Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm kịch (Phần 1) SVIP
I. Định hướng
1. Khái niệm
Câu hỏi:
@209736444729@
2. Yêu cầu
– Xác định được tiểu loại của kịch: Tác phẩm đang phân tích là bi kịch, hài kịch hay chính kịch.
– Nhận diện được việc phân chia hồi kịch thành các lớp nhỏ hơn, sự xuất hiện và tương tác của các nhân vật trong từng lớp.
– Nhận diện và phân tích được sự vận động của hành động kịch và xung đột kịch cũng như lời thoại của các nhân vật.
3. Lưu ý
Khi viết bài văn phân tích tác phẩm kịch, cần:
– Xác định được các hình thức nghệ thuật đặc sắc trong tác phẩm kịch hoặc đoạn trích mà đề bài yêu cầu phân tích.
– Tìm đọc các thông tin liên quan đến tác phẩm kịch sẽ bàn luận như thông tin về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, bối cảnh lịch sử,...
– Thực hiện theo các bước tạo lập bài văn nghị luận (phân tích một tác phẩm văn học) đã được học.
II. Phân tích bài viết tham khảo
Bài mẫu: Phân tích đoạn trích "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài", trích "Vũ Như Tô" của Nguyễn Huy Tưởng.
Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các nhiệm vụ.
Nguyễn Huy Tưởng (1912 – 1960) là một cây bút có tầm vóc lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ông là nhà văn giàu tâm huyết với nhân dân, đất nước, với nền văn hoá của dân tộc. Cảm hứng chủ đạo trong sáng tác của ông là cảm hứng lịch sử, vừa đậm chất bi kịch, vừa giàu chất lãng mạn. Tuy sáng tác khá nhiều thể loại, nhưng đóng góp nổi bật của ông là thể loại kịch và tiểu thuyết. Trong sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng, kịch Vũ Như Tô (1941) là một kiệt tác, kết tinh tư tưởng và tài năng nghệ thuật của nhà văn.
Từ một sự kiện lịch sử xảy ra ở thế kỉ XVI, dưới thời vua Lê Tương Dực, Nguyễn Huy Tưởng đã hư cấu, sáng tạo nên kịch Vũ Như Tô, đặt ra những vấn đề sâu sắc về cuộc sống và nghệ thuật. Quả là Vũ Như Tô có yếu tố lịch sử, nhưng cảm hứng chủ đạo của tác phẩm không phải là dựng lại, làm sống dậy một sự kiện lịch sử nên cũng không thể gọi nó là một vở kịch lịch sử. Căn cứ vào cảm hứng chủ đạo và nội dung, đặc trưng cấu thành và bản chất thể loại, hoàn toàn có căn cứ xác đáng, như một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra, Vũ Như Tô là một vở bi kịch.
Nhìn một cách tổng quát, Vũ Như Tô chứa đựng hai mâu thuẫn cơ bản: hai mâu thuẫn này có quan hệ mật thiết và tác động lẫn nhau. Mâu thuẫn thứ nhất là mâu thuẫn giữa nhân dân lao động khốn khổ lầm than và bọn hôn quân bạo chúa cùng với phe cánh của chúng sống xa hoa, truỵ lạc. Mâu thuẫn này vốn có từ trước, đến khi Lê Tương Dực bắt Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng đài, thì nó ngày càng thêm căng thẳng, đến hồi thứ năm đã lên tới đỉnh điểm và được giải quyết dứt khoát trên lập trường của nhân dân: hôn quân Lê Tương Dực bị giết, Nguyễn Vũ tự sát, Kim Phượng và đám cung nữ bị những kẻ nổi loạn nhục mạ, bắt bớ.
Mâu thuẫn thứ hai là mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời và lợi ích nhất thời, trực tiếp, thiết thực của nhân dân. Vũ Như Tô là một kiến trúc sư thiên tài, khao khát xây dựng "một cái đài vĩ đại, làm vinh dự cho non sông", để cho "dân ta nghìn thu được hãnh diện". Nhưng thời đại, hoàn cảnh của đất nước lúc bấy giờ không tạo điều kiện cho ông thực hiện khát vọng sáng tạo vĩ đại, chân chính đó. Không còn cách lựa chọn nào khác, Vũ Như Tô đã nghe theo lời khuyên của Đan Thiềm – một cung nữ "đồng bệnh" với ông – đành phải mượn uy quyền và tiền bạc của tên hôn quân Lê Tương Dực để thực hiện hoài bão lớn của mình. Nghiệt ngã thay, chính cái niềm khao khát được cống hiến, được sáng tạo chân thành ấy đã đẩy ông vào tình trạng đối nghịch với lợi ích trước mắt, trực tiếp và thiết thực của nhân dân. Mặc dù vốn yêu nhân dân, muốn cống hiến tài năng của mình để đem lại niềm tự hào và vinh quang cho đất nước, nhưng Vũ Như Tô lại bị quần chúng nhân dân, nhất là những người thợ, coi ông như kẻ thù của họ, như "con yêu con quỷ hại nước".
Vũ Như Tô là nhân vật trung tâm của vở kịch, được Nguyễn Huy Tưởng tập trung bút lực để dựng tâm trạng, khắc hoạ tính cách. Qua xung đột, qua đối thoại và độc thoại, Vũ Như Tô hiện lên, thực sự là một con người sống động, bộc lộ rõ tính cách và tâm trạng, mỗi lúc càng có thêm bề dày, chiều sâu, trở nên một nhân vật phức tạp, đa diện, nhiều chiều.
Bằng ngòi bút tràn đầy cảm hứng lãng mạn, Nguyễn Huy Tưởng đã khắc hoạ thành công hình tượng Vũ Như Tô – một kiến trúc sư thiên tài "ngàn năm chưa dễ có một". Xuất thân từ lớp người bình dân, Vũ vừa có năng khiếu bẩm sinh, vừa hơn người ở ý chí ham học, say mê nghề kiến trúc. Cũng như nhân vật Hộ trong truyện ngắn Đời thừa của Nam Cao, Vũ đã bỏ bao thời gian và tâm huyết để học nghề, để luyện tài, trau dồi nghề nghiệp của mình. Trong hai mươi năm trời, Vũ "khổ công trau nghề, nào hỏi, nào tập, nào khảo cứu, học cả vương chương toán pháp, địa lí, thiên văn, nghe tiếng ai giỏi là tìm đến thụ giáo, các đền đài dinh thự trong nước dù xa dù gần đều cố đi xem, cả những danh lam thắng tích ở Trung Quốc, ở Chiêm Thành, ở Tây Trúc cũng không quản đường trường, lần đến khảo sát". Nhờ thiên bẩm và sự khổ luyện, Vũ Như Tô thực sự là một tài năng xưa nay hiếm, có khả năng "tranh tinh xảo với hoá công", "chỉ một vẩy bút là chim, hoa đã hiện trên mảnh lụa, thần tình biến hoá như cảnh hoá công", "hoa tay tuyệt thế, chạm trổ, nạm, đục, xây dựng không kém đường gì. Lại có tài đào muôn kiểu hồ, vẽ những vườn hoa lộng lẫy như Bồng lai", "sai khiến gạch đá như ông tướng cầm quân, có thể xây những lâu đài cao cả, nóc vờn mây mà không hề tính sai một viên gạch nhỏ".
Vũ Như Tô là một nghệ sĩ đích thực, khao khát, say mê sáng tạo cái đẹp. Vũ âm thầm, miệt mài sáng tạo ngay cả khi đang trốn tránh sự truy bắt của triều đình. Trong suốt một năm đi trốn, "bị truy nã, khổ nhục trăm đường" nhưng Vũ Như Tô "cũng đã vẽ phác bản đồ Cửu Trùng đài, tính toán đâu đấy và đã ghi hết cả trong một cuốn sổ". Khát vọng sáng tạo như ngọn lửa âm thầm nhưng chẳng những không thực hiện được khát vọng lớn lao của mình mà còn phải trả giá bằng sinh mệnh của bản thân và của cả công trình nghệ thuật. Lí tưởng nghệ thuật của Vũ Như Tô chân chính, nhưng là lí tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần tuý của muôn đời, thoát li khỏi hoàn cảnh lịch sử – xã hội của đất nước, xa rời đời sống hiện thời của nhân dân lao động. [...]
Ngòi bút Nguyễn Huy Tưởng, đến hồi thứ năm của vở kịch, đã tập trung làm nổi bật tâm trạng bi kịch đầy căng thẳng của Vũ Như Tô khi phải tìm kiếm câu trả lời: Xây Cửu Trùng đài là đúng hay sai? Là có công hay có tội? Vũ Như Tô đúng là một nhân vật bi kịch bởi đã mang trong mình không chỉ những say mê, khát vọng lớn lao mà còn cả những lầm lạc trong suy nghĩ và hành động. Vũ Như Tô không nghĩ việc mình xây Cửu Trùng đài lại bị xem là tội ác. Đến khi cuộc bạo loạn đã nổ ra, Đan Thiềm hốt hoảng báo cho Vũ nguy cơ nếu không trốn đi thì ông sẽ bị giết; ông vẫn bình thản, khảng khái nói với Đam Thiềm: "Tôi sống với Cửu Trùng đài, chết cũng với Cửu Trùng đài. Tôi không thể xa Cửu Trùng đài một bước. Hồn tôi để cả đây, thì tôi chạy đi đâu?". Vũ vẫn không chịu đi vì vẫn đinh ninh tin vào động cơ và việc làm "chính đại quang minh" của mình, vẫn hi vọng sẽ thuyết phục được An Hoà hầu, một trong những kẻ cầm đầu phe nổi loạn. Song sự thực tàn nhẫn không diễn ra như ảo tưởng của Vũ Như Tô. Khi ông và Đan Thiềm bị bắt, Cửu Trùng đài bị đập phá, đốt thành tro bụi thì ông mới bừng tỉnh, xiết bao đau đớn, kinh hoàng ngửa mặt lên trời mà kêu lên: "Ôi mộng lớn! Ôi Đan Thiềm! Ôi Cửu Trùng đài!". Trong tiếng kêu ấy, mộng lớn, Đan Thiềm, Cửu Trùng đài dồn dập vang lên, hoà nhập và nhau thành nỗi đau bi tráng, thấu tận trời xanh và còn vang vọng cho đến hôm nay và mai sau.
[...]
Kịch Vũ Như Tô có nhiều nét đặc sắc về nghệ thuật. Ngôn ngữ kịch mang tính tổng hợp cao, đậm chất lãng mạn. Xung đột kịch vừa căng thẳng, vừa phức tạp. Hình tượng Vũ Như Tô và Đan Thiềm thật sâu đậm, nhất là nhân vật Vũ Như Tô. Hình tượng Vũ Như Tô được soi chiếu từ nhiều phía, từ nhiều điểm nhìn: điểm nhìn của bọn hôn quân bạo chúa, điểm nhìn của quần chúng nhân dân, điểm nhìn của những người thợ, điểm nhìn của Đan Thiềm, và điểm nhìn bên trong của chính nhân vật, khi thì đồng nhất, khi thống nhất, khi đối lập, khiến Vũ Như Tô hiện lên không phải là một nhân vật nguyên phiến mà đầy phức tạo, chứa đựng những mâu thuẫn nội tại không sao giải quyết dứt khoát được, đa dạng nhiều chiều, vừa có công lại vừa có tội, vừa nhân văn vừa có vẻ tàn nhẫn, cố chấp,... Kịch Vũ Như Tô cũng là một cách lí giải bằng hình tượng nghệ thuật, sâu sắc và thấm thía, về một thực trạng, một "nỗi thiệt thòi", đồng thời cũng là một đặc điểm nổi bật của nền văn hoá Việt Nam, một dân tộc có hàng nghìn năm văn hiến mà không có những công trình nghệ thuật đồ sộ, vĩ đại. Điều đó không chỉ vì hoàn cảnh nghiệt ngã của đất nước "Mải vật lộn quên cả đài cao mộng lớn", mà theo Vũ Như Tô còn vì "Chế độ thì nghiệt ngã vô lí: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo". Theo Đan Thiềm, thực trạng đó còn do những kẻ cầm quyền không trọng dụng người tài, "Muốn xây Cửu Trùng đài mà coi thợ giỏi như rơm rác, hoa thơm nào còn đâm chồi nảy lộc trên đất này?".
Với ý nghĩa đó, Vũ Như Tô có thể xem là câu hỏi lớn, một nỗi niềm day dứt khôn nguôi của Nguyễn Huy Tưởng: Bao giờ dân tộc ta mới có nền văn hoá nghệ thuật lớn? Chừng nào còn chế độ phong kiến tàn bạo, chừng nào còn chế độ xã hội bất công, chưa thực sự có dân chủ, không có tự do sáng tạo, không tôn trọng và tạo những điều kiện thuận lợi cho những người có tài năng, thì cũng không thể có nền văn hoá nghệ thuật vĩ đại. Phải chăng, đó chính là lời gửi gắm chân thành, đầy tâm huyết của Nguyễn Huy Tưởng qua vở kịch lớn này?
(Trích Phương pháp nghiên cứu và phân tích tác phẩm văn học – Trần Đăng Suyền – NXB Giáo dục Việt Nam)
Câu hỏi:
@209784421530@
Câu hỏi:
@209784297347@@209784364117@@209784365421@@209784366576@@209784387983@
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây