Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc SVIP
Một số thông tin cơ bản về tác giả Nguyễn Đình Chiểu:
− Tục gọi là cụ đồ Chiểu, tự Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ.
− Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho tại huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định (nay là phường Cầu Ông Lãnh, thành phố Hồ Chí Minh).
− Năm 1843, Nguyễn Đình Chiểu đỗ Tú tài ở trường thi Gia Định lúc 21 tuổi; đến năm 1847, lên đường ra Huế chờ khoa thi.
− Ngày 31/12/1848, bỏ thi và quay về quê vì nghe tin mẹ mất; vì quá thương khóc mẹ cùng với sự vất vả dọc đường đi, Nguyễn Đình Chiểu ốm nặng và mù loà.
− Ông nghỉ chữa bệnh tại nhà một thầy thuốc vốn dòng dõi Ngự y nên học được nghề thuốc.
− Năm 1851, ông mở trường dạy học và làm thầy thuốc tại quê nhà và bắt đầu sáng tác văn chương.
− Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu có thể chia thành hai giai đoạn:
+ Giai đoạn đầu (Những năm 50 của thế kỉ XIX): Khẳng định tư tưởng nhân nghĩa, yêu nước thương dân. Ví dụ các tác phẩm: "Dương Từ – Hà Mậu", "Lục Vân Tiên".
+ Giai đoạn sau (Từ ngày Pháp chiếm Gia Định năm 1859): Lên án quân Pháp xâm lược, phê phán triều đình, ca ngợi anh hùng nhân dân. Ví dụ các tác phẩm: "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc", "Ngự Tiền y thuật vấn đáp".
Trong các nhận định sau, nhận định nào đúng, nhận định nào sai khi nói về tác giả Nguyễn Đình Chiểu?
(Nhấp vào ô màu vàng để chọn đúng / sai)| a) Tác phẩm "Dương Từ – Hà Mậu" và "Ngự Tiền y thuật vấn đáp" là những sáng tác tiêu biểu thuộc giai đoạn đầu của ông. |
|
| b) Ông mở trường dạy học và làm thầy thuốc tại quê nhà và bắt đầu sáng tác văn chương từ năm 1851. |
|
| c) Nguyễn Đình Chiểu bị mù loà vì quá thương khóc khi nghe tin mẹ mất. |
|
| d) Trong giai đoạn đầu sáng tác, thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu tập trung lên án quân xâm lược, phê phán triều đình nhà Nguyễn. |
|
Nối mỗi phần trong bố cục của thể loại Văn tế với nội dung biểu đạt tương ứng.
Tác phẩm "Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc" của Nguyễn Đình Chiểu được sáng tác trong hoàn cảnh nào sau đây?
VĂN TẾ NGHĨA SĨ CẦN GIUỘC
Nguyễn Đình Chiểu
Hỡi ôi!
1. Súng giặc đất rền;
Lòng dân trời tỏ(1).
2. Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao;
Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ.
Nhớ linh(2) xưa:
3. Cui cút(3) làm ăn;
Toan lo nghèo khó.
4. Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung(4);
Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ(5).
5. Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;
Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ(6), mắt chưa từng ngó.
6. Tiếng phong hạc(1) phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa;
Mùi tinh chiên(2) vấy vá(3) đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.
7. Bữa thấy bòng bong(4) che trắng lốp, muốn tới ăn gan;
Ngày xem ống khói(5) chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
8. Một mối xa thư(6) đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu(7);
Hai vầng nhật nguyệt(8) chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó(9).
9. Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình(10);
Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này dốc ra tay bộ hổ(11).
Khá thương thay!
10. Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ(12), theo dòng ở
lính diễn binh(13);
Chắng qua là dân ấp dân lân(14), mến nghĩa làm
quân chiêu mộ(15).
11. Mười tám ban võ nghệ(1), nào đợi tập rèn;
Chín chục trận binh thư(2), không chờ bày bố.
12. Ngoài cật(3) có một manh áo vải, nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi(4);
Trong tay cầm một ngọn tầm vông(5), chi nài sắm dao tu, nón gõ(6).
13. Hoả mai đánh bằng rơm con cúi(7), cũng đốt xong nhà dạy đạo kia;
Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai(8) nọ.
14. Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng
như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào,
liều mình như chẳng có.
15. Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà ma ní(9) hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau(10), trối kệ tàu sắt tàu đồng súng nổ.
Ôi!
16. Những lăm lòng nghĩa lâu dùng;
Đâu biết xác phàm(11) vội bỏ.
17. Một chắc sa trường rằng chữ hạnh(1), nào hay da ngựa bọc thây(2);
Trăm năm âm phủ ấy chữ quy(3), nào đợi gươm hùm treo mộ(4).
18. Đoái sông Cần Giuộc(5), cỏ cây mấy dặm sầu giăng;
Nhìn chợ Trường Bình(6), già trẻ hai hàng luy(7) nhỏ.
19. Chắng phải án cướp án gian đày tới, mà vi binh(8) đánh giặc cho cam tâm;
Vốn không giữ thành giữ luỹ bỏ đi, mà hiệu lực(9) theo quân cho đáng số.
Nhưng nghĩ rằng:
20. Tấc đất ngọn rau ơn chúa, tài bồi(10) cho nước nhà ta;
Bát cơm manh áo ở đời, mắc mớ chị(11) ông cha nó.
21. Vì ai khiến quan quân khó nhọc, ăn tuyết nằm sương;
Vì ai xui đồn luỹ tan tành, xiêu mưa ngã gió.
22. Sống làm chi theo quân tả đạo(12), quăng vùa hương(13), xô bàn độc(14), thấy lại
thêm buồn;
Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ.
23. Ôi thôi thôi!
Thà thác mà đặng câu địch khái(1), về theo tổ phụ(2) cũng vinh;
Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây(3), ở với man đi(4) rất khổ.
24. Chùa Tông Thạnh(5) năm canh ưng(6) đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm;
Đồn Lang Sa(7) một khắc đặng trả hờn, tủi phận bạc trôi theo đòng nước đổ.
25. Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dò(8) trước ngõ.
Ôi!
26. Một trận khói tan, nghìn năm tiết rỡ(9).
27. Binh tướng nó hãy đóng sông Bến Nghé, ai làm nên bốn phía mây đen;
Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu đặng một phường con đỏ.
28. Thác mà trả nước non rồi nợ(10), danh thơm đồn sáu tỉnh chúng(11) đều khen;
Thác mà ưng(12) đình miếu để thờ, tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ(13).
29. Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia;
Sống thờ vua, thác cũng thờ vua, lời dụ dạy(1) đã rành rành, một chữ ấm(2) đủ đền công đó.
30. Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân(3);
Cây hương nghĩa sĩ thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ(4).
Hỡi ôi thương thay!
Có linh xin hưởng.
(Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu,
NXB Văn học Giải phóng, Thành phố Hồ Chí Minh, 1976,
in trong Ngữ văn 11 Nâng cao, tập một, Sđd, tr. 30 - 34)
fvv
Bài làm:Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây