Báo cáo học liệu
Mua học liệu
Mua học liệu:
-
Số dư ví của bạn: 0 coin - 0 Xu
-
Nếu mua học liệu này bạn sẽ bị trừ: 2 coin\Xu
Để nhận Coin\Xu, bạn có thể:
Trở về (Phần 1) SVIP
Lưu ý: Ở điểm dừng, nếu không thấy nút nộp bài, bạn hãy kéo thanh trượt xuống dưới.
Bạn phải xem đến hết Video thì mới được lưu thời gian xem.
Để đảm bảo tốc độ truyền video, OLM lưu trữ video trên youtube. Do vậy phụ huynh tạm thời không chặn youtube để con có thể xem được bài giảng.
Nội dung này là Video có điểm dừng: Xem video kết hợp với trả lời câu hỏi.
Nếu câu hỏi nào bị trả lời sai, bạn sẽ phải trả lời lại dạng bài đó đến khi nào đúng mới qua được điểm dừng.
Bạn không được phép tua video qua một điểm dừng chưa hoàn thành.
Dữ liệu luyện tập chỉ được lưu khi bạn qua mỗi điểm dừng.
Những thông tin dưới đây gợi nhắc đến tác phẩm văn học nào?

VỀ TÁC GIẢ Ơ-NÍT HÊ-MINH-UÊ
* Tiểu sử
− Ơ-nít Hê-minh-uê (1899 − 1961) là một tiểu thuyết gia người Mỹ, nhà văn viết truyện ngắn và là một nhà báo.
− Ông sinh ra trong một gia đình trí thức tại một vùng ngoại ô của Chi-ca-gô, Mỹ. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông viết báo và làm phóng viên mặt trận cho tới khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai.
− Sau chiến tranh, ông quay trở lại công việc tại toà báo nhưng không hoà nhập được với xã hội đương thời nên ông phải tìm bình yên trong men rượu. Sau đó, ông sang Pháp vừa làm báo vừa sáng tác văn chương.
* Sự nghiệp văn học
− Hê-minh-uê bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình vào năm 22 tuổi với truyện ngắn đầu tay "Trên miệt Mi-chi-gan". Ông sáng tác nhiều tác phẩm truyện ngắn như "Những kẻ giết người", "Một nơi sạch sẽ và sáng sủa",... và đều nhận được sự đánh giá cao từ những người có chuyên môn, thậm chí được đánh giá ngang với Sê-khốp.
− Ông thực sự nổi tiếng và gây được tiếng vang khi tìm đến với thể loại tiểu thuyết bằng tác phẩm "Mặt trời vẫn mọc" (1926) và "Giã từ vũ khí" (1929).
− Có những giai đoạn ông gặp khó khăn trong việc sáng tác và không đạt được thành công như mong đợi. Nhưng Hê-minh-uê không hề nản lòng, ông chứng thực tài năng của mình với sự ra đời của Ông già và biển cả vào năm 1952. Tác phẩm đã giúp ông đạt được kỷ lục về lượt mua báo cũng như nhận cơn mưa lời khen, lời chúc tụng từ giới chuyên môn và độc giả từ nhiều miền trên thế giới. Tên tuổi của Hê-minh-uê vụt sáng, được xếp vào hàng những nhà văn số một của thế giới.
− Ông nhận được nhiều giải thưởng cao quý của văn chương như Pu-lít-dơ và Nô-ben,...
Trong những nhận xét dưới đây, nhận xét nào đúng, nhận xét nào sai về tác giả Ơ-nít Hê-minh-uê?
(Nhấp vào ô màu vàng để chọn đúng / sai)| a) Từng chán nản, từ bỏ sáng tác khi liên tục gặp khó khăn và tác phẩm không gây được tiếng vang như mong đợi. |
|
| b) Chứng thực tài năng của mình với sự ra đời của "Giã từ vũ khí" vào năm 1952. |
|
| c) Nổi tiếng và gây được tiếng vang khi tìm đến với thể loại tiểu thuyết bằng tác phẩm "Mặt trời vẫn mọc" (1926). |
|
| d) Sinh ra trong một gia đình trí thức tại một vùng ngoại ô của Chi-ca-gô, Mỹ. |
|
Sắp xếp các nội dung dưới đây theo đúng trình tự của tác phẩm "Ông già và biển cả".
- Lão Xan-ti-a-gô bị coi là "vận rủi" vì 84 ngày không đánh được cá.
- Máu cá kiếm thu hút đàn cá mập, lão quyết chiến bảo vệ thành quả.
- Lão quyết định dong thuyền ra khơi và bắt gặp con cá kiếm khổng lồ.
- Lũ cá mập rỉa hết thịt cá kiếm, Xan-ti-a-gô trở về trong bến cảnh trong đêm tối.
- Sau ba ngày đêm, lão vừa ngưỡng mộ vừa quyết tâm khuất phục con cá.
TRỞ VỀ
(trích Ông già và biển cả)
Hê-minh-uê
“Chẳng còn gì”, lão nói lớn. “Ta đã đi quá xa.”
Khi lão dong chiếc thuyền cập vào bến nhỏ thì đèn đóm ở Thê-rếch-xơ (Terrace) đã tắt và lão biết mọi người đã đi ngủ. Gió càng ngày càng to và bây giờ đang thổi mạnh. Dù vậy bến cảng rất yên tĩnh và lão đưa thuyền lên trên một bãi cuội nhỏ bên dưới ghềnh đá. Không có ai giúp cả nên lão đã kéo thuyền lên đến mức xa nhất có thể. Rồi lão bước ra và buộc thuyền vào một tảng đá.
Lão tháo cột buồm, cuộn và buộc cánh buồm lại. Rồi lão vác cột buồm lên vai và bắt đầu trèo lên. Đó là lúc lão biết mình đã mệt đến chừng nào. Lão dừng lại một chốc và ngoảnh lại và nhìn thấy cái đuôi khổng lồ của con cá đang dựng thẳng sau đuôi thuyền trong ánh sáng phản chiếu từ đèn đường. Lão nhìn thấy đường nét trần trụi màu trắng của xương sống và khối sẫm màu của cái đầu với lưỡi kiếm nhô ra cùng tất cả sự trống rỗng ở khoảng giữa.
Lão lại bắt đầu leo lên dốc rồi trên đỉnh dốc lão ngã xuống và nằm một lát với cột buồm vắt qua vai. Lão cố ngồi dậy. Nhưng điều đó là quá khó và lão ngồi đó với cột buồm trên vai và nhìn ra đường. Một con mèo đi ngang qua đường phía xa để làm cái gì đó và lão già ngắm nhìn nó. Rồi lão chỉ ngắm nhìn con đường mà thôi.
Cuối cùng lão đặt cột buồm xuống và đứng dậy. Lão nhấc cột buồm đặt lên vai và bắt đầu bước đi. Lão đã phải ngồi xuống nghỉ năm lần trước khi đến được lán của mình.
Vào trong lán, lão dựa cột buồm vào tường. Trong bóng tối lão tìm thấy một chai nước và uống một ngụm. Rồi lão nằm xuống giường. Lão kéo chăn trùm lên đôi vai rồi phủ lên lưng, chân và lão nằm sấp mặt lên đống báo mà ngủ với hai cánh tay duỗi thẳng và lòng bàn tay ngửa lên.
Lão vẫn đang ngủ khi thằng bé ngó qua cửa vào buổi sáng. Gió thổi mạnh đến nỗi những chiếc thuyền trôi nổi không ra khơi được và thằng bé đã ngủ dậy muộn và đi đến lán của lão như nó vẫn đến mỗi sáng. Thằng bé nhìn thấy ông lão đang thở và rồi nó nhìn thấy hai bàn tay của lão và nó bắt đầu khóc. Nó lặng lẽ đi ra ngoài để lấy chút cà phê và nó cứ khóc suốt cả dọc đường.
Nhiều ngư dân vây quanh chiếc thuyền để xem thứ đang buộc vào mạn thuyền và một ngư dân lội xuống nước, ống quần xắn lên, dùng một sợi dây đo chiều dài bộ xương. Thằng bé không đi xuống đó. Nó đã đến đó rồi và một trong những ngư dân đang trông chiếc thuyền cho nó. “Ông lão thế nào rồi?”, một người hét lên. “Đang ngủ”, thằng bé đáp. Nó không để tâm đến chuyện họ nhìn thấy nó khóc. “Đừng để ai làm phiền ông ấy”. “Nó dài mười tám feet từ mũi đến đuôi”, người đang đo bộ xương kêu lên.
“Cháu tin là thế”, thằng bé nói.
Nó đi đến Thê-rếch-xơ và hỏi mua một lon cà phê.
“Nóng với nhiều đường và sữa.”
“Còn gì nữa không?”
“Không ạ. Rồi cháu sẽ xem ông ấy có ăn được gì không.”
“Quả là một con cá ra trò”, chủ khách sạn nói. “Chưa từng có con cá nào như vậy. Hai con cá cháu bắt được hôm qua cũng rất được đấy.”. “Chết tiệt mấy con cá của cháu”, thằng bé nói và nó lại bắt đầu khóc.
“Cháu có muốn lấy đồ uống gì không?”, chủ khách sạn hỏi.
“Không ạ”, thằng bé nói. “Bảo với họ đừng quấy rầy Xan-ti-a-gô (Santiago), cháu sẽ quay lại.”
“Bảo ông ấy là bác rất tiếc nhé.”
“Cảm ơn bác”, thằng bé nói.
Thằng bé mang lon cà phê nóng lên lán của ông lão và ngồi kế bên cho đến khi lão tỉnh dậy. Có một lúc hình như lão sắp thức giấc. Nhưng rồi lão lại chìm vào giấc ngủ say và thằng bé băng qua đường để xin một ít củi hâm nóng cà phê.
Cuối cùng ông lão đã tỉnh dậy.
“Đừng ngồi dậy”, thằng bé nói. “Uống cái này đi.”
Cậu rót một ít cà phê vào cốc.
Ông lão cầm lấy và uống hết.
“Chúng đã đánh bại ông, Ma-nô-lin (Manolin) ạ”, lão nói. “Chúng thật sự đánh bại ông.”
“Nó không đánh bại được ông. Không phải là con cá ấy."
“Không. Thật đấy. Là lúc sau đó ấy.”
“Pê-đri-cô (Pedrico) đang trông coi thuyền và các thứ. Ông muốn làm gì với cái đầu ạ?”
“Để Pê-đri-cô băm nó ra làm mồi bẫy cá.”
“Còn lưỡi kiếm?
“Nếu cháu muốn thì cứ giữ lấy nó.”
“Cháu muốn”, thằng bé nói. “Bây giờ chúng ta phải lên kế hoạch cho những việc khác.”
“Họ có tìm ông không?
“Tất nhiên rồi. Cùng với đội bảo vệ bờ biển và máy bay nữa.”
“Đại dương thì rất rộng lớn và chiếc thuyền thì nhỏ và khó nhìn ra được”, ông lão nói. Lão nhận ra thật dễ chịu khi có ai đó để nói chuyện cùng thay vì chỉ nói với chính mình và với biển cả. “Ông nhớ cháu”. Lão nói. “Cháu đã bắt được gì thế?”.
“Một con vào ngày đầu tiên. Một con vào ngày thứ hai và hai con vào ngày thứ ba.”
“Giỏi đấy.”
“Bây giờ chúng ta lại đi câu cùng nhau.”
“Không. Ông không may mắn. Ông không còn vận may nữa.”
“Chết tiệt với cái vận may”, thằng bé nói. “Cháu sẽ mang vận may của cháu theo.”
“Mọi người ở nhà cháu sẽ nói sao?”
“Cháu không quan tâm. Hôm qua cháu đã bắt được hai con. Nhưng giờ thì chúng ta sẽ đi câu cùng nhau vì cháu còn phải học nhiều thứ lắm.”
“Chúng ta phải tìm một cây lao độ thật sắc bén và phải luôn luôn giữ nó trên thuyền. Cháu có thể làm lưỡi dao từ một cái nhíp của xe Ford cũ. Chúng ta có thể đem nó đến Goa-na-ba-cô-a (Guanabacoa) để mài. Nó phải thật sắc bén và không luyện quá lửa để khỏi bị gãy. Dao của ông gãy rồi.”
“Cháu sẽ tìm một con dao khác và sẽ mang mài cái nhíp”
“Biển động mất mấy ngày nhỉ?”
“Có thể là ba ngày. Có thể hơn.”
“Cháu sẽ thu xếp mọi thứ”, thằng bé nói. “Ông cứ chữa cho tay lành lại đã.”
“Ông biết cách chăm sóc chúng mà. Vào ban đêm ông khạc ra thứ lạ lùng gì đó và cảm thấy như có cái gì trong lồng ngực vỡ ra.”. “Chữa cả cái đó nữa”, thằng bé nói. “Nằm xuống đi, ông ơi, và cháu sẽ mang cho ông cái áo sạch. Và thứ gì đó để ăn.”
“Mang cho ông bất kì tờ báo nào trong lúc ông đi vắng nhé”, lão nói.
“Ông phải bình phục thật nhanh vì có nhiều thứ cháu phải học và ông có thể dạy cháu mọi thứ. Ông có đau nhiều không?”
“Nhiều lắm”, lão nói.
“Cháu sẽ mang thức ăn và báo đến", thằng bé nói. “Nghỉ ngơi đi ông ạ. Cháu sẽ đi ra hiệu thuốc mua thuốc chữa tay của ông nữa.”
“Nhớ bảo Pê-đri-cô rằng cái đầu là của anh ấy.”
“Vâng. Cháu nhớ rồi.”
Khi thằng bé ra khỏi cửa và đi xuống con đường mòn rải đá san hô nó lại tiếp tục khóc.
Chiều hôm đó có một bữa tiệc của nhóm khách du lịch ở Thê-rếch-xơ và khi nhìn xuống làn nước giữa những lon bia rỗng và những xác cá, một người phụ nữ trông thấy bộ xương sống to lớn màu trắng với một cái đuôi khổng lồ ở phần cuối cứ nổi lên và đung đưa theo thuỷ triều khi gió đông thổi qua vùng biển cuộn sóng bên ngoài lối vào bến cảng.
“Cái gì thế kia?”. Cô hỏi người bồi bàn và chỉ vào bộ xương sống dài của con cá khổng lồ giờ chỉ còn là rác rưởi chờ thuỷ triều cuốn đi.
“Ti-bu-ron (Tiburon)”, người bồi bàn nói. “Cá mập.”. Anh ta định giải thích về chuyện đã xảy ra.
“Tôi không biết là cá mập lại có bộ đuôi phom dáng đẹp đẽ như vậy.”
“Anh cũng thế”, người đàn ông đi cùng cô ta nói.
Phía ngoài đường, trong cái lán của mình, ông lão lại đang ngủ tiếp. Lão vẫn ngủ trong tư thế úp mặt xuống và thằng bé ngồi bên cạnh nhìn lão ngủ. Lão đang mơ về những con sư tử.
(Linh Nguyễn dịch, http://nguvan.hnue.edu.vn, ngày 06/5/2023)
Nối để xác định nội dung chính của từng phần trong văn bản "Trở về".
TRỞ VỀ
(trích Ông già và biển cả)
Hê-minh-uê
“Chẳng còn gì”, lão nói lớn. “Ta đã đi quá xa.”
Khi lão dong chiếc thuyền cập vào bến nhỏ thì đèn đóm ở Thê-rếch-xơ (Terrace) đã tắt và lão biết mọi người đã đi ngủ. Gió càng ngày càng to và bây giờ đang thổi mạnh. Dù vậy bến cảng rất yên tĩnh và lão đưa thuyền lên trên một bãi cuội nhỏ bên dưới ghềnh đá. Không có ai giúp cả nên lão đã kéo thuyền lên đến mức xa nhất có thể. Rồi lão bước ra và buộc thuyền vào một tảng đá.
Lão tháo cột buồm, cuộn và buộc cánh buồm lại. Rồi lão vác cột buồm lên vai và bắt đầu trèo lên. Đó là lúc lão biết mình đã mệt đến chừng nào. Lão dừng lại một chốc và ngoảnh lại và nhìn thấy cái đuôi khổng lồ của con cá đang dựng thẳng sau đuôi thuyền trong ánh sáng phản chiếu từ đèn đường. Lão nhìn thấy đường nét trần trụi màu trắng của xương sống và khối sẫm màu của cái đầu với lưỡi kiếm nhô ra cùng tất cả sự trống rỗng ở khoảng giữa.
Lão lại bắt đầu leo lên dốc rồi trên đỉnh dốc lão ngã xuống và nằm một lát với cột buồm vắt qua vai. Lão cố ngồi dậy. Nhưng điều đó là quá khó và lão ngồi đó với cột buồm trên vai và nhìn ra đường. Một con mèo đi ngang qua đường phía xa để làm cái gì đó và lão già ngắm nhìn nó. Rồi lão chỉ ngắm nhìn con đường mà thôi.
Cuối cùng lão đặt cột buồm xuống và đứng dậy. Lão nhấc cột buồm đặt lên vai và bắt đầu bước đi. Lão đã phải ngồi xuống nghỉ năm lần trước khi đến được lán của mình.
Vào trong lán, lão dựa cột buồm vào tường. Trong bóng tối lão tìm thấy một chai nước và uống một ngụm. Rồi lão nằm xuống giường. Lão kéo chăn trùm lên đôi vai rồi phủ lên lưng, chân và lão nằm sấp mặt lên đống báo mà ngủ với hai cánh tay duỗi thẳng và lòng bàn tay ngửa lên.
Lão vẫn đang ngủ khi thằng bé ngó qua cửa vào buổi sáng. Gió thổi mạnh đến nỗi những chiếc thuyền trôi nổi không ra khơi được và thằng bé đã ngủ dậy muộn và đi đến lán của lão như nó vẫn đến mỗi sáng. Thằng bé nhìn thấy ông lão đang thở và rồi nó nhìn thấy hai bàn tay của lão và nó bắt đầu khóc. Nó lặng lẽ đi ra ngoài để lấy chút cà phê và nó cứ khóc suốt cả dọc đường.
Nhiều ngư dân vây quanh chiếc thuyền để xem thứ đang buộc vào mạn thuyền và một ngư dân lội xuống nước, ống quần xắn lên, dùng một sợi dây đo chiều dài bộ xương. Thằng bé không đi xuống đó. Nó đã đến đó rồi và một trong những ngư dân đang trông chiếc thuyền cho nó. “Ông lão thế nào rồi?”, một người hét lên. “Đang ngủ”, thằng bé đáp. Nó không để tâm đến chuyện họ nhìn thấy nó khóc. “Đừng để ai làm phiền ông ấy”. “Nó dài mười tám feet từ mũi đến đuôi”, người đang đo bộ xương kêu lên.
“Cháu tin là thế”, thằng bé nói.
Nó đi đến Thê-rếch-xơ và hỏi mua một lon cà phê.
“Nóng với nhiều đường và sữa.”
“Còn gì nữa không?”
“Không ạ. Rồi cháu sẽ xem ông ấy có ăn được gì không.”
“Quả là một con cá ra trò”, chủ khách sạn nói. “Chưa từng có con cá nào như vậy. Hai con cá cháu bắt được hôm qua cũng rất được đấy.”. “Chết tiệt mấy con cá của cháu”, thằng bé nói và nó lại bắt đầu khóc.
“Cháu có muốn lấy đồ uống gì không?”, chủ khách sạn hỏi.
“Không ạ”, thằng bé nói. “Bảo với họ đừng quấy rầy Xan-ti-a-gô (Santiago), cháu sẽ quay lại.”
“Bảo ông ấy là bác rất tiếc nhé.”
“Cảm ơn bác”, thằng bé nói.
Thằng bé mang lon cà phê nóng lên lán của ông lão và ngồi kế bên cho đến khi lão tỉnh dậy. Có một lúc hình như lão sắp thức giấc. Nhưng rồi lão lại chìm vào giấc ngủ say và thằng bé băng qua đường để xin một ít củi hâm nóng cà phê.
Cuối cùng ông lão đã tỉnh dậy.
“Đừng ngồi dậy”, thằng bé nói. “Uống cái này đi.”
Cậu rót một ít cà phê vào cốc.
Ông lão cầm lấy và uống hết.
“Chúng đã đánh bại ông, Ma-nô-lin (Manolin) ạ”, lão nói. “Chúng thật sự đánh bại ông.”
“Nó không đánh bại được ông. Không phải là con cá ấy."
“Không. Thật đấy. Là lúc sau đó ấy.”
“Pê-đri-cô (Pedrico) đang trông coi thuyền và các thứ. Ông muốn làm gì với cái đầu ạ?”
“Để Pê-đri-cô băm nó ra làm mồi bẫy cá.”
“Còn lưỡi kiếm?
“Nếu cháu muốn thì cứ giữ lấy nó.”
“Cháu muốn”, thằng bé nói. “Bây giờ chúng ta phải lên kế hoạch cho những việc khác.”
“Họ có tìm ông không?
“Tất nhiên rồi. Cùng với đội bảo vệ bờ biển và máy bay nữa.”
“Đại dương thì rất rộng lớn và chiếc thuyền thì nhỏ và khó nhìn ra được”, ông lão nói. Lão nhận ra thật dễ chịu khi có ai đó để nói chuyện cùng thay vì chỉ nói với chính mình và với biển cả. “Ông nhớ cháu”. Lão nói. “Cháu đã bắt được gì thế?”.
“Một con vào ngày đầu tiên. Một con vào ngày thứ hai và hai con vào ngày thứ ba.”
“Giỏi đấy.”
“Bây giờ chúng ta lại đi câu cùng nhau.”
“Không. Ông không may mắn. Ông không còn vận may nữa.”
“Chết tiệt với cái vận may”, thằng bé nói. “Cháu sẽ mang vận may của cháu theo.”
“Mọi người ở nhà cháu sẽ nói sao?”
“Cháu không quan tâm. Hôm qua cháu đã bắt được hai con. Nhưng giờ thì chúng ta sẽ đi câu cùng nhau vì cháu còn phải học nhiều thứ lắm.”
“Chúng ta phải tìm một cây lao độ thật sắc bén và phải luôn luôn giữ nó trên thuyền. Cháu có thể làm lưỡi dao từ một cái nhíp của xe Ford cũ. Chúng ta có thể đem nó đến Goa-na-ba-cô-a (Guanabacoa) để mài. Nó phải thật sắc bén và không luyện quá lửa để khỏi bị gãy. Dao của ông gãy rồi.”
“Cháu sẽ tìm một con dao khác và sẽ mang mài cái nhíp”
“Biển động mất mấy ngày nhỉ?”
“Có thể là ba ngày. Có thể hơn.”
“Cháu sẽ thu xếp mọi thứ”, thằng bé nói. “Ông cứ chữa cho tay lành lại đã.”
“Ông biết cách chăm sóc chúng mà. Vào ban đêm ông khạc ra thứ lạ lùng gì đó và cảm thấy như có cái gì trong lồng ngực vỡ ra.”. “Chữa cả cái đó nữa”, thằng bé nói. “Nằm xuống đi, ông ơi, và cháu sẽ mang cho ông cái áo sạch. Và thứ gì đó để ăn.”
“Mang cho ông bất kì tờ báo nào trong lúc ông đi vắng nhé”, lão nói.
“Ông phải bình phục thật nhanh vì có nhiều thứ cháu phải học và ông có thể dạy cháu mọi thứ. Ông có đau nhiều không?”
“Nhiều lắm”, lão nói.
“Cháu sẽ mang thức ăn và báo đến", thằng bé nói. “Nghỉ ngơi đi ông ạ. Cháu sẽ đi ra hiệu thuốc mua thuốc chữa tay của ông nữa.”
“Nhớ bảo Pê-đri-cô rằng cái đầu là của anh ấy.”
“Vâng. Cháu nhớ rồi.”
Khi thằng bé ra khỏi cửa và đi xuống con đường mòn rải đá san hô nó lại tiếp tục khóc.
Chiều hôm đó có một bữa tiệc của nhóm khách du lịch ở Thê-rếch-xơ và khi nhìn xuống làn nước giữa những lon bia rỗng và những xác cá, một người phụ nữ trông thấy bộ xương sống to lớn màu trắng với một cái đuôi khổng lồ ở phần cuối cứ nổi lên và đung đưa theo thuỷ triều khi gió đông thổi qua vùng biển cuộn sóng bên ngoài lối vào bến cảng.
“Cái gì thế kia?”. Cô hỏi người bồi bàn và chỉ vào bộ xương sống dài của con cá khổng lồ giờ chỉ còn là rác rưởi chờ thuỷ triều cuốn đi.
“Ti-bu-ron (Tiburon)”, người bồi bàn nói. “Cá mập.”. Anh ta định giải thích về chuyện đã xảy ra.
“Tôi không biết là cá mập lại có bộ đuôi phom dáng đẹp đẽ như vậy.”
“Anh cũng thế”, người đàn ông đi cùng cô ta nói.
Phía ngoài đường, trong cái lán của mình, ông lão lại đang ngủ tiếp. Lão vẫn ngủ trong tư thế úp mặt xuống và thằng bé ngồi bên cạnh nhìn lão ngủ. Lão đang mơ về những con sư tử.
(Linh Nguyễn dịch, http://nguvan.hnue.edu.vn, ngày 06/5/2023)
Tình huống truyện của văn bản "Trở về" là ông lão
TRỞ VỀ
(trích Ông già và biển cả)
Hê-minh-uê
“Chẳng còn gì”, lão nói lớn. “Ta đã đi quá xa.”
Khi lão dong chiếc thuyền cập vào bến nhỏ thì đèn đóm ở Thê-rếch-xơ (Terrace) đã tắt và lão biết mọi người đã đi ngủ. Gió càng ngày càng to và bây giờ đang thổi mạnh. Dù vậy bến cảng rất yên tĩnh và lão đưa thuyền lên trên một bãi cuội nhỏ bên dưới ghềnh đá. Không có ai giúp cả nên lão đã kéo thuyền lên đến mức xa nhất có thể. Rồi lão bước ra và buộc thuyền vào một tảng đá.
Lão tháo cột buồm, cuộn và buộc cánh buồm lại. Rồi lão vác cột buồm lên vai và bắt đầu trèo lên. Đó là lúc lão biết mình đã mệt đến chừng nào. Lão dừng lại một chốc và ngoảnh lại và nhìn thấy cái đuôi khổng lồ của con cá đang dựng thẳng sau đuôi thuyền trong ánh sáng phản chiếu từ đèn đường. Lão nhìn thấy đường nét trần trụi màu trắng của xương sống và khối sẫm màu của cái đầu với lưỡi kiếm nhô ra cùng tất cả sự trống rỗng ở khoảng giữa.
Lão lại bắt đầu leo lên dốc rồi trên đỉnh dốc lão ngã xuống và nằm một lát với cột buồm vắt qua vai. Lão cố ngồi dậy. Nhưng điều đó là quá khó và lão ngồi đó với cột buồm trên vai và nhìn ra đường. Một con mèo đi ngang qua đường phía xa để làm cái gì đó và lão già ngắm nhìn nó. Rồi lão chỉ ngắm nhìn con đường mà thôi.
Cuối cùng lão đặt cột buồm xuống và đứng dậy. Lão nhấc cột buồm đặt lên vai và bắt đầu bước đi. Lão đã phải ngồi xuống nghỉ năm lần trước khi đến được lán của mình.
Vào trong lán, lão dựa cột buồm vào tường. Trong bóng tối lão tìm thấy một chai nước và uống một ngụm. Rồi lão nằm xuống giường. Lão kéo chăn trùm lên đôi vai rồi phủ lên lưng, chân và lão nằm sấp mặt lên đống báo mà ngủ với hai cánh tay duỗi thẳng và lòng bàn tay ngửa lên.
Lão vẫn đang ngủ khi thằng bé ngó qua cửa vào buổi sáng. Gió thổi mạnh đến nỗi những chiếc thuyền trôi nổi không ra khơi được và thằng bé đã ngủ dậy muộn và đi đến lán của lão như nó vẫn đến mỗi sáng. Thằng bé nhìn thấy ông lão đang thở và rồi nó nhìn thấy hai bàn tay của lão và nó bắt đầu khóc. Nó lặng lẽ đi ra ngoài để lấy chút cà phê và nó cứ khóc suốt cả dọc đường.
Nhiều ngư dân vây quanh chiếc thuyền để xem thứ đang buộc vào mạn thuyền và một ngư dân lội xuống nước, ống quần xắn lên, dùng một sợi dây đo chiều dài bộ xương. Thằng bé không đi xuống đó. Nó đã đến đó rồi và một trong những ngư dân đang trông chiếc thuyền cho nó. “Ông lão thế nào rồi?”, một người hét lên. “Đang ngủ”, thằng bé đáp. Nó không để tâm đến chuyện họ nhìn thấy nó khóc. “Đừng để ai làm phiền ông ấy”. “Nó dài mười tám feet từ mũi đến đuôi”, người đang đo bộ xương kêu lên.
“Cháu tin là thế”, thằng bé nói.
Nó đi đến Thê-rếch-xơ và hỏi mua một lon cà phê.
“Nóng với nhiều đường và sữa.”
“Còn gì nữa không?”
“Không ạ. Rồi cháu sẽ xem ông ấy có ăn được gì không.”
“Quả là một con cá ra trò”, chủ khách sạn nói. “Chưa từng có con cá nào như vậy. Hai con cá cháu bắt được hôm qua cũng rất được đấy.”. “Chết tiệt mấy con cá của cháu”, thằng bé nói và nó lại bắt đầu khóc.
“Cháu có muốn lấy đồ uống gì không?”, chủ khách sạn hỏi.
“Không ạ”, thằng bé nói. “Bảo với họ đừng quấy rầy Xan-ti-a-gô (Santiago), cháu sẽ quay lại.”
“Bảo ông ấy là bác rất tiếc nhé.”
“Cảm ơn bác”, thằng bé nói.
Thằng bé mang lon cà phê nóng lên lán của ông lão và ngồi kế bên cho đến khi lão tỉnh dậy. Có một lúc hình như lão sắp thức giấc. Nhưng rồi lão lại chìm vào giấc ngủ say và thằng bé băng qua đường để xin một ít củi hâm nóng cà phê.
Cuối cùng ông lão đã tỉnh dậy.
“Đừng ngồi dậy”, thằng bé nói. “Uống cái này đi.”
Cậu rót một ít cà phê vào cốc.
Ông lão cầm lấy và uống hết.
“Chúng đã đánh bại ông, Ma-nô-lin (Manolin) ạ”, lão nói. “Chúng thật sự đánh bại ông.”
“Nó không đánh bại được ông. Không phải là con cá ấy."
“Không. Thật đấy. Là lúc sau đó ấy.”
“Pê-đri-cô (Pedrico) đang trông coi thuyền và các thứ. Ông muốn làm gì với cái đầu ạ?”
“Để Pê-đri-cô băm nó ra làm mồi bẫy cá.”
“Còn lưỡi kiếm?
“Nếu cháu muốn thì cứ giữ lấy nó.”
“Cháu muốn”, thằng bé nói. “Bây giờ chúng ta phải lên kế hoạch cho những việc khác.”
“Họ có tìm ông không?
“Tất nhiên rồi. Cùng với đội bảo vệ bờ biển và máy bay nữa.”
“Đại dương thì rất rộng lớn và chiếc thuyền thì nhỏ và khó nhìn ra được”, ông lão nói. Lão nhận ra thật dễ chịu khi có ai đó để nói chuyện cùng thay vì chỉ nói với chính mình và với biển cả. “Ông nhớ cháu”. Lão nói. “Cháu đã bắt được gì thế?”.
“Một con vào ngày đầu tiên. Một con vào ngày thứ hai và hai con vào ngày thứ ba.”
“Giỏi đấy.”
“Bây giờ chúng ta lại đi câu cùng nhau.”
“Không. Ông không may mắn. Ông không còn vận may nữa.”
“Chết tiệt với cái vận may”, thằng bé nói. “Cháu sẽ mang vận may của cháu theo.”
“Mọi người ở nhà cháu sẽ nói sao?”
“Cháu không quan tâm. Hôm qua cháu đã bắt được hai con. Nhưng giờ thì chúng ta sẽ đi câu cùng nhau vì cháu còn phải học nhiều thứ lắm.”
“Chúng ta phải tìm một cây lao độ thật sắc bén và phải luôn luôn giữ nó trên thuyền. Cháu có thể làm lưỡi dao từ một cái nhíp của xe Ford cũ. Chúng ta có thể đem nó đến Goa-na-ba-cô-a (Guanabacoa) để mài. Nó phải thật sắc bén và không luyện quá lửa để khỏi bị gãy. Dao của ông gãy rồi.”
“Cháu sẽ tìm một con dao khác và sẽ mang mài cái nhíp”
“Biển động mất mấy ngày nhỉ?”
“Có thể là ba ngày. Có thể hơn.”
“Cháu sẽ thu xếp mọi thứ”, thằng bé nói. “Ông cứ chữa cho tay lành lại đã.”
“Ông biết cách chăm sóc chúng mà. Vào ban đêm ông khạc ra thứ lạ lùng gì đó và cảm thấy như có cái gì trong lồng ngực vỡ ra.”. “Chữa cả cái đó nữa”, thằng bé nói. “Nằm xuống đi, ông ơi, và cháu sẽ mang cho ông cái áo sạch. Và thứ gì đó để ăn.”
“Mang cho ông bất kì tờ báo nào trong lúc ông đi vắng nhé”, lão nói.
“Ông phải bình phục thật nhanh vì có nhiều thứ cháu phải học và ông có thể dạy cháu mọi thứ. Ông có đau nhiều không?”
“Nhiều lắm”, lão nói.
“Cháu sẽ mang thức ăn và báo đến", thằng bé nói. “Nghỉ ngơi đi ông ạ. Cháu sẽ đi ra hiệu thuốc mua thuốc chữa tay của ông nữa.”
“Nhớ bảo Pê-đri-cô rằng cái đầu là của anh ấy.”
“Vâng. Cháu nhớ rồi.”
Khi thằng bé ra khỏi cửa và đi xuống con đường mòn rải đá san hô nó lại tiếp tục khóc.
Chiều hôm đó có một bữa tiệc của nhóm khách du lịch ở Thê-rếch-xơ và khi nhìn xuống làn nước giữa những lon bia rỗng và những xác cá, một người phụ nữ trông thấy bộ xương sống to lớn màu trắng với một cái đuôi khổng lồ ở phần cuối cứ nổi lên và đung đưa theo thuỷ triều khi gió đông thổi qua vùng biển cuộn sóng bên ngoài lối vào bến cảng.
“Cái gì thế kia?”. Cô hỏi người bồi bàn và chỉ vào bộ xương sống dài của con cá khổng lồ giờ chỉ còn là rác rưởi chờ thuỷ triều cuốn đi.
“Ti-bu-ron (Tiburon)”, người bồi bàn nói. “Cá mập.”. Anh ta định giải thích về chuyện đã xảy ra.
“Tôi không biết là cá mập lại có bộ đuôi phom dáng đẹp đẽ như vậy.”
“Anh cũng thế”, người đàn ông đi cùng cô ta nói.
Phía ngoài đường, trong cái lán của mình, ông lão lại đang ngủ tiếp. Lão vẫn ngủ trong tư thế úp mặt xuống và thằng bé ngồi bên cạnh nhìn lão ngủ. Lão đang mơ về những con sư tử.
(Linh Nguyễn dịch, http://nguvan.hnue.edu.vn, ngày 06/5/2023)
Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.
Tình huống này cho thấy sự của sức lực con người trước thiên nhiên, nhưng đồng thời mở ra không gian để tình cảm giữa con người với con người và sự suy ngẫm về của những gì đã trải qua.
Văn bản dưới đây là được tạo ra tự động từ nhận diện giọng nói trong video nên có thể có lỗi
Bạn có thể đăng câu hỏi về bài học này ở đây