai, quê hương. Bà không mất đi mà hóa thân thành đất, thành hồn vía của ruộng đồng. Các động từ "lan toả", "bám sâu", "mọc rễ" tăng tiến, khẳng định sự gắn bó vĩnh cửu, bền chặt.
2. Về nghệ thuật: Tạo nhịp thơ dồn dập, sâu lắng, khắc họa hình tượng người bà vừa gần gũi vừa thiêng liêng, bất tử cùng đất đai.
Câu 4: Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật "tôi"
Qua những câu thơ, nhân vật "tôi" thể hiện 3 tầng cảm xúc:
Sự biết ơn, trân trọng: "Nâng bát cơm trên tay, tôi đếm từng hạt gạo". Hành động "đếm" không phải để ăn, mà để chiêm nghiệm, để tri ân công sức kết tinh trong đó.
Nỗi xót xa, thương cảm: "Từng hạt óng ánh mồ hôi... còng lưng gieo gặt" cho thấy "tôi" thấu hiểu nỗi nhọc nhằn, lam lũ của tổ tiên. Hạt gạo óng ánh mà mặn chát vị mồ hôi.
Niềm thành kính, gắn bó cội nguồn: "Từng hạt óng ánh thơm lời ru của bà... đơm lên từ lòng đất" cho thấy với "tôi", ăn một bát cơm là ăn cả văn hóa, cả lời ru, cả hồn cốt quê hương. Tình cảm ấy khiến "hai chân tôi gắn chặt vào bùn" như một sự tự nguyện.
Câu 5: Thông điệp sâu sắc nhất (7-8 dòng)
Thông điệp sâu sắc nhất với tôi là: Phải biết cúi xuống để nâng hạt gạo trên tay bằng tất cả lòng biết ơn cội nguồn. Bài thơ nhắc ta rằng bát cơm ta ăn hôm nay không tự nhiên mà có. Nó là mồ hôi của tổ tiên "còng lưng gieo gặt", là lời ru của bà "đơm lên từ lòng đất", là cả nỗi đau "Trận đói năm bốn lăm". Tôi chọn thông điệp này vì trong xã hội đủ đầy, con người dễ lãng quên giá trị của những điều bình dị. Biết ơn hạt gạo chính là biết ơn quá khứ, biết ơn người đã khuất, để từ đó sống có trách nhiệm hơn. Khi "hai chân gắn chặt vào bùn", ta mới thực sự đứng vững và không bao giờ trở thành kẻ vô ơn, lạc loài trên chính quê hương mình.
Câu 1.
Thể Thơ : Tự Do
Dấu hiệu thể thơ:
Hình ảnh so sánh:
Tác dụng phép liệt kê:
→ Nhấn mạnh sự hòa quyện của hồn bà với đất đai, ruộng đồng
→ Làm nổi bật sự gắn bó thiêng liêng giữa con người – tổ tiên – quê hương
→ Tăng sức gợi hình, gợi cảm xúc sâu lắng.
Tình cảm, suy nghĩ của nhân vật “tôi”:
Câu 1
Dấu hiệu xác định thể thơ:
Câu 2. (0,5 điểm)
Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3. (1,0 điểm)
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê:
+ Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà.
Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thể hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
Câu 1.
Dấu hiệu xác định thể thơ:
Số chữ của các dòng không bằng nhau, không cố định về niêm, luật.
Là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do của văn bản.
Câu 2.
Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm
ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3.
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê:
Nêu biểu hiện: Liệt kê/nêu/kể ra những điều nhân vật tôi “nghe trong khói hương":
hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru gọi lúa trổ đòng.
Tác dụng:
+ Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà. Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thể hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
Câu 4.
Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ:
Suy nghĩ sâu sắc: Nhận ra mỗi hạt gạo làm nên bát cơm trên tay hôm nay là kết tinh bao mồ hôi công sức của tổ tiên, kết tinh bao yêu thương của bà trong lời ru. – Tình cảm: Nhân vật tôi thể hiện sự trân trọng, biết ơn sâu sắc với tổ tiên, tình yêu thương đối với bà.
Câu 5.
Hiện tại luôn được xây đắp từ quá khứ, cuộc sống ấm no trong hiện tại của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có được nhờ những thế hệ đi trước vất vả dựng xây. Vì vậy nhìn những gì có trong hiện tại, cần có thái độ trân quý, biết ơn với những người đi trước, với quá khứ,...
Một người sẽ trưởng thành thực sự khi biết nhìn hiện tại mà thấy quá khứ, biết trân trọng những gì đang được thụ hưởng với lòng biết ơn, biết nhớ về tổ tiên, gắn kết với gia đình đặc biệt là với thế hệ trước,...
Câu 1. (0,5 điểm) Dấu hiệu xác định thể thơ: – Số chữ của các dòng không bằng nhau, không cố định về niêm, luật. – Là dấu hiệu để xác định thể thơ tự do của văn bản. Câu 2. (0,5 điểm) Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê: Nêu biểu hiện: Liệt kê/nêu/kể ra những điều nhân vật tôi “nghe trong khói hương": hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru gọi lúa trổ đòng. Tác dụng: + Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà. Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thể hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước. + Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
Câu 4. (1,0 điểm) Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ: Suy nghĩ sâu sắc: Nhận ra mỗi hạt gạo làm nên bát cơm trên tay hôm nay là kết tinh bao mồ hôi công sức của tổ tiên, kết tinh bao yêu thương của bà trong lời ru. – Tình cảm: Nhân vật tôi thể hiện sự trân trọng, biết ơn sâu sắc với tổ tiên, tình yêu thương đối với bà. Câu 5. (1,0 điểm) Hiện tại luôn được xây đắp từ quá khứ, cuộc sống ấm no trong hiện tại của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có được nhờ những thế hệ đi trước vất vả dựng xây. Vì vậy nhìn những gì có trong hiện tại, cần có thái độ trân quý, biết ơn với những người đi trước, với quá khứ,... Một người sẽ trưởng thành thực sự khi biết nhìn hiện tại mà thấy quá khứ, biết trân trọng những gì đang được thụ hưởng với lòng biết ơn, biết nhớ về tổ tiên, gắn kết với gia đình đặc biệt là với thế hệ trước,...
Câu 1
- bài thơ thuộc thể thơ tự do
- dấu hiệu : số chữ trong mỗi dòng không bằng nhau
Câu 2
- so sánh với nhung gì tinh tuý ,kết tinh từ mồ hôi congo sức con người , cụ thể là mồ hôi , công lao của người nông dân , của tổ tiên.
Câu 3
-Liệt kê các hoạt động: “gắn chặt vào bùn”, “lan tỏa”, “bám sâu vào đất”, “mọc rễ…”
Nhấn mạnh sự gắn bó sâu sắc của con người với ruộng đồng, đất đai.
Làm nổi bật quá trình sinh trưởng của cây lúa và công sức lao động bền bỉ.
- Gợi cảm xúc trân trọng, biết ơn đối với lao động và thiên nhiên.
Câu 4
-Trân trọng từng hạt gạo – thành quả của lao động.
Biết ơn tổ tiên, người nông dân đã vất vả làm ra hạt gạo.
Cảm nhận hạt gạo không chỉ là thức ăn mà còn chứa đựng tình yêu thương (lời ru của bà, mồ hôi).
- Thể hiện lòng biết ơn, nâng niu và ý thức về giá trị của lao động .
Câu 5
-Thông điệp sâu sắc nhất mà tôi rút ra từ bài thơ là phải biết trân trọng giá trị của lao động và những điều bình dị trong cuộc sống. Mỗi hạt gạo không chỉ là thức ăn mà còn là kết tinh của mồ hôi, công sức và tình yêu thương của bao thế hệ. Vì vậy, chúng ta cần sống tiết kiệm, không lãng phí và biết ơn những người đã làm ra thành quả đó. Bài thơ cũng nhắc nhở tôi phải gắn bó hơn với cội nguồn, với quê hương đất đai. Những điều nhỏ bé đôi khi lại chứa đựng ý nghĩa lớn lao. Khi hiểu được điều đó, ta sẽ sống có trách nhiệm và trân quý cuộc sống hơn. Đây là thông điệp khiến tôi suy ngẫm nhiều nhất
Câu 1.
Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Dấu hiệu nhận biết: số câu, số chữ trong mỗi dòng không đều; không tuân theo niêm luật, vần điệu chặt chẽ; cách ngắt nhịp linh hoạt, giàu tính biểu cảm, có những dòng thơ rất dài hoặc rất ngắn.
Câu 2.
Ở khổ thơ đầu, “từng hạt gạo ngọt thơm” được so sánh với “lời ru của bà”.
Câu 3.
Phép liệt kê trong các cụm từ: “lan tỏa, bám sâu vào đất, mọc rễ vào đồng ruộng” có tác dụng:
Câu 4.
Qua những câu thơ, nhân vật “tôi” thể hiện:
Câu 5. (khoảng 7–8 dòng)
Thông điệp sâu sắc nhất tôi rút ra là: hãy biết trân trọng cội nguồn và những giá trị bình dị nuôi dưỡng ta mỗi ngày. Bởi mỗi hạt gạo ta ăn không chỉ là thành quả lao động mà còn chứa đựng mồ hôi, ký ức và tình yêu của bao thế hệ đi trước. Khi hiểu điều đó, con người sẽ sống biết ơn hơn, trách nhiệm hơn với gia đình và quê hương. Đồng thời, ta cũng học được cách nâng niu những điều tưởng chừng nhỏ bé nhưng lại vô cùng thiêng liêng. Chính sự trân trọng ấy giúp ta không quên quá khứ và biết sống xứng đáng với những gì mình đang có.
Câu 1.
Dấu hiệu xác định thế thơ:
Câu 2.
Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3. (1,0 điểm)
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê:
+ Thế hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà. Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thể hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
Câu 4.
Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ:
Câu 5.
Câu 1
thể thơ tự do
dấu hiệu xác định thể thơ là số chữ trong các dòng thơ không giống nhau
Câu 2: Hình ảnh so sánh với từng hạt gạo Trong khổ thơ đầu (dựa trên ngữ cảnh khổ 4), hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo làMồ hôi của những tổ tiên: Thể hiện sự vất vả, cực nhọc của thế hệ đi trước để làm ra hạt gạo là lời ru của bà Gợi lên giá trị tinh thần, sự nuôi dưỡng tâm hồn và tình yêu thương chứa đựng trong thành quả lao động. Câu 3: Tác dụng của phép tu từ liệt kê la Phép liệt kê trong các dòng thơ "bám sâu vào đất, mọc rễ vào đồng ruộng" có tác dụnNhấn mạnh sự gắn kết bền chặt, không thể tách rời giữa con người với mảnh đất quê hương. Nó gợi lên hình ảnh con người như một thực thể sống hòa quyện, bám rễ sâu sắc vào cội nguồmVề nghệ thuật: Tạo nhịp điệu dồn dập, tăng sức biểu cảm, khẳng định tình yêu quê hương tha thiết và ý thức về nguồn cội của nhân vật trữ tình. Câu 4: Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật "tôi" Qua các câu thơ, ta thấy nhân vật "tôi" có những suy nghĩ và tình cảm sâu sắc:Nhân vật nâng niu bát cơm và "đếm từng hạt gạo", thể hiện sự quý trọng thành quả lao độngNhân vật nhận ra giá trị của hạt gạo không chỉ là vật chất mà còn là sự kết tinh từ lao động khổ cực ("mồ hôi tổ tiên") và tình yêu thương ("lời ru của bà").Nhìn thấy lịch sử và tình cảm gia đình trong những điều bình dị nhất của cuộc sống. Câu 5: Thông điệp sâu sắc nhấtHãy biết trân trọng những giá trị bình dị và lòng biết ơn đối với thế hệ đi trước,Chúng ta chọn thông điệp này vì trong cuộc sống hiện đại, con người dễ quên đi nguồn gốc của những thứ mình đang hưởng thụ. Hạt gạo là biểu trưng cho thành quả lao động và tình yêu thương. Biết ơn mồ hôi của cha ông và lời ru của bà giúp chúng ta sống trách nhiệm hơn, biết yêu thương gia đình và quê hương, từ đó hoàn thiện nhân cách bản thân. Mỗi hạt cơm ta ăn đều mang nặng nghĩa tình, nhắc nhở ta không được sống vô ơn hay lãng phí.
câu1
thể thơ: tự do
dấu hiệu: số chữ trong mỗi dòng thơ không đều nhau
Câu 2.
Hình ảnh so sánh“Từng hạt gạo ngọt thơm, như lời ru của bà” Hạt gạo được so sánh với lời ru của bà
Câu 3
- Giá trị nội dung : Nhấn mạnh sự gắn bó sâu sắc của bà đất đai, ruộng đồng
Làm nổi bật sự sống nối tiếp (hồn bà hoà vào đất, nuôi lúa)
- Giá trị nghệ thuật: Tăng sức gợi hình, gợi cảm, làm câu thơ thêm sinh động hấp dẫn
Câu 4.
Tình cảm, suy nghĩ của nhân vật “tôi”:Biết ơn tổ tiên, ông bàTrân trọng từng hạt gạo – thành quả lao độngXúc động trước sự hi sinh của thế hệ trướcGắn bó với quê hương, cội nguồn
Câu 5.Hãy biết trân trọng công sức lao động và cội nguần .Biết ơn tổ tiên, gia đình.Sống có ý thức với những gì mình đang có
Câu 1 : Thể thơ tự do
Dấu hiệu : Số chữ trong mỗi dòng không bằng nhau
Câu 2 : Hình ảnh được sử dụng để so sánh từng hạt gạo ngọt thơm là lời ru của bà
\(Câu 3 : Phân\)\(tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê - Nêu biểu hiện: Liệt kê/nêu/kể ra những điều nhân vật tôi "nghe trong khói hương": hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru gọi lúa trổ đòng. + Tác dụng: + Làm cho câu thơ thêm sinh động hấp dẫn khắc hoạ sâu sắc những sự vật khác nhau + Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà. Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thế hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước. + Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.\) Câu 4 : Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ:
Caau 5 :
Câu 1.
Dấu hiệu xác định thể thơ:
Câu 2.
Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khố thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3.
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê:
- Nêu biếu hiện: Liệt kê/nêu/kế ra những điều nhân vật tôi "nghe trong khói hương":
hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru gọi lúa trố đòng.
- Tác dụng:
+ Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà. Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thế hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc;tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
Câu 4.
Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ:
Câu 5.
Câu 1: Dấu hiệu xác định thể thơ Dựa vào văn bản, ta có thể xác định đây là thể thơ tự do. Các dấu hiệu bao gồm: Số chữ trong mỗi dòng không bằng nhau: Có dòng ngắn, dòng dài (ví dụ: dòng 3 chữ "Ngoài kia", dòng 10 chữ "Từng hạt óng ánh mồ hội của những tổ tiên tôi..."). Số dòng trong mỗi khổ không bằng nhau
Câu 2: Hình ảnh so sánh với "từng hạt gạo ngọt thơm" Trong khổ thơ đầu tiên, hình ảnh được sử dụng để so sánh với "từng hạt gạo ngọt thơm" là: "như lời ru của bà". Trích: "Từng hạt gạo ngọt thơm, như lời ru của bà, người tôi chưa hề biết mặt"
Câu 3: Phân tích tác dụng của phép tu từ liệt kê Phép liệt kê được sử dụng qua các hình ảnh: gắn chặt vào bùn, bám sâu vào đất, mọc rễ vào đồng ruộng. Về nội dung: Nhấn mạnh sự gắn kết máu thịt, bền chặt và không thể tách rời giữa linh hồn người bà (tổ tiên) với mảnh đất quê hương, với đồng ruộng. Nó gợi lên sự hy sinh thầm lặng, hóa thân vào đất đai để nuôi dưỡng sự sống. Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu dồn dập, tăng sức biểu cảm, làm cho hình tượng người bà trở nên thiêng liêng, bất tử trong lòng đất mẹ.
Câu 4: Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật "tôi" Qua những câu thơ cuối, ta thấy nhân vật "tôi" có những tình cảm sâu sắc sau: Sự trân trọng và biết ơn: Hành động "nâng bát cơm trên tay", "đếm từng hạt gạo" cho thấy thái độ nâng niu, quý trọng thành quả lao động và sự sống. Thấu hiểu nỗi vất vả của tổ tiên: Nhân vật "tôi" nhìn thấy trong hạt gạo "mồ hôi của những tổ tiên tôi còng lưng gieo gặt". Đó là sự thấu cảm về nỗi nhọc nhằn, gian khổ của những thế hệ đi trước. Sự kết nối tâm linh: Hạt gạo không chỉ là lương thực mà còn chứa đựng "lời ru của bà", là sự tiếp nối tình yêu thương từ quá khứ đến hiện tại. Nhân vật "tôi" luôn ghi nhớ cội nguồn, tri ân những người đã nằm xuống để có được bát cơm thơm lành ngày hôm nay.
câu 5:
Thông điệp: Lòng biết ơn cội nguồn và sự trân trọng những giá trị bình dị trong cuộc sống. Trong cuộc sống hối hả, chúng ta dễ dàng quên đi nguồn gốc của những điều hiển nhiên như bát cơm ta ăn mỗi ngày. Bài thơ nhắc nhở rằng mỗi hạt gạo đều thấm đẫm mồ hôi của tổ tiên và tình yêu thương của người thân. Biết ơn không chỉ là một đức tính, mà còn là sợi dây kết nối chúng ta với quá khứ, giúp ta sống có trách nhiệm và nhân văn hơn. Khi biết trân trọng "hạt gạo óng ánh mồ hôi", chúng ta sẽ biết trân trọng cuộc đời và nỗ lực sống sao cho xứng đáng với những hy sinh của thế hệ đi trước. Đây chính là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất để mỗi cá nhân trưởng thành và phát triển.
Câu1
Thể thơ: tự do
Dấu hiệu: số chữ trong mỗi dongf thơ không giống nhau
Câu2
Hình ảnh được dùng để so sánh với “ từng hạt gạo ngọt thơm” với như lời rủ của bà “
Câu 3: Phép liệt kê qua các cụm từ "lan tỏa", "bám sâu vào đất", "mọc rễ vào đồng ruộng" có tác dụng:Về nội dung: Nhấn mạnh sự gắn kết bền chặt, không thể tách rời giữa linh hồn người đã khuất (bà, tổ tiên) với mảnh đất quê hương. Nó thể hiện sự hóa thân linh thiêng của con người vào thiên nhiên để tiếp tục nuôi dưỡng sự sống.
Về nghệ thuật: Tạo nhịp điệu chậm rãi, trang trọng; làm cho ý thơ trở nên sâu sắc và giàu sức gợi cảm, thể hiện lòng thành kính của tác giả.
Câu 4
Qua khổ thơ, ta thấy được tấm lòng trân trọng và sự biết ơn sâu sắc của nhân vật "tôi" đối với những giá trị cội nguồn. Hành động "nâng bát cơm trên tay" và "đếm từng hạt gạo" không chỉ đơn thuần là việc quan sát, mà là thái độ nâng niu, trân quý những thành quả lao động bình dị. Nhân vật "tôi" có một sự thấu cảm mãnh liệt khi nhìn thấy trong mỗi hạt gạo là cả một hành trình gian khổ: đó là "ánh mồ hôi" của tổ tiên với dáng hình "còng lưng gieo gặt", là lời ru ngọt ngào của bà thấm đượm từ lòng đất mẹ. Những hình ảnh ấy cho thấy hạt gạo không chỉ là vật chất nuôi sống con người, mà còn là sự kết tinh của tình yêu thương và sự hy sinh thầm lặng của các thế hệ đi trước. Qua đó, nhân vật bộc lộ tâm hồn nhạy cảm, giàu lòng trắc ẩn và đạo lý "uống nước nhớ nguồn" cao đẹp của dân tộc.
Câu5
Câu 1.
Dấu hiệu xác định thế thơ: tự do
Câu 2.
Hình ảnh được sử dụng để so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3.
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê:
- Nêu biếu hiện: Liệt kê/nêu/kế ra những điều nhân vật tôi "nghe trong khói hương":
hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru gọi lúa trố đòng.
- Tác dụng:
+ Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà.
Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thế hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía canh khác nhau của sự vật sự việc
- Tác dụng:
+ Thế hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà.
Nhân vật trữ tình tôi như cám nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thể hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
Câu 4.
Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ:
Câu 5
Hiện tại luôn được xây đắp từ quá khứ, cuộc sống ấm no trong hiện tại của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có được nhờ những thế hệ đi trước vất vả dựng xây. Vì vậy nhìn những gì có trong hiện tại, cần có
Câu 1.
Dấu hiệu xác định thế thơ: _Số chữ của các dòng không bằng nhau, không cố định về niêm, luật. _Là dấu hiệu đế xác định thế thơ tự do của văn bản.
Câu 2.
_Hình ảnh được sử dụng đế so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
Câu 3.
Phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê: _Nêu biểu hiện: Những điều nhân vật tôi "nghe trong khói hương": hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đông, bà se sẽ hát ru gọi lúa trố đòng.
+ Thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà. Nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thể hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ Tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
Câu 4.
Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ: +Suy nghĩ sâu sắc: Nhận ra mỗi hạt gạo làm nên bát cơm trên tay hôm nay là kết tinh bao mồ hôi công sức của tổ tiên, kết tinh bao yêu thương của bà trong lời ru. +Tình cảm: Nhân vật tôi thế hiện sự trân trọng, biết ơn sâu sắc với tổ tiên, tình yêu thương đối với bà.
Câu 5. _Hiện tại luôn được xây đắp từ quá khứ, cuộc sống ấm no trong hiện tại của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có được nhờ những thế hệ đi trước vất vả dựng xây. Vì vậy nhìn những gì có trong hiện tại, cần có thái độ trân quý, biết ơn với những người đi trước, với quá khú,... _Một người sẽ trưởng thành thực sự khi biết nhìn hiện tại mà thấy quá khứ, biết trân trọng những gì đang được thụ hưởng với lòng biết ơn, biết nhớ về tổ tiên, gắn kết với gia đình đặc biệt là với thế hệ trước,...
Câu 1 (Thể thơ): Bài thơ được viết theo thể thơ tự do. Dấu hiệu xác định là số chữ trong các dòng thơ không bằng nhau (có dòng 6 chữ, dòng 7 chữ, dòng 8 chữ...) và cách ngắt nhịp, gieo vần linh hoạt theo mạch cảm xúc của tác giả.
Câu 2 (Hình ảnh so sánh): Hình ảnh được sử dụng để so sánh với "từng hạt gạo ngọt thơm" ở khổ thơ đầu tiên là mồ hôi của những tổ tiên và lời ru của bà. Qua đó, tác giả nhấn mạnh giá trị của hạt gạo không chỉ là vật chất mà còn chứa đựng công sức lao động khổ cực và tình yêu thương vô bờ bến.
Câu 3 (Phép tu từ liệt kê):
Phép liệt kê: "Hai chân tôi gắn chặt vào bùn", "hồn bà lan toả", "bám sâu vào đất", "mọc rễ vào đồng ruộng".
Tác dụng: Nhấn mạnh sự gắn kết bền chặt, máu thịt của con người với mảnh đất quê hương. Đồng thời, gợi tả sự hy sinh thầm lặng, bền bỉ của thế hệ đi trước (người bà) để giữ gìn sự sống và nuôi dưỡng tâm hồn cho con cháu.
Câu 4 (Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật "tôi"):
Sự trân trọng, biết ơn: Nhân vật "tôi" nâng niu bát cơm trên tay và "đếm từng hạt gạo" để thấu hiểu giá trị của thành quả lao động.
Sự thấu cảm: Nhận ra trong mỗi hạt gạo có nỗi vất vả "còng lưng gieo gặt" của tổ tiên và sự dịu dàng từ lời ru của bà.
Tình yêu quê hương: Một tình cảm sâu nặng, thiêng liêng khi cảm nhận được sự kết tinh của lịch sử, gia đình và đất đai trong những điều bình dị nhất.
Câu 5 (Thông điệp sâu sắc nhất):
Thông điệp: Sự trân trọng những giá trị bình dị và lòng biết ơn đối với nguồn cội, tổ tiên.
Lý giải: Hạt gạo là biểu tượng cho sự sống, nhưng để có được nó là cả một hành trình của mồ hôi và nước mắt. Khi biết ơn hạt gạo, ta cũng đang học cách trân trọng những hy sinh thầm lặng của thế hệ đi trước. Sống có lòng biết ơn giúp con người hoàn thiện nhân cách, biết sống trách nhiệm hơn với bản thân, gia đình và quê hương, từ đó tạo nên sợi dây kết nối bền vững giữa quá khứ và hiện tại.
câu 1
thể thơ tự do
số chữ của các dòng không bằng nhau, không cố định về niêm, luật.
câu 2
hình ảnh được sử dụng đế so sánh với từng hạt gạo ngọt thơm ở khổ thơ đầu tiên là lời ru của bà.
câu 3
phân tích tác dụng biện pháp tu từ liệt kê: những điều nhân vật tôi "nghe trong khói hương": hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào ruộng đồng, bà se sẽ hát ru gọi lúa trổ đòng.
tác dụng:
+ thể hiện những cảm nhận tinh tế và sâu sắc, niềm xúc động của nhân vật tôi khi đứng trên cánh đồng, đứng trước mộ bà.
+ nhân vật trữ tình tôi như cảm nhận được linh hồn bà đã bám sâu gắn bó với đồng ruộng, với từng cây lúa nuôi con cháu lớn khôn. Qua đó đoạn trích thể hiện lòng biết ơn, sự kết nối thế hệ sau với thế hệ trước.
+ tăng hiệu quả diễn đạt, khái quát được những khía cạnh khác nhau của sự vật, sự việc; tạo giọng điệu thiết tha, sâu lắng.
câu 4
- suy nghĩ, tình cảm của nhân vật tôi qua những câu thơ:
- suy nghĩ sâu sắc: Nhận ra môi hạt gạo làm nên bát cơm trên tay hôm nay là kết tinh bao mồ hôi công sức của tổ tiên, kết tinh bao yêu thương của bà trong lời ru.
- tình cảm: Nhân vật tôi thế hiện sự trân trọng, biết ơn sâu sắc với tổ tiên, tình yêu thương đối với bà.
câu 5
hiện tại luôn được xây đắp từ quá khứ, cuộc sống ấm no trong hiện tại của mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều có được nhờ những thế hệ đi trước vất vả dựng xây. Vì vậy nhìn những gì có trong hiện tại, cần có thái độ trân quý, biết ơn với những người đi trước, với quá khứ. Một người sẽ trưởng thành thực sự khi biết nhìn hiện tại mà thấy quá khứ, biết trân trọng những gì đang được thụ hưởng với lòng biết ơn, biết nhớ về tổ tiên, gắn kết với gia đình đặc biệt là với thế hệ trước
Câu 1Thể Thơ Tự Do
Số Chữ Trong Mỗi Dòng Thơ Không Bằng Nhau
Câu 2: Hình ảnh so sánh với "từng hạt gạo ngọt thơm"
Hình ảnh được so sánh là "lời ru của bà".
Dẫn chứng: "Từng hạt gạo ngọt thơm, như lời ru của bà, người tôi chưa hề biết mặt".
Câu 3: Tác dụng phép tu từ liệt kê
Trong 4 dòng thơ:
_Hai chân tôi gắn chặt vào bùn
Nghe trong khói hương, hồn bà lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào đồng ruộng
Bà se sẽ hát ru ngọn lúa trổ bông_
Tác dụng của phép liệt kê "lan toả, bám sâu vào đất, mọc rễ vào đồng ruộng":
Gợi hình ảnh cụ thể: Diễn tả sự hóa thân của người bà vào đất đai, đồng ruộng một cách mãnh liệt, bền chặt.
Tăng tính biểu cảm: Nhấn mạnh sự gắn bó máu thịt, bất diệt giữa linh hồn người bà với quê hương. Bà không mất đi mà trở thành một phần của đất, nuôi dưỡng sự sống.
Tạo nhịp điệu dồn dập: Thể hiện cảm xúc nghẹn ngào, xúc động của nhân vật "tôi" khi cảm nhận sự hiện diện của bà.
Câu 4: Suy nghĩ, tình cảm của nhân vật "tôi"
Qua 4 câu thơ, nhân vật "tôi" thể hiện:
Lòng biết ơn sâu sắc: "Tôi đếm từng hạt gạo" là hành động trân trọng thành quả lao động. Mỗi hạt gạo chứa "mồ hôi của những tổ tiên" và "lời ru của bà" → ý thức được giá trị của bát cơm.
Sự kết nối với cội nguồn: Dù chưa biết mặt bà, "tôi" vẫn cảm nhận bà qua hạt gạo, qua lời ru "đơm lên từ lòng đất". Đó là sự tri ân tổ tiên, tri ân người đã khuất.
Nỗi xúc động thiêng liêng: "Lời ru bà tôi vẫn se sẽ trổ đòng" cho thấy bà luôn hiện hữu, che chở, tiếp nối sự sống cho con cháu.
Câu 5:
Thông điệp sâu sắc nhất em rút ra là: Hãy biết trân trọng quá khứ và sống có trách nhiệm với cội nguồn. Bát cơm ta ăn hôm nay thấm đẫm mồ hôi, nước mắt và cả máu xương của thế hệ cha ông đã nằm xuống vì đói khổ, chiến tranh. Mỗi hạt gạo là một phần linh hồn tổ tiên. Vì vậy, ta không được phép lãng quên, phải sống xứng đáng với sự hi sinh ấy bằng cách giữ gìn đất đai, văn hóa và tiếp nối những giá trị tốt đẹp. Đó là cách để lời ru của bà, của mẹ mãi "se sẽ trổ đòng" trong hiện tại và tương lai.
Câu 1. Thể thơ:
→ Thơ tự do (không bị ràng buộc số chữ, vần, nhịp).
⸻
Câu 2. Phương thức biểu đạt:
→ Gồm:
* Tự sự (kể về cuộc đời, công việc của người dân)
* Miêu tả (hình ảnh: chân xương xẩu, tóc rối, gánh nước…)
* Biểu cảm (thể hiện sự thương cảm, xót xa)
⸻
Câu 3. Tác dụng của việc lặp câu thơ:
“Đã năm năm, mười lăm năm, ba mươi lăm và nửa đời tôi thấy”
→ Tác dụng:
* Nhấn mạnh thời gian dài đằng đẵng
* Thể hiện sự chứng kiến bền bỉ, ám ảnh của tác giả
* Làm nổi bật cuộc đời vất vả, lặp lại, không đổi của người dân lao động
⸻
Câu 4. Đề tài và chủ đề:
* Đề tài: Cuộc sống của người dân lao động vùng sông nước (đặc biệt là phụ nữ gánh nước).
* Chủ đề:
→ Ca ngợi sự chịu thương chịu khó của người phụ nữ
→ Đồng thời bày tỏ niềm xót xa trước cuộc sống nhọc nhằn, luẩn quẩn qua nhiều thế hệ
⸻
Câu 5. Suy nghĩ của em:
Gợi ý viết:
→ Bài thơ khiến em:
* Cảm thấy thương và trân trọng những người lao động
* Nhận ra cuộc sống của họ vất vả, lặp lại qua nhiều thế hệ
* Từ đó biết quý trọng cuộc sống hiện tại hơn và có ý thức cố gắng học tập