Đăng nhập ngay để lưu kết quả bài làm
Đăng nhập

Tràng giang (Phần 2)

Câu 1

Tràng giang

Huy Cận

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

H.C.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Lớp lớp mấy cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

(Huy Cận, Lửa thiêng, NXB Đời nay, Hà Nội, 1940, tr. 52 − 53)

Cái hữu hạn, sự cô đơn nhỏ bé được thể hiện trong khổ thơ thứ nhất thông qua những hình ảnh nào dưới đây? (Chọn 2 đáp án)

Một con thuyền nhỏ đơn độc, bất lực trước dòng chảy.
Cành củi khô tàn úa, mất sức sống, mất phương hướng.
Cánh chim cô đơn, nhỏ bé trên bầu trời.
Những cành cây cỏ tàn úa ở hai bên bờ.
Câu 2

Tràng giang

Huy Cận

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

H.C.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Lớp lớp mấy cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

(Huy Cận, Lửa thiêng, NXB Đời nay, Hà Nội, 1940, tr. 52 − 53)

Sự vô hạn, chảy trôi, tiếp nối ở khổ thơ thứ hai được thể hiện thông qua hình ảnh nào dưới đây? (Chọn 2 đáp án)

Dòng sông vắng lặng không có bóng người.
Hai bên bến bờ héo úa, buồn tẻ.
Con đò vắng khách, neo đậu lẻ loi ở bờ.
Bèo trôi dạt thành một dòng vô tận.
Câu 3

Tràng giang

Huy Cận

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

H.C.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Lớp lớp mấy cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

(Huy Cận, Lửa thiêng, NXB Đời nay, Hà Nội, 1940, tr. 52 − 53)

Cái hữu hạn, sự mỏng manh của sinh thể ở khổ thơ thứ tư được thể hiện thông qua hình ảnh nào dưới đây?

Gợn mây trôi hững hờ giữa cảnh hoàng hôn.
Chiếc lá úa run rẩy trong gió chiều.
Con đò đơn độc giữa dòng sông mênh mông.
Cánh chim nhỏ bé, đơn độc, chao đảo.
Câu 4

Tràng giang

Huy Cận

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

H.C.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Lớp lớp mấy cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

(Huy Cận, Lửa thiêng, NXB Đời nay, Hà Nội, 1940, tr. 52 − 53)

Những trạng thái khác nhau của nỗi buồn đã kết tụ thành tình cảm, cảm xúc nào dưới đây trong nỗi lòng của tác giả Huy Cận?

Sự tự hào và hạnh phúc trước sự hùng vĩ của thiên nhiên.
Nỗi nhớ nhà, tình yêu quê hương và đất nước sâu sắc.
Sự thanh thản, an nhiên trong tâm hồn trước cảnh sông nước.
Nỗi buồn, sự tủi thân trước cảnh cô đơn, vắng lặng.
Câu 5

Tràng giang

Huy Cận

Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài.

H.C.

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Lớp lớp mấy cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

(Huy Cận, Lửa thiêng, NXB Đời nay, Hà Nội, 1940, tr. 52 − 53)

Yếu tố cổ điển trong bài thơ "Tràng giang" được thể hiện thông qua những yếu tố nào dưới đây? (Chọn 3 đáp án)

Điển cố, điển tích từ bài thơ "Hoàng Hạc lâu" của tác giả Thôi Hiệu.
Nỗi buồn cá nhân, sự cô đơn, buồn tủi của cá nhân trước sông nước mênh mông.
Các hình ảnh quen thuộc trong thơ cổ như sông, thuyền, mây, chim, cồn, bến,...
Bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, nỗi buồn thấm đẫm vào không gian.