Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm thơ (Phần 1) SVIP
I. Định hướng
1. Khái niệm
– Với dạng bài nghị luận về một tác phẩm thơ, cần lưu ý:
+ Trước hết, các bài thơ là một cấu trúc có tính chỉnh thể, trong đó các yếu tố nghệ thuật trong bài thơ có sự gắn kết, tương tác để làm nên một thể thống nhất, từ đó thể hiện một nội dung hoàn chỉnh và đưa ra những thông điệp độc đáo, hàm súc. Do vậy, khi đọc một bài thơ, cần nhìn bài thơ trong tính chỉnh thể của nó.
Câu hỏi:
@208270616865@
+ Bên cạnh đó, bài thơ hay gắn liền với cách nhìn, cách cảm thụ độc đáo về thế giới của tác giả. Vì vậy, khi nghị luận về một tác phẩm thơ, cần đặt bài thơ trong sự so sánh với các bài thơ khác để làm rõ hơn nét độc đáo về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm cần nghị luận.
– Khái niệm: Nghị luận về một tác phẩm thơ là phân tích, đánh giá toàn bộ tác phẩm hoặc có thể tập trung vào phân tích một số yếu tố về nội dung hoặc hình thức của bài thơ.
Câu hỏi:
@208270651786@
2. Yêu cầu
– Đọc kĩ bài thơ, đoạn thơ đề bài yêu cầu phân tích.
– Xác định các hình thức nghệ thuật trong bài thơ, đoạn thơ.
– Phân tích giá trị/ ý nghĩa của các hình thức nghệ thuật đó trong việc thể hiện nội dung, chủ đề bài bài thơ, đoạn thơ.
Câu hỏi:
@208271262281@
– Đưa ra các luận điểm cho bài phân tích, lựa chọn các dẫn chứng phù hợp trong bài thơ để đưa vào bài.
– Liên hệ, so sánh với các tác phẩm cùng đề tài, chủ đề để nhận xét nét tương đồng và khác biệt của tác giả, tác phẩm.
– Biết cách diễn đạt, sử dụng các từ ngữ để bày tỏ chính xác, truyền cảm những cảm nhận và rung động của bản thân với các chi tiết, hình ảnh... đặc sắc trong bài thơ.
– Trình bày được giá trị, tác động của bài thơ, đoạn thơ đối với người đọc và chính bản thân.
II. Phân tích bài viết tham khảo
Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm. Mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. [...] Trong đó, ta vẫn phải nhận bài Thu điếu là điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam (ở Bắc Bộ).
Có về thăm "Vườn Bùi chốn cũ" – đây là "xứ Vườn Bùi" theo đồng bào gọi cả vùng Trung Lương nằm trong xã Yên Đổ cũ, chứ không phải chỉ là khu vườn của nhà ở cụ Nguyễn Khuyến – mới càng hiểu rõ bài Ao thu lạnh lẽo nước trong veo. Sao lắm ao thế! Cả huyện Bình Lục là xứ đồng chiêm rất trũng kia mà. Nhiều ao cho nên ao nhỏ, ao nhỏ thì thuyền câu cũng theo đó mà "bé tẻo teo". Sóng biếc gợn rất nhẹ, một chiếc lá vàng rụng theo gió, bay bay xoay xoay rồi rơi xuống xa xa một cách khẽ khàng. Khung ao tuy hẹp vậy, nhưng làng cảnh cũng không thiếu không gian. Nhìn lên: trời thu xanh cao đám mây đọng lơ lửng; trông quanh: các lối đi trong làng hai bên tre biếc mọc sầm uất, chạy ngoắt ngoéo cho đến lúc tưởng như tre đã kín lại; mọi người ra đồng làm, cho nên làng vắng teo. Thơ hay là hay cả hồn lẫn xác, hay cả bài [...] không thể tóm tắt thơ được, mà phải đọc lại. Cái thú vị của bài Thu điếu là ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh tre, xanh trời, xanh bèo, có một màu vàng đâm ngang của chiếc lá thu rơi; ở những cử động: chiếc thuyền con lâu lâu mới nhích, sóng gợn tí, lá đưa vèo, tầng mây lửng, ngõ trúc quanh, chiếc cần buông, con cá động; ở các vần thơ: không phải chỉ giỏi vì là những tử vận hiểm hóc, mà chính hay vì kết hợp với từ, với nghĩa chữ, đến một cách thoải mái đúng chỗ, do một nhà nghệ sĩ cao tay; cả bài thơ không non ép một chữ nào, nhất là hai câu 3 – 4:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
đối với:
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo
thật tài tình; nhà thơ đã tìm được cái tốc độ bay của lá, vèo, để tương xứng với cái mức độ gợn của sóng: tí.
Quá trình ngôn ngữ của thơ đi từ thời Lê Hồng Đức, thật hãy còn vất vả nặng nề:
Trời muôn trượng thẳm làu làu sạch,
đến Nguyễn Khuyến đã thành ra:
Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao
thật trong sáng nhẹ nhàng, như không một trở lực nào níu được sự diễn đạt này nữa. Thế mới biết những câu thơ thoải mái tự nhiên là kết quả của một sự khổ luyện, khổ luyện qua những thời đại, hoặc là khổ luyện trong một người. Các bạn mới làm thơ nên khái niệm cho được thế nào là sự "đắc đạo" trong nghệ thuật ngôn ngữ.
Ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, nhìn gộp chung lại, là thành công tốt đẹp của quá trình dân tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam, trên đất nước ta, và dân tộc hoá hình thức lời thơ, câu thơ cho thật là Nôm, là Việt Nam.
(Theo Xuân Diệu, Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II, NXB Văn học, Hà Nội, 1982, tr. 174 – 185)
Câu hỏi:
@208325819123@ @208272299202@ @208272727153@ @208325758704@ @208325907252@
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây