Bài học liên quan
Viết: Viết bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch)
1. Yêu cầu về bài văn nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (kịch)
- Giới thiệu khái quát về tác phẩm kịch (tên tác phẩm, tên tác giả, thể loại), nêu được nhận định chung về tác phẩm.
- Làm rõ được nội dung chủ đề của tác phẩm.
- Phân tích được những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm kịch (cốt truyện, nhân vật, hành động, xung đột, lời thoại,...) và hiệu quả thẩm mĩ của chúng; tập trung vào một số yếu tố nghệ thuật nổi bật nhất của tác phẩm.
- Triển khai được hệ thống luận điểm chặt chẽ; sử dụng lí lẽ, bằng chứng xác đáng từ tác phẩm kịch để làm sáng tỏ ý kiến nêu trong bài viết.
- Khẳng định được ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.
2. Phân tích bài viết tham khảo
Đọc bài viết Phân tích vở bi kịch "Yêu Ly" của Lưu Quang Thuận và trả lời những câu hỏi dưới đây.
Phân tích vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận
Trong số những vở kịch thơ ra đời ở thời kì trước năm 1945, Yêu Ly của tác giả Lưu Quang Thuận được coi là một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại bi kịch. Vở kịch lấy đề tài từ lịch sử Trung Quốc nhưng đã nói được những vấn đề chung của con người ở mọi thời đại.
Nội dung vở kịch kể về nhân vật Yêu Ly, một hàn sĩ ở ẩn, sống trong thời đại loạn, ước mơ có cơ hội thi thố tài năng, làm nên sự nghiệp lớn. Ngũ Tử Tư – quân sư của nước Ngô, tìm gặp Yêu Ly, bày tỏ lòng ngưỡng mộ tài đức của y. Ngũ Tử Tư kể cho Yêu Ly về kế hoạch bình thiên hạ của mình. Kế hoạch muốn thành công cần loại trừ Khánh Kỵ, một đối thủ của Ngô vương. Cảm kích trước tấm lòng tri ngộ của Ngũ Tử Tư và bị thuyết phục bởi mưu đồ lớn của người này, Yêu Ly quyết góp công thực hiện việc hạ thủ Khánh Kỵ. Y dùng khổ nhục kế để lấy lòng tin của Khánh Kỵ, sai giết vợ con, tự chặt cánh tay trái của mình rồi chạy sang nước Vệ, bảo rằng vua Ngô hại gia đình mình và từ nay xin thờ Khánh Kỵ làm minh chủ. Y được Khánh Kỵ trọng dụng, cùng Khánh Kỵ bàn cách đánh quân Ngô. Thừa lúc cùng Khánh Kỵ huấn luyện thuỷ quân tập trận, Yêu Ly đâm chết Khánh Kỵ rồi tự kết án mình và tự sát.
Bi kịch Yêu Ly đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến ý nghĩa sự tồn tại của con người trong các mối quan hệ và giá trị của những mối quan hệ ấy: gia đình, cá nhân, lí tưởng, sự nghiệp, nghĩa và tình, ân và oán, đãi ngộ và phản trắc,... Con người bị đặt vào vòng xoáy của xung đột giữa các giá trị, theo đó, sự lựa chọn giá trị này cũng là sự phá vỡ giá trị khác. Không giống như hài kịch, xung đột trong bi kịch thường dẫn đến những tổn thất ghê gớm do không thể điều hoà giữa các mặt đối nghịch. Ở vở Yêu Ly có sự xung đột quyết liệt giữa những giá trị ngang bằng nhau: một bên là tình chồng vợ, cha con với một bên là khát vọng lập công của đấng nam nhi, một bên là thân thể cha sinh mẹ dưỡng, tình tri kỉ với một bên là ý chí phụng sự minh chủ. Giá trị nào trong số này bị hi sinh cũng sẽ gây những thương tích không thể chữa lành. Không thể dung hoà được các giá trị, vẹn toàn được các mặt đời sống, nhân vật Yêu Ly tự nguyện hi sinh bản thân, vợ con, theo đuổi mục tiêu giết kẻ thù của Ngô vương, đền ơn tri ngộ của Ngũ Tử Tư. Lời thoại sau đây thể hiện sự đau đớn của nhân vật khi quyết định lựa chọn con đường mà ông ta cho là “nghĩa lớn”:
Hồn thê tử dẫu lìa xa thế giới
Xin theo ta ngoài cõi rét phong sương
Hiền thê ơi hôm nay ta lên đường,
Đời lủi thủi một mình ta sống trọn
Nhưng trên khổ đau hãy còn nghĩa lớn...
Việc nhân vật chủ động chọn lựa những giá trị mà mình coi trọng đã thúc đẩy hành động kịch phát triển. Yêu Ly vừa là người chiến thắng vừa là kẻ chiến bại, vừa là người có tội vừa không có tội. Yêu Ly thực hiện thành công mưu đồ hành thích Khánh Kỵ, song, chính lúc đó, nhân vật tự nhận ra sự thảm bại của con người mình: trở thành kẻ bất nhân, bất trí, bất tín:
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
Có thể thấy nhân vật bi kịch sa vào tình trạng bất hạnh không phải vì sự xấu xa của nó. A-rít-xtốt cho rằng có ba loại người: thật tốt, thật xấu, và ở giữa tốt và xấu, nhân vật bi kịch là loại “ở giữa”, tốt nhưng có thể mắc sai lầm, mù quáng. Nhân vật Yêu Ly là người có ý chí, tải trí, kiên định theo đuổi sự nghiệp. Việc nhân vật lựa chọn hi sinh cá nhân, gia đình, tình nghĩa tri kỉ đồng nghĩa với việc ông ta chấp nhận sự trả giá đau đớn.
Phần cuối vở kịch khắc hoạ sâu sắc bi kịch nội tâm của Yêu Ly. Khánh Kỵ hay Ngô vương, ai là người xứng đáng để Yêu Ly dốc lòng phò tá? Theo các tài liệu lịch sử Trung Quốc, Khánh Kỵ là người tài trí trong thiên hạ, vua cha bị giết, phải rời cố quốc mưu tính việc khôi phục vương quyền. Ngô vương lên ngôi được là do triệt hạ cha Khánh Kỵ. Phải chăng, Yêu Ly đã vỡ lẽ tính vô luân, bất nghĩa của việc hành thích Khánh Kỵ? Vì giúp Ngô vương, ông ta đã giết một người hết mực trọng tài và biệt đãi mình. Tác giả đã diễn tả nỗi dằn vặt của nhân vật trong lời độc thoại:
Điều bất tin sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Từ sự nhận thức về tình thế của mình, nhân vật ngộ ra sự vô nghĩa của hành động giết vợ con và tự huỷ bản thân. Ở Yêu Ly, không có sự hân hoan của người toại chí. Người chiến thắng cũng là kẻ thất bại. Sự tự trừng phạt của Yêu Ly vì thế là kết quả tất yếu của toàn bộ hành động kịch. Sự giằng xé về tinh thần ở nhân vật Yêu Ly tạo cho mạch truyện một khúc ngoặt bất ngờ, khép lại việc thanh trừng đối thủ của Ngô vương trong cuộc tranh giành ngôi vị, mở ra xung đột nội tâm dữ dội, dẫn đến kết cục đặc trưng của bi kịch – sân khấu “trắng”, các nhân vật chính tiêu vong.
Trong Yêu Ly, thông qua sự bại vong của những con người xuất chúng, Lưu Quang Thuận gợi ra ở người đọc những cảm nhận sâu sắc về số phận con người nói chung trong hành trình sống khi phải đối mặt với những biến động ghê gớm của lịch sử, những thử thách khốc liệt hay những lựa chọn khó khăn. Đôi khi, trong một số thời điểm và hoàn cảnh, việc phân định các giá trị đời sống không hề dễ dàng. Cái chết của Khánh Kỵ và Yêu Ly, hai “người hùng” theo cách đánh giá của chính các nhân vật, đã tạo nên hiệu ứng kinh sợ, đau xót, đồng thời cũng mang đến sự thức tỉnh về những giá trị nhân văn như tình chồng vợ, cha con, lòng cao thượng, tình tri kỉ,... Ở đây, khả năng lớn của thể thơ tám chữ trong việc diễn tả những tâm trạng căng thẳng, dồn nén đã được tác giả khai thác hết sức thành công. Ưu thế của lớp từ Hán Việt trong việc khơi gợi không khí cổ kính của bối cảnh hay khí chất trượng phu của nhân vật chính cũng đã được nhà viết kịch tô đậm. Tất cả hoà hợp với nhau, tạo nên hiệu quả tác động mạnh mẽ mang tính đặc thù của một vở bi kịch đích thực.
Vở bi kịch Yêu Ly gợi ra nhiều lớp nghĩa phong phú. Người tiếp nhận tác phẩm sẽ không tìm thấy ở đó lời xác quyết về cái đúng cái sai. Qua sự xung đột giữa lí tưởng và đạo đức cùng nỗi đau đớn của con người, chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn về các mối quan hệ đời sống, tự nhận ra đâu là điều chúng ta cần coi trọng và lựa chọn. Vở kịch không chỉ là câu chuyện của những cá nhân ở một thời xa xôi của lịch sử. Nó còn hiển hiện một tình thế mà nhân loại phải đối mặt trong suốt hành trình tồn tại của mình.
(Nhóm biên soạn)
Phần mở bài đã giới thiệu được những thông tin nào sau đây? (Chọn 2 đáp án)
Phân tích vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận
Trong số những vở kịch thơ ra đời ở thời kì trước năm 1945, Yêu Ly của tác giả Lưu Quang Thuận được coi là một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại bi kịch. Vở kịch lấy đề tài từ lịch sử Trung Quốc nhưng đã nói được những vấn đề chung của con người ở mọi thời đại.
Nội dung vở kịch kể về nhân vật Yêu Ly, một hàn sĩ ở ẩn, sống trong thời đại loạn, ước mơ có cơ hội thi thố tài năng, làm nên sự nghiệp lớn. Ngũ Tử Tư – quân sư của nước Ngô, tìm gặp Yêu Ly, bày tỏ lòng ngưỡng mộ tài đức của y. Ngũ Tử Tư kể cho Yêu Ly về kế hoạch bình thiên hạ của mình. Kế hoạch muốn thành công cần loại trừ Khánh Kỵ, một đối thủ của Ngô vương. Cảm kích trước tấm lòng tri ngộ của Ngũ Tử Tư và bị thuyết phục bởi mưu đồ lớn của người này, Yêu Ly quyết góp công thực hiện việc hạ thủ Khánh Kỵ. Y dùng khổ nhục kế để lấy lòng tin của Khánh Kỵ, sai giết vợ con, tự chặt cánh tay trái của mình rồi chạy sang nước Vệ, bảo rằng vua Ngô hại gia đình mình và từ nay xin thờ Khánh Kỵ làm minh chủ. Y được Khánh Kỵ trọng dụng, cùng Khánh Kỵ bàn cách đánh quân Ngô. Thừa lúc cùng Khánh Kỵ huấn luyện thuỷ quân tập trận, Yêu Ly đâm chết Khánh Kỵ rồi tự kết án mình và tự sát.
Bi kịch Yêu Ly đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến ý nghĩa sự tồn tại của con người trong các mối quan hệ và giá trị của những mối quan hệ ấy: gia đình, cá nhân, lí tưởng, sự nghiệp, nghĩa và tình, ân và oán, đãi ngộ và phản trắc,... Con người bị đặt vào vòng xoáy của xung đột giữa các giá trị, theo đó, sự lựa chọn giá trị này cũng là sự phá vỡ giá trị khác. Không giống như hài kịch, xung đột trong bi kịch thường dẫn đến những tổn thất ghê gớm do không thể điều hoà giữa các mặt đối nghịch. Ở vở Yêu Ly có sự xung đột quyết liệt giữa những giá trị ngang bằng nhau: một bên là tình chồng vợ, cha con với một bên là khát vọng lập công của đấng nam nhi, một bên là thân thể cha sinh mẹ dưỡng, tình tri kỉ với một bên là ý chí phụng sự minh chủ. Giá trị nào trong số này bị hi sinh cũng sẽ gây những thương tích không thể chữa lành. Không thể dung hoà được các giá trị, vẹn toàn được các mặt đời sống, nhân vật Yêu Ly tự nguyện hi sinh bản thân, vợ con, theo đuổi mục tiêu giết kẻ thù của Ngô vương, đền ơn tri ngộ của Ngũ Tử Tư. Lời thoại sau đây thể hiện sự đau đớn của nhân vật khi quyết định lựa chọn con đường mà ông ta cho là “nghĩa lớn”:
Hồn thê tử dẫu lìa xa thế giới
Xin theo ta ngoài cõi rét phong sương
Hiền thê ơi hôm nay ta lên đường,
Đời lủi thủi một mình ta sống trọn
Nhưng trên khổ đau hãy còn nghĩa lớn...
Việc nhân vật chủ động chọn lựa những giá trị mà mình coi trọng đã thúc đẩy hành động kịch phát triển. Yêu Ly vừa là người chiến thắng vừa là kẻ chiến bại, vừa là người có tội vừa không có tội. Yêu Ly thực hiện thành công mưu đồ hành thích Khánh Kỵ, song, chính lúc đó, nhân vật tự nhận ra sự thảm bại của con người mình: trở thành kẻ bất nhân, bất trí, bất tín:
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
Có thể thấy nhân vật bi kịch sa vào tình trạng bất hạnh không phải vì sự xấu xa của nó. A-rít-xtốt cho rằng có ba loại người: thật tốt, thật xấu, và ở giữa tốt và xấu, nhân vật bi kịch là loại “ở giữa”, tốt nhưng có thể mắc sai lầm, mù quáng. Nhân vật Yêu Ly là người có ý chí, tải trí, kiên định theo đuổi sự nghiệp. Việc nhân vật lựa chọn hi sinh cá nhân, gia đình, tình nghĩa tri kỉ đồng nghĩa với việc ông ta chấp nhận sự trả giá đau đớn.
Phần cuối vở kịch khắc hoạ sâu sắc bi kịch nội tâm của Yêu Ly. Khánh Kỵ hay Ngô vương, ai là người xứng đáng để Yêu Ly dốc lòng phò tá? Theo các tài liệu lịch sử Trung Quốc, Khánh Kỵ là người tài trí trong thiên hạ, vua cha bị giết, phải rời cố quốc mưu tính việc khôi phục vương quyền. Ngô vương lên ngôi được là do triệt hạ cha Khánh Kỵ. Phải chăng, Yêu Ly đã vỡ lẽ tính vô luân, bất nghĩa của việc hành thích Khánh Kỵ? Vì giúp Ngô vương, ông ta đã giết một người hết mực trọng tài và biệt đãi mình. Tác giả đã diễn tả nỗi dằn vặt của nhân vật trong lời độc thoại:
Điều bất tin sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Từ sự nhận thức về tình thế của mình, nhân vật ngộ ra sự vô nghĩa của hành động giết vợ con và tự huỷ bản thân. Ở Yêu Ly, không có sự hân hoan của người toại chí. Người chiến thắng cũng là kẻ thất bại. Sự tự trừng phạt của Yêu Ly vì thế là kết quả tất yếu của toàn bộ hành động kịch. Sự giằng xé về tinh thần ở nhân vật Yêu Ly tạo cho mạch truyện một khúc ngoặt bất ngờ, khép lại việc thanh trừng đối thủ của Ngô vương trong cuộc tranh giành ngôi vị, mở ra xung đột nội tâm dữ dội, dẫn đến kết cục đặc trưng của bi kịch – sân khấu “trắng”, các nhân vật chính tiêu vong.
Trong Yêu Ly, thông qua sự bại vong của những con người xuất chúng, Lưu Quang Thuận gợi ra ở người đọc những cảm nhận sâu sắc về số phận con người nói chung trong hành trình sống khi phải đối mặt với những biến động ghê gớm của lịch sử, những thử thách khốc liệt hay những lựa chọn khó khăn. Đôi khi, trong một số thời điểm và hoàn cảnh, việc phân định các giá trị đời sống không hề dễ dàng. Cái chết của Khánh Kỵ và Yêu Ly, hai “người hùng” theo cách đánh giá của chính các nhân vật, đã tạo nên hiệu ứng kinh sợ, đau xót, đồng thời cũng mang đến sự thức tỉnh về những giá trị nhân văn như tình chồng vợ, cha con, lòng cao thượng, tình tri kỉ,... Ở đây, khả năng lớn của thể thơ tám chữ trong việc diễn tả những tâm trạng căng thẳng, dồn nén đã được tác giả khai thác hết sức thành công. Ưu thế của lớp từ Hán Việt trong việc khơi gợi không khí cổ kính của bối cảnh hay khí chất trượng phu của nhân vật chính cũng đã được nhà viết kịch tô đậm. Tất cả hoà hợp với nhau, tạo nên hiệu quả tác động mạnh mẽ mang tính đặc thù của một vở bi kịch đích thực.
Vở bi kịch Yêu Ly gợi ra nhiều lớp nghĩa phong phú. Người tiếp nhận tác phẩm sẽ không tìm thấy ở đó lời xác quyết về cái đúng cái sai. Qua sự xung đột giữa lí tưởng và đạo đức cùng nỗi đau đớn của con người, chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn về các mối quan hệ đời sống, tự nhận ra đâu là điều chúng ta cần coi trọng và lựa chọn. Vở kịch không chỉ là câu chuyện của những cá nhân ở một thời xa xôi của lịch sử. Nó còn hiển hiện một tình thế mà nhân loại phải đối mặt trong suốt hành trình tồn tại của mình.
(Nhóm biên soạn)
Chủ đề của bài viết là
Phân tích vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận
Trong số những vở kịch thơ ra đời ở thời kì trước năm 1945, Yêu Ly của tác giả Lưu Quang Thuận được coi là một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại bi kịch. Vở kịch lấy đề tài từ lịch sử Trung Quốc nhưng đã nói được những vấn đề chung của con người ở mọi thời đại.
Nội dung vở kịch kể về nhân vật Yêu Ly, một hàn sĩ ở ẩn, sống trong thời đại loạn, ước mơ có cơ hội thi thố tài năng, làm nên sự nghiệp lớn. Ngũ Tử Tư – quân sư của nước Ngô, tìm gặp Yêu Ly, bày tỏ lòng ngưỡng mộ tài đức của y. Ngũ Tử Tư kể cho Yêu Ly về kế hoạch bình thiên hạ của mình. Kế hoạch muốn thành công cần loại trừ Khánh Kỵ, một đối thủ của Ngô vương. Cảm kích trước tấm lòng tri ngộ của Ngũ Tử Tư và bị thuyết phục bởi mưu đồ lớn của người này, Yêu Ly quyết góp công thực hiện việc hạ thủ Khánh Kỵ. Y dùng khổ nhục kế để lấy lòng tin của Khánh Kỵ, sai giết vợ con, tự chặt cánh tay trái của mình rồi chạy sang nước Vệ, bảo rằng vua Ngô hại gia đình mình và từ nay xin thờ Khánh Kỵ làm minh chủ. Y được Khánh Kỵ trọng dụng, cùng Khánh Kỵ bàn cách đánh quân Ngô. Thừa lúc cùng Khánh Kỵ huấn luyện thuỷ quân tập trận, Yêu Ly đâm chết Khánh Kỵ rồi tự kết án mình và tự sát.
Bi kịch Yêu Ly đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến ý nghĩa sự tồn tại của con người trong các mối quan hệ và giá trị của những mối quan hệ ấy: gia đình, cá nhân, lí tưởng, sự nghiệp, nghĩa và tình, ân và oán, đãi ngộ và phản trắc,... Con người bị đặt vào vòng xoáy của xung đột giữa các giá trị, theo đó, sự lựa chọn giá trị này cũng là sự phá vỡ giá trị khác. Không giống như hài kịch, xung đột trong bi kịch thường dẫn đến những tổn thất ghê gớm do không thể điều hoà giữa các mặt đối nghịch. Ở vở Yêu Ly có sự xung đột quyết liệt giữa những giá trị ngang bằng nhau: một bên là tình chồng vợ, cha con với một bên là khát vọng lập công của đấng nam nhi, một bên là thân thể cha sinh mẹ dưỡng, tình tri kỉ với một bên là ý chí phụng sự minh chủ. Giá trị nào trong số này bị hi sinh cũng sẽ gây những thương tích không thể chữa lành. Không thể dung hoà được các giá trị, vẹn toàn được các mặt đời sống, nhân vật Yêu Ly tự nguyện hi sinh bản thân, vợ con, theo đuổi mục tiêu giết kẻ thù của Ngô vương, đền ơn tri ngộ của Ngũ Tử Tư. Lời thoại sau đây thể hiện sự đau đớn của nhân vật khi quyết định lựa chọn con đường mà ông ta cho là “nghĩa lớn”:
Hồn thê tử dẫu lìa xa thế giới
Xin theo ta ngoài cõi rét phong sương
Hiền thê ơi hôm nay ta lên đường,
Đời lủi thủi một mình ta sống trọn
Nhưng trên khổ đau hãy còn nghĩa lớn...
Việc nhân vật chủ động chọn lựa những giá trị mà mình coi trọng đã thúc đẩy hành động kịch phát triển. Yêu Ly vừa là người chiến thắng vừa là kẻ chiến bại, vừa là người có tội vừa không có tội. Yêu Ly thực hiện thành công mưu đồ hành thích Khánh Kỵ, song, chính lúc đó, nhân vật tự nhận ra sự thảm bại của con người mình: trở thành kẻ bất nhân, bất trí, bất tín:
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
Có thể thấy nhân vật bi kịch sa vào tình trạng bất hạnh không phải vì sự xấu xa của nó. A-rít-xtốt cho rằng có ba loại người: thật tốt, thật xấu, và ở giữa tốt và xấu, nhân vật bi kịch là loại “ở giữa”, tốt nhưng có thể mắc sai lầm, mù quáng. Nhân vật Yêu Ly là người có ý chí, tải trí, kiên định theo đuổi sự nghiệp. Việc nhân vật lựa chọn hi sinh cá nhân, gia đình, tình nghĩa tri kỉ đồng nghĩa với việc ông ta chấp nhận sự trả giá đau đớn.
Phần cuối vở kịch khắc hoạ sâu sắc bi kịch nội tâm của Yêu Ly. Khánh Kỵ hay Ngô vương, ai là người xứng đáng để Yêu Ly dốc lòng phò tá? Theo các tài liệu lịch sử Trung Quốc, Khánh Kỵ là người tài trí trong thiên hạ, vua cha bị giết, phải rời cố quốc mưu tính việc khôi phục vương quyền. Ngô vương lên ngôi được là do triệt hạ cha Khánh Kỵ. Phải chăng, Yêu Ly đã vỡ lẽ tính vô luân, bất nghĩa của việc hành thích Khánh Kỵ? Vì giúp Ngô vương, ông ta đã giết một người hết mực trọng tài và biệt đãi mình. Tác giả đã diễn tả nỗi dằn vặt của nhân vật trong lời độc thoại:
Điều bất tin sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Từ sự nhận thức về tình thế của mình, nhân vật ngộ ra sự vô nghĩa của hành động giết vợ con và tự huỷ bản thân. Ở Yêu Ly, không có sự hân hoan của người toại chí. Người chiến thắng cũng là kẻ thất bại. Sự tự trừng phạt của Yêu Ly vì thế là kết quả tất yếu của toàn bộ hành động kịch. Sự giằng xé về tinh thần ở nhân vật Yêu Ly tạo cho mạch truyện một khúc ngoặt bất ngờ, khép lại việc thanh trừng đối thủ của Ngô vương trong cuộc tranh giành ngôi vị, mở ra xung đột nội tâm dữ dội, dẫn đến kết cục đặc trưng của bi kịch – sân khấu “trắng”, các nhân vật chính tiêu vong.
Trong Yêu Ly, thông qua sự bại vong của những con người xuất chúng, Lưu Quang Thuận gợi ra ở người đọc những cảm nhận sâu sắc về số phận con người nói chung trong hành trình sống khi phải đối mặt với những biến động ghê gớm của lịch sử, những thử thách khốc liệt hay những lựa chọn khó khăn. Đôi khi, trong một số thời điểm và hoàn cảnh, việc phân định các giá trị đời sống không hề dễ dàng. Cái chết của Khánh Kỵ và Yêu Ly, hai “người hùng” theo cách đánh giá của chính các nhân vật, đã tạo nên hiệu ứng kinh sợ, đau xót, đồng thời cũng mang đến sự thức tỉnh về những giá trị nhân văn như tình chồng vợ, cha con, lòng cao thượng, tình tri kỉ,... Ở đây, khả năng lớn của thể thơ tám chữ trong việc diễn tả những tâm trạng căng thẳng, dồn nén đã được tác giả khai thác hết sức thành công. Ưu thế của lớp từ Hán Việt trong việc khơi gợi không khí cổ kính của bối cảnh hay khí chất trượng phu của nhân vật chính cũng đã được nhà viết kịch tô đậm. Tất cả hoà hợp với nhau, tạo nên hiệu quả tác động mạnh mẽ mang tính đặc thù của một vở bi kịch đích thực.
Vở bi kịch Yêu Ly gợi ra nhiều lớp nghĩa phong phú. Người tiếp nhận tác phẩm sẽ không tìm thấy ở đó lời xác quyết về cái đúng cái sai. Qua sự xung đột giữa lí tưởng và đạo đức cùng nỗi đau đớn của con người, chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn về các mối quan hệ đời sống, tự nhận ra đâu là điều chúng ta cần coi trọng và lựa chọn. Vở kịch không chỉ là câu chuyện của những cá nhân ở một thời xa xôi của lịch sử. Nó còn hiển hiện một tình thế mà nhân loại phải đối mặt trong suốt hành trình tồn tại của mình.
(Nhóm biên soạn)
Chọn những phương diện đặc trưng của thể loại kịch được thể hiện trong bài viết. (Chọn 3 đáp án)
Phân tích vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận
Trong số những vở kịch thơ ra đời ở thời kì trước năm 1945, Yêu Ly của tác giả Lưu Quang Thuận được coi là một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại bi kịch. Vở kịch lấy đề tài từ lịch sử Trung Quốc nhưng đã nói được những vấn đề chung của con người ở mọi thời đại.
Nội dung vở kịch kể về nhân vật Yêu Ly, một hàn sĩ ở ẩn, sống trong thời đại loạn, ước mơ có cơ hội thi thố tài năng, làm nên sự nghiệp lớn. Ngũ Tử Tư – quân sư của nước Ngô, tìm gặp Yêu Ly, bày tỏ lòng ngưỡng mộ tài đức của y. Ngũ Tử Tư kể cho Yêu Ly về kế hoạch bình thiên hạ của mình. Kế hoạch muốn thành công cần loại trừ Khánh Kỵ, một đối thủ của Ngô vương. Cảm kích trước tấm lòng tri ngộ của Ngũ Tử Tư và bị thuyết phục bởi mưu đồ lớn của người này, Yêu Ly quyết góp công thực hiện việc hạ thủ Khánh Kỵ. Y dùng khổ nhục kế để lấy lòng tin của Khánh Kỵ, sai giết vợ con, tự chặt cánh tay trái của mình rồi chạy sang nước Vệ, bảo rằng vua Ngô hại gia đình mình và từ nay xin thờ Khánh Kỵ làm minh chủ. Y được Khánh Kỵ trọng dụng, cùng Khánh Kỵ bàn cách đánh quân Ngô. Thừa lúc cùng Khánh Kỵ huấn luyện thuỷ quân tập trận, Yêu Ly đâm chết Khánh Kỵ rồi tự kết án mình và tự sát.
Bi kịch Yêu Ly đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến ý nghĩa sự tồn tại của con người trong các mối quan hệ và giá trị của những mối quan hệ ấy: gia đình, cá nhân, lí tưởng, sự nghiệp, nghĩa và tình, ân và oán, đãi ngộ và phản trắc,... Con người bị đặt vào vòng xoáy của xung đột giữa các giá trị, theo đó, sự lựa chọn giá trị này cũng là sự phá vỡ giá trị khác. Không giống như hài kịch, xung đột trong bi kịch thường dẫn đến những tổn thất ghê gớm do không thể điều hoà giữa các mặt đối nghịch. Ở vở Yêu Ly có sự xung đột quyết liệt giữa những giá trị ngang bằng nhau: một bên là tình chồng vợ, cha con với một bên là khát vọng lập công của đấng nam nhi, một bên là thân thể cha sinh mẹ dưỡng, tình tri kỉ với một bên là ý chí phụng sự minh chủ. Giá trị nào trong số này bị hi sinh cũng sẽ gây những thương tích không thể chữa lành. Không thể dung hoà được các giá trị, vẹn toàn được các mặt đời sống, nhân vật Yêu Ly tự nguyện hi sinh bản thân, vợ con, theo đuổi mục tiêu giết kẻ thù của Ngô vương, đền ơn tri ngộ của Ngũ Tử Tư. Lời thoại sau đây thể hiện sự đau đớn của nhân vật khi quyết định lựa chọn con đường mà ông ta cho là “nghĩa lớn”:
Hồn thê tử dẫu lìa xa thế giới
Xin theo ta ngoài cõi rét phong sương
Hiền thê ơi hôm nay ta lên đường,
Đời lủi thủi một mình ta sống trọn
Nhưng trên khổ đau hãy còn nghĩa lớn...
Việc nhân vật chủ động chọn lựa những giá trị mà mình coi trọng đã thúc đẩy hành động kịch phát triển. Yêu Ly vừa là người chiến thắng vừa là kẻ chiến bại, vừa là người có tội vừa không có tội. Yêu Ly thực hiện thành công mưu đồ hành thích Khánh Kỵ, song, chính lúc đó, nhân vật tự nhận ra sự thảm bại của con người mình: trở thành kẻ bất nhân, bất trí, bất tín:
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
Có thể thấy nhân vật bi kịch sa vào tình trạng bất hạnh không phải vì sự xấu xa của nó. A-rít-xtốt cho rằng có ba loại người: thật tốt, thật xấu, và ở giữa tốt và xấu, nhân vật bi kịch là loại “ở giữa”, tốt nhưng có thể mắc sai lầm, mù quáng. Nhân vật Yêu Ly là người có ý chí, tải trí, kiên định theo đuổi sự nghiệp. Việc nhân vật lựa chọn hi sinh cá nhân, gia đình, tình nghĩa tri kỉ đồng nghĩa với việc ông ta chấp nhận sự trả giá đau đớn.
Phần cuối vở kịch khắc hoạ sâu sắc bi kịch nội tâm của Yêu Ly. Khánh Kỵ hay Ngô vương, ai là người xứng đáng để Yêu Ly dốc lòng phò tá? Theo các tài liệu lịch sử Trung Quốc, Khánh Kỵ là người tài trí trong thiên hạ, vua cha bị giết, phải rời cố quốc mưu tính việc khôi phục vương quyền. Ngô vương lên ngôi được là do triệt hạ cha Khánh Kỵ. Phải chăng, Yêu Ly đã vỡ lẽ tính vô luân, bất nghĩa của việc hành thích Khánh Kỵ? Vì giúp Ngô vương, ông ta đã giết một người hết mực trọng tài và biệt đãi mình. Tác giả đã diễn tả nỗi dằn vặt của nhân vật trong lời độc thoại:
Điều bất tin sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Từ sự nhận thức về tình thế của mình, nhân vật ngộ ra sự vô nghĩa của hành động giết vợ con và tự huỷ bản thân. Ở Yêu Ly, không có sự hân hoan của người toại chí. Người chiến thắng cũng là kẻ thất bại. Sự tự trừng phạt của Yêu Ly vì thế là kết quả tất yếu của toàn bộ hành động kịch. Sự giằng xé về tinh thần ở nhân vật Yêu Ly tạo cho mạch truyện một khúc ngoặt bất ngờ, khép lại việc thanh trừng đối thủ của Ngô vương trong cuộc tranh giành ngôi vị, mở ra xung đột nội tâm dữ dội, dẫn đến kết cục đặc trưng của bi kịch – sân khấu “trắng”, các nhân vật chính tiêu vong.
Trong Yêu Ly, thông qua sự bại vong của những con người xuất chúng, Lưu Quang Thuận gợi ra ở người đọc những cảm nhận sâu sắc về số phận con người nói chung trong hành trình sống khi phải đối mặt với những biến động ghê gớm của lịch sử, những thử thách khốc liệt hay những lựa chọn khó khăn. Đôi khi, trong một số thời điểm và hoàn cảnh, việc phân định các giá trị đời sống không hề dễ dàng. Cái chết của Khánh Kỵ và Yêu Ly, hai “người hùng” theo cách đánh giá của chính các nhân vật, đã tạo nên hiệu ứng kinh sợ, đau xót, đồng thời cũng mang đến sự thức tỉnh về những giá trị nhân văn như tình chồng vợ, cha con, lòng cao thượng, tình tri kỉ,... Ở đây, khả năng lớn của thể thơ tám chữ trong việc diễn tả những tâm trạng căng thẳng, dồn nén đã được tác giả khai thác hết sức thành công. Ưu thế của lớp từ Hán Việt trong việc khơi gợi không khí cổ kính của bối cảnh hay khí chất trượng phu của nhân vật chính cũng đã được nhà viết kịch tô đậm. Tất cả hoà hợp với nhau, tạo nên hiệu quả tác động mạnh mẽ mang tính đặc thù của một vở bi kịch đích thực.
Vở bi kịch Yêu Ly gợi ra nhiều lớp nghĩa phong phú. Người tiếp nhận tác phẩm sẽ không tìm thấy ở đó lời xác quyết về cái đúng cái sai. Qua sự xung đột giữa lí tưởng và đạo đức cùng nỗi đau đớn của con người, chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn về các mối quan hệ đời sống, tự nhận ra đâu là điều chúng ta cần coi trọng và lựa chọn. Vở kịch không chỉ là câu chuyện của những cá nhân ở một thời xa xôi của lịch sử. Nó còn hiển hiện một tình thế mà nhân loại phải đối mặt trong suốt hành trình tồn tại của mình.
(Nhóm biên soạn)
Bài viết phân tích những phương diện nổi bật nào của vở kịch?
Phân tích vở bi kịch Yêu Ly của Lưu Quang Thuận
Trong số những vở kịch thơ ra đời ở thời kì trước năm 1945, Yêu Ly của tác giả Lưu Quang Thuận được coi là một tác phẩm tiêu biểu cho thể loại bi kịch. Vở kịch lấy đề tài từ lịch sử Trung Quốc nhưng đã nói được những vấn đề chung của con người ở mọi thời đại.
Nội dung vở kịch kể về nhân vật Yêu Ly, một hàn sĩ ở ẩn, sống trong thời đại loạn, ước mơ có cơ hội thi thố tài năng, làm nên sự nghiệp lớn. Ngũ Tử Tư – quân sư của nước Ngô, tìm gặp Yêu Ly, bày tỏ lòng ngưỡng mộ tài đức của y. Ngũ Tử Tư kể cho Yêu Ly về kế hoạch bình thiên hạ của mình. Kế hoạch muốn thành công cần loại trừ Khánh Kỵ, một đối thủ của Ngô vương. Cảm kích trước tấm lòng tri ngộ của Ngũ Tử Tư và bị thuyết phục bởi mưu đồ lớn của người này, Yêu Ly quyết góp công thực hiện việc hạ thủ Khánh Kỵ. Y dùng khổ nhục kế để lấy lòng tin của Khánh Kỵ, sai giết vợ con, tự chặt cánh tay trái của mình rồi chạy sang nước Vệ, bảo rằng vua Ngô hại gia đình mình và từ nay xin thờ Khánh Kỵ làm minh chủ. Y được Khánh Kỵ trọng dụng, cùng Khánh Kỵ bàn cách đánh quân Ngô. Thừa lúc cùng Khánh Kỵ huấn luyện thuỷ quân tập trận, Yêu Ly đâm chết Khánh Kỵ rồi tự kết án mình và tự sát.
Bi kịch Yêu Ly đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến ý nghĩa sự tồn tại của con người trong các mối quan hệ và giá trị của những mối quan hệ ấy: gia đình, cá nhân, lí tưởng, sự nghiệp, nghĩa và tình, ân và oán, đãi ngộ và phản trắc,... Con người bị đặt vào vòng xoáy của xung đột giữa các giá trị, theo đó, sự lựa chọn giá trị này cũng là sự phá vỡ giá trị khác. Không giống như hài kịch, xung đột trong bi kịch thường dẫn đến những tổn thất ghê gớm do không thể điều hoà giữa các mặt đối nghịch. Ở vở Yêu Ly có sự xung đột quyết liệt giữa những giá trị ngang bằng nhau: một bên là tình chồng vợ, cha con với một bên là khát vọng lập công của đấng nam nhi, một bên là thân thể cha sinh mẹ dưỡng, tình tri kỉ với một bên là ý chí phụng sự minh chủ. Giá trị nào trong số này bị hi sinh cũng sẽ gây những thương tích không thể chữa lành. Không thể dung hoà được các giá trị, vẹn toàn được các mặt đời sống, nhân vật Yêu Ly tự nguyện hi sinh bản thân, vợ con, theo đuổi mục tiêu giết kẻ thù của Ngô vương, đền ơn tri ngộ của Ngũ Tử Tư. Lời thoại sau đây thể hiện sự đau đớn của nhân vật khi quyết định lựa chọn con đường mà ông ta cho là “nghĩa lớn”:
Hồn thê tử dẫu lìa xa thế giới
Xin theo ta ngoài cõi rét phong sương
Hiền thê ơi hôm nay ta lên đường,
Đời lủi thủi một mình ta sống trọn
Nhưng trên khổ đau hãy còn nghĩa lớn...
Việc nhân vật chủ động chọn lựa những giá trị mà mình coi trọng đã thúc đẩy hành động kịch phát triển. Yêu Ly vừa là người chiến thắng vừa là kẻ chiến bại, vừa là người có tội vừa không có tội. Yêu Ly thực hiện thành công mưu đồ hành thích Khánh Kỵ, song, chính lúc đó, nhân vật tự nhận ra sự thảm bại của con người mình: trở thành kẻ bất nhân, bất trí, bất tín:
Ta vừa đâm Khánh Kỵ giữa phong ba,
Giữ vẹn lời cam kết lúc chia xa,
Nhưng khốn nỗi, lòng ta muốn cắn rứt
Mơ bóng thê nhi nỗi niềm day dứt,
Bất tín trên đời, thêm bất trí, bất nhân.
Sống chi thêm cho sỉ nhục trăm phần
Hỡi gươm báu giùm ta xong một kiếp!
Có thể thấy nhân vật bi kịch sa vào tình trạng bất hạnh không phải vì sự xấu xa của nó. A-rít-xtốt cho rằng có ba loại người: thật tốt, thật xấu, và ở giữa tốt và xấu, nhân vật bi kịch là loại “ở giữa”, tốt nhưng có thể mắc sai lầm, mù quáng. Nhân vật Yêu Ly là người có ý chí, tải trí, kiên định theo đuổi sự nghiệp. Việc nhân vật lựa chọn hi sinh cá nhân, gia đình, tình nghĩa tri kỉ đồng nghĩa với việc ông ta chấp nhận sự trả giá đau đớn.
Phần cuối vở kịch khắc hoạ sâu sắc bi kịch nội tâm của Yêu Ly. Khánh Kỵ hay Ngô vương, ai là người xứng đáng để Yêu Ly dốc lòng phò tá? Theo các tài liệu lịch sử Trung Quốc, Khánh Kỵ là người tài trí trong thiên hạ, vua cha bị giết, phải rời cố quốc mưu tính việc khôi phục vương quyền. Ngô vương lên ngôi được là do triệt hạ cha Khánh Kỵ. Phải chăng, Yêu Ly đã vỡ lẽ tính vô luân, bất nghĩa của việc hành thích Khánh Kỵ? Vì giúp Ngô vương, ông ta đã giết một người hết mực trọng tài và biệt đãi mình. Tác giả đã diễn tả nỗi dằn vặt của nhân vật trong lời độc thoại:
Điều bất tin sẽ truyền lưu miệng thế.
Trong kiếp sống thử còn chi đáng kể?
Từ sự nhận thức về tình thế của mình, nhân vật ngộ ra sự vô nghĩa của hành động giết vợ con và tự huỷ bản thân. Ở Yêu Ly, không có sự hân hoan của người toại chí. Người chiến thắng cũng là kẻ thất bại. Sự tự trừng phạt của Yêu Ly vì thế là kết quả tất yếu của toàn bộ hành động kịch. Sự giằng xé về tinh thần ở nhân vật Yêu Ly tạo cho mạch truyện một khúc ngoặt bất ngờ, khép lại việc thanh trừng đối thủ của Ngô vương trong cuộc tranh giành ngôi vị, mở ra xung đột nội tâm dữ dội, dẫn đến kết cục đặc trưng của bi kịch – sân khấu “trắng”, các nhân vật chính tiêu vong.
Trong Yêu Ly, thông qua sự bại vong của những con người xuất chúng, Lưu Quang Thuận gợi ra ở người đọc những cảm nhận sâu sắc về số phận con người nói chung trong hành trình sống khi phải đối mặt với những biến động ghê gớm của lịch sử, những thử thách khốc liệt hay những lựa chọn khó khăn. Đôi khi, trong một số thời điểm và hoàn cảnh, việc phân định các giá trị đời sống không hề dễ dàng. Cái chết của Khánh Kỵ và Yêu Ly, hai “người hùng” theo cách đánh giá của chính các nhân vật, đã tạo nên hiệu ứng kinh sợ, đau xót, đồng thời cũng mang đến sự thức tỉnh về những giá trị nhân văn như tình chồng vợ, cha con, lòng cao thượng, tình tri kỉ,... Ở đây, khả năng lớn của thể thơ tám chữ trong việc diễn tả những tâm trạng căng thẳng, dồn nén đã được tác giả khai thác hết sức thành công. Ưu thế của lớp từ Hán Việt trong việc khơi gợi không khí cổ kính của bối cảnh hay khí chất trượng phu của nhân vật chính cũng đã được nhà viết kịch tô đậm. Tất cả hoà hợp với nhau, tạo nên hiệu quả tác động mạnh mẽ mang tính đặc thù của một vở bi kịch đích thực.
Vở bi kịch Yêu Ly gợi ra nhiều lớp nghĩa phong phú. Người tiếp nhận tác phẩm sẽ không tìm thấy ở đó lời xác quyết về cái đúng cái sai. Qua sự xung đột giữa lí tưởng và đạo đức cùng nỗi đau đớn của con người, chúng ta cảm nhận sâu sắc hơn về các mối quan hệ đời sống, tự nhận ra đâu là điều chúng ta cần coi trọng và lựa chọn. Vở kịch không chỉ là câu chuyện của những cá nhân ở một thời xa xôi của lịch sử. Nó còn hiển hiện một tình thế mà nhân loại phải đối mặt trong suốt hành trình tồn tại của mình.
(Nhóm biên soạn)
Phần kết bài, bài viết đã xác định ý nghĩa và giá trị của vở kịch như thế nào? (Chọn 2 đáp án)
3. Dàn ý
- Mở bài: Giới thiệu tác phẩm, tác giả; nêu nhận định chung về tác phẩm kịch.
- Thân bài:
+ Phân tích nội dung chủ đề của tác phẩm, có lí lẽ và bằng chứng.
+ Phân tích những nét đặc sắc về hình thức nghệ thuật của tác phẩm (xung đột, hành động, cốt truyện, nhân vật, lời thoại,...) và hiệu quả thẩm mĩ của chúng, có lí lẽ và bằng chứng.
- Kết bài: Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tác phẩm.