K
Khách
Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.
Các câu hỏi dưới đây có thể giống với câu hỏi trên
LT
31 tháng 1 2018
Ông X đưa quyết định điều chuyển chị B dù chị đang nuôi con nhỏ à đối tượng của khiếu nại. Ông sử dụng xe công vụ đi đám cưới à đối tượng của tố cáo.
Anh Z yêu cầu ông X đưa hối lộ à đối tượng của tố cáo; anh lập biên bản phạt thêm những lỗi ông X không vi phạm à đối tượng của khiếu nại.
Anh N thuê người, anh K trực tiếp chặn xe của ông X để đe dọa à đối tượng của tố cáo.
Đáp án cần chọn là: C
Kết luận:
Ông X sẽ bị xử lý theo luật hình sự Việt Nam do hành vi vi phạm tội xảy ra tại lãnh thổ Việt Nam. Ông có thể bị truy tố về tội sử dụng máy tính mạng, mạng viễn thông để chiếm đoạt tài sảntheo **ĐiềĐiều 290 BLHS với mục đíchtù chung thân ,máy trục xuấtkho bạc
Trong trường hợp trên, ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý về xử lý hành vi phạm tội của người nước ngoài tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Cụ thể, ông X sẽ bị xử lý theo Điều 4 Bộ luật Hình sự Việt Nam về việc áp dụng pháp luật hình sự đối với công dân nước ngoài phạm tội tại Việt Nam. Theo đó, ông X có thể bị xử lý hình sự vì đã thực hiện hành vi lừa đảo qua internet, chiếm đoạt tài sản của công dân Việt Nam, vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự Việt Nam).
Vì:
Ông X thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam (du lịch và tạm trú tại Việt Nam).
Ông X đã lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của công dân Việt Nam thông qua các giao dịch qua mạng Internet.
Các thiết bị phục vụ hành vi phạm tội đã bị thu giữ tại Việt Nam và cơ quan công an đã tiến hành điều tra và bắt giữ theo quy định pháp luật Việt Nam.
-Trong trường hợp trên, ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam vì đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên lãnh thổ Việt Nam. Theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), mọi cá nhân, kể cả người nước ngoài, nếu thực hiện hành vi vi phạm pháp luật tại Việt Nam đều bị xử lý theo pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác
-Ông X đã lợi dụng mạng internet để lừa đảo, chiếm đoạt số tiền 700 triệu đồng, đây là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 và Điều 290 của Bộ luật Hình sự. Ngoài hình phạt chính như phạt tù, ông X còn có thể bị trục xuất khỏi Việt Nam sau khi chấp hành xong hình phạt theo quy định pháp luật
tick đi bạn :)))
Ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Vì:
Ông X là người nước ngoài nhưng thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, nên phải chịu trách nhiệm theo pháp luật Việt Nam.
Hành vi của ông X là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sử dụng công nghệ (email, internet) để chiếm đoạt số tiền lớn (700 triệu đồng) → đây là tội phạm hình sự nghiêm trọng.
Cơ quan công an đã điều tra, thu giữ tang vật và bắt giữ → đủ căn cứ xử lý theo Bộ luật Hình sự Việt Nam
Bài này về hiệu lực pháp luật hình sự của Việt Nam với người nước ngoài. Giải cho thầy Đông đây:
Kết luận: Ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cụ thể là bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự Việt Nam.
Vì sao?
Căn cứ nguyên tắc hiệu lực theo lãnh thổ:
- Theo Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Hình sự Việt Nam được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Ông X là người nước ngoài, nhưng hành vi lừa đảo qua email, chiếm đoạt thông tin và thực hiện giao dịch trái phép đều được thực hiện tại khách sạn ở quận K, thành phố P, tức là trên lãnh thổ Việt Nam. Do đó, không phân biệt quốc tịch, ông X phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật Việt Nam.
Xác định tội danh ông X phạm phải:
- Hành vi giả danh nhân viên ngân hàng để chiếm đoạt thông tin tài khoản, sau đó dùng thông tin này chiếm đoạt 700 triệu đồng đã cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015.
- Hành vi sử dụng mạng internet, email để thực hiện còn có thể bị xem xét thêm Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015.
- Với số tiền chiếm đoạt là 700 triệu đồng, ông X thuộc khung hình phạt rất nghiêm trọng: phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân theo điểm a khoản 4 Điều 174.
Trình tự xử lý:
- Cơ quan công an quận K bắt giữ, thu giữ tang vật là hoàn toàn đúng thẩm quyền theo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam.
- Sau khi điều tra, Viện kiểm sát sẽ truy tố và Tòa án nhân dân Việt Nam sẽ xét xử ông X theo pháp luật Việt Nam.
- Sau khi chấp hành xong hình phạt, ông X còn có thể bị trục xuất khỏi Việt Nam theo quyết định của Tòa án.
Lưu ý: Việc ông X là người nước ngoài không giúp ông thoát tội. Trừ trường hợp ông X có quyền miễn trừ ngoại giao thì mới không bị truy cứu. Nhưng ông X chỉ là khách du lịch nên không được hưởng quyền này.
Bạn chép ý chính rồi diễn đạt lại cho tự nhiên là được điểm tối đa nhé.
-Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ theo Khoản 1 Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Bộ luật Hình sự áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Do ông X thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi đang tạm trú tại Việt Nam, ông X phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
-Lý do áp dụng:
-Nguyên tắc chủ quyền quốc gia: Mọi cá nhân (kể cả người nước ngoài) khi cư trú và hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ pháp luật Việt Nam
-Địa điểm thực hiện tội phạm: Hành vi phạm tội diễn ra tại quận K, thành phố P, thuộc chủ quyền của Việt Nam.
-Đối tượng không thuộc diện miễn trừ: Ông X đến Việt Nam theo diện du lịch, không thuộc các đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Hình sự để được giải quyết bằng con đường ngoại giao
-Hành vi vi phạm: Ông X có dấu hiệu phạm tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" (Điều 290) hoặc tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" (Điều 174) tùy theo tính chất cụ thể của quá trình điều tra.
Về trách nhiệm hình sự: Theo nguyên tắc chủ quyền quốc gia được quy định tại Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), Bộ luật Hình sự Việt Nam áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì ông X thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi đang lưu trú tại quận K, thành phố P nên ông phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam
Về thẩm quyền giải quyết: Do ông X là người nước ngoài phạm tội tại Việt Nam, vụ việc sẽ thuộc thẩm quyền điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam (Cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án) theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về quyền miễn trừ: Vì ông X đến Việt Nam theo diện du lịch, ông không thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Do đó, ông X bị xử lý như một công dân bình thường phạm tội, trừ trường hợp có hiệp định tương trợ tư pháp khác giữa Việt Nam và nước Y (nếu có).
Hình phạt bổ sung: Ngoài các hình phạt chính (như tù có thời hạn), ông X còn có thể phải đối mặt với hình phạt bổ sung là trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Hình sự.
Nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ: Theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam, mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc thẩm quyền tài phán của pháp luật Việt
Nam. Ông X thực hiện hành vi lừa đảo khi đang tạm trú tại quận K, thành phố P, nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật pháp
Việt Nam.
Câu 2 (ông X – người nước ngoài phạm tội):
Ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Vì : Hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam
+Theo nguyên tắc lãnh thổ: mọi người (kể cả người nước ngoài) phạm tội tại Việt Nam đều bị xử lý theo pháp luật Việt Nam.
+ Tội danh: lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sử dụng công nghệ cao.
Ông X sẽ bị áp dụng trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Vì:
Ông X sẽ bị áp dụng chế độ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Vì sao: Hành vi của ông X thỏa mãn dấu hiệu tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự Việt Nam. Cụ thể, đây là hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017) với thủ đoạn gian dối qua internet và email để chiếm đoạt số tiền lớn (700 triệu đồng). Mặc dù ông X là người nước ngoài, nhưng theo nguyên tắc lãnh thổ được quy định trong pháp luật Việt Nam, mọi hành vi phạm tội xảy ra trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều phải bị xử lý theo pháp luật Việt Nam
Trong trường hợp này, ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý dành cho người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam.
Ông X bị áp dụng chế độ trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Lý do:
1. Nguyên tắc lãnh thổ: Theo Điều 5 Bộ luật Hình sự 2015, người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam phải chịu trách nhiệm hình sự theo luật Việt Nam. Ông X thực hiện hành vi lừa đảo khi đang ở quận K, thành phố P.
2. Tội danh: Hành vi của ông X cấu thành Tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông để chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 BLHS 2015. Chiếm đoạt 700 triệu đồng thuộc khoản 3, khung hình phạt 7-15 năm tù.
3. Xử lý: Ngoài phạt tù, ông X còn bị tịch thu phương tiện phạm tội, trục xuất khỏi Việt Nam sau khi chấp hành xong án phạt theo Điều 37 BLHS.
Ông X sẽ bị áp dụng trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam. Vì: Ông X là người nước ngoài nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, nên phải chịu pháp luật Việt Nam. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng với số tiền lớn (700 triệu đồng) là hành vi nguy hiểm, đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó, ông X sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời có thể bị xử phạt bổ sung (như trục xuất) theo quy định.
Ông X bị áp dụng trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Vì ông đã có hành vi lừa đảo qua mạng để chiếm đoạt tài sản với số tiền lớn (700 triệu đồng). Hành vi này xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam nên dù là người nước ngoài vẫn phải chịu xử lý theo pháp luật Việt Nam. Ngoài ra, có thể bị tịch thu phương tiện và trục xuất sau khi chấp hành xong hình phạt.
Ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý như công dân nước ngoài tại Việt Nam (chịu trách nhiệm theo pháp luật Việt Nam).
Giải thích:
Ông X là người nước ngoài nhưng đã thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam.
Theo pháp luật, người nước ngoài vi phạm pháp luật tại Việt Nam thì bị xử lý theo pháp luật Việt Nam (có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự).
→ Vì vậy, ông X phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý như đối với công dân Việt Nam phạm tội cụ thể là bị truy cứu trách nhiêm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam. Vì hành vi phạm tội của ông X xảy ra tại địa bàn quận K , thành phố P , thuộc lãnh thổ Việt Nam ông X là người nước ngoài đang tạm trú tại Việt Nam không thuộc đối tượng được miễn trừ trách nhiệm hình sự
Trong tình huống này, ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam. Dưới đây là các căn cứ cụ thể: Về trách nhiệm hình sự: Hành vi giả danh nhân viên ngân hàng, lừa đảo qua mạng để chiếm đoạt 700 triệu đồng của ông X đã cấu thành tội phạm (có dấu hiệu của tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" theo Điều 290 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017). Về đối tượng áp dụng: Theo nguyên tắc chủ quyền, mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam, bất kể người thực hiện là công dân Việt Nam hay người nước ngoài (trừ trường hợp được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao theo điều ước quốc tế). Về xử lý vật chứng: Toàn bộ thiết bị phục vụ hành vi phạm tội (máy tính, điện thoại, thẻ ngân hàng giả) sẽ bị tịch thu và xử lý theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự vì đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính (tù có thời hạn), ông X còn có thể bị áp dụng hình phạt trục xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam.
Chế độ pháp lý áp dụng đối với ông X là chế độ pháp lý hình sự Việt Nam.
Ông X, một người nước ngoài, đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên lãnh thổ Việt Nam. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hành vi này thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam.
Câu 2:
Ông bị bị xử lý theo pháp luật hình sự Việt Nam
Vì nguyên tắc lãnh thổ : hành vi phạm tội lừa đảo qua mạng, được thực hiện trên lãn thổ Việt Nam
Đối tượng áp dụng: Ông X là khách du lịch, không thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hay lãnh sự, nên phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của nước sở tại.
Ông X sẽ bị áp dụng trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Vì sao?
Kết luận:
Ông X sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam, đồng thời các tang vật (máy tính, điện thoại, thẻ giả…) bị thu giữ phục vụ điều tra và xử lý theo quy định pháp luật.
Ông X sẽ bị áp dụng trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Vì sao?
• Ông X là người nước ngoài nhưng thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, nên theo nguyên tắc lãnh thổ của pháp luật hình sự Việt Nam, vẫn bị xử lý như công dân Việt Nam.
• Hành vi của ông X có dấu hiệu của tội:
• Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (giả danh ngân hàng, chiếm đoạt tiền).
• Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông để chiếm đoạt tài sản (hành vi qua internet).
• Số tiền chiếm đoạt lên đến 700 triệu đồng → thuộc trường hợp nghiêm trọng, có thể bị xử phạt tù nặng.
Kết luận:
Ông X sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tại Việt Nam, đồng thời các tang vật (máy tính, điện thoại, thẻ giả…) bị thu giữ phục vụ điều tra và xử lý theo quy định pháp luật.
Ông X sẽ bị áp dụng trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Việt Nam (cụ thể là Bộ luật Hình sự).
2. Giải thích
• Nguyên tắc chủ quyền lãnh thổ: Theo Bộ luật Hình sự Việt Nam, mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (bất kể người thực hiện là công dân Việt Nam hay người nước ngoài) đều phải chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
• Tính chất hành vi: Hành vi của ông X (lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng với số tiền 700 triệu đồng) đã cấu thành tội phạm hình sự nghiêm trọng.
• Đối tượng không thuộc diện miễn trừ: Ông X đến Việt Nam theo diện du lịch, không thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trong trường hợp này, ông X sẽ bị áp dụng chế độ trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Vì:
Kết luận:
→ Ông X bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự Việt Nam (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, có thể kèm tội sử dụng mạng máy tính để chiếm đoạt tài sản).
Trong trường hợp trên, ông X sẽ bị áp dụng chế độ pháp lý hình sự theo pháp luật Việt Nam. Vì: Ông X là người nước ngoài nhưng thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam, nên vẫn chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam. Hành vi của ông X là lừa đảo chiếm đoạt tài sản, sử dụng mạng internet để chiếm đoạt số tiền lớn (700 triệu đồng) → thuộc tội phạm nghiêm trọng. Cơ quan công an đã điều tra, thu thập chứng cứ và bắt giữ → đủ căn cứ xử lý hình sự.
Trong trường hợp trên, ông X sẽ bị áp dụng chế độ trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Vì:
=> Vì vậy, ông X có thể bị khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử tại Việt Nam, đồng thời phải chịu hình phạt như phạt tù, phạt tiền, tịch thu tang vật, thậm chí có thể bị trục xuất sau khi chấp hành xong hình phạt nếu pháp luật quy định.