Thực hành tiếng Việt: Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết

Câu 1

Đâu không phải là đặc điểm của ngôn ngữ nói?

Sử dụng câu tỉnh lược, câu đặc biệt.
Dùng ngữ điệu phong phú, đa dạng.
Dùng nhiều thuật ngữ chuyên ngành.
Sử dụng ngôn từ đậm tính khẩu ngữ.
Câu 2

Đâu không phải là đặc điểm của ngôn ngữ nói?

Giao tiếp một cách trực tiếp.
Người nghe ít có điều kiện phân tích.
Vai không có sự thay đổi.
Người nói ít có điều kiện gọt giũa.
Câu 3

Phương tiện cơ bản của ngôn ngữ nói là

âm thanh.
biểu đồ.
hình ảnh.
chữ viết.
Câu 4

Đâu là phương tiện phụ trợ của ngôn ngữ viết? (Chọn 2 đáp án)

Hệ thống dấu câu.
Các kí hiệu văn tự.
Nét mặt và cử chỉ.
Ngữ điệu.
Câu 5

Đâu không phải là đặc điểm của ngôn ngữ trong văn bản dưới đây?

Hai mâu thuẫn cơ bản của vở kịch được thể hiện qua xung đột chính của hồi kịch. Thứ nhất, đó là xung đột giữa giai cấp thống trị thối nát, xa hoa, truỵ lạc với nhân dân khốn khổ, lầm than. Mâu thuẫn này đã được giải quyết khi vua Lê Tương Dực bị giết, Nguyễn Vũ tự sát. Thứ hai, đó là xung đột giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần tuý với lợi ích trực tiếp, thiết thực của nhân dân. Mâu thuẫn này không được giải quyết rạch ròi, dứt khoát.

(Theo Phan Trọng Luận (Tổng Chủ biên), Ngữ văn 11, tập một)

Sử dụng hệ thống chữ viết, dấu câu, kí hiệu văn tự.
Dùng câu dài nhưng tổ chức mạch lạc, chặt chẽ.
Lạm dụng ngôn ngữ miêu tả cử chỉ, điệu bộ.
Sử dụng thuật ngữ chuyên ngành văn học.
Câu 6

Sống chết mặc bay

(Trích)

Vừa lúc đó thì tiếng người kêu rầm rĩ, càng nghe càng lớn. Lại có tiếng ào ào như thác chảy xiết; rồi lại có tiếng gà, chó, trâu, bò kêu vang tứ phía.

Bấy giờ ai nấy ở trong đình đều nôn nao sợ hãi. Thốt nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm láp, quần áo ước đầm, tất tả chạy xông vào thở không ra lời:

− Bẩm... quan lớn... đê vỡ mất rồi!

Quan lớn đỏ mặt tía tai, quay ra quát rằng:

− Đê vỡ rồi!... Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày! Có biết không?... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?

− Dạ, bẩm...

− Đuổi cổ nó ra!

Ngày quay mặt vào, lại hỏi thầy đề:

− Thầy bốc quân gì thế?

− Dạ, bẩm, con chưa bốc.

− Thì bốc đi chứ!

Thầy đề tay run cầm cập, thò tay vào đĩa nọc, rút ra một con bài, lật ngửa, xướng rằng:

− Chi chi!

Quan lớn vỗ tay xuống sập, kêu to:

− Đây rồi! Thế chứ lại!

Rồi ngài vội vàng xoè bài, miệng vừa cười vừa nói:

− Ù! Thông tôm, chi chi nảy!... Điếu, mày!...

(Phạm Duy Tốn)

Trong đoạn trích Sống chết mặc bay, nhân vật nào dưới đây không xuất hiện và không tham gia vào cuộc hội thoại?

Người dân.
Thầy đội.
Quan phủ.
Thầy đề.
Câu 7

Sống chết mặc bay

(Trích)

Vừa lúc đó thì tiếng người kêu rầm rĩ, càng nghe càng lớn. Lại có tiếng ào ào như thác chảy xiết; rồi lại có tiếng gà, chó, trâu, bò kêu vang tứ phía.

Bấy giờ ai nấy ở trong đình đều nôn nao sợ hãi. Thốt nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm láp, quần áo ướt đầm, tất tả chạy xông vào thở không ra lời:
− Bẩm... quan lớn... đê vỡ mất rồi!

Quan lớn đỏ mặt tía tai, quay ra quát rằng:
− Ðê vỡ rồi!... Ðê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày! Có biết không?... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?
− Dạ, bẩm...
− Ðuổi cổ nó ra!
Ngài quay mặt vào, lại hỏi thầy đề:
− Thầy bốc quân gì thế?
− Dạ, bẩm, con chưa bốc.
− Thì bốc đi chứ!
Thầy đề tay run cầm cập, thò tay vào đĩa nọc, rút ra một con bài, lật ngửa, xướng rằng:
− Chi chi!
Quan lớn vỗ tay xuống sập, kêu to:
− Ðây rồi! Thế chứ lại!
Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười vừa nói:
− Ù! Thông tôm, chi chi nảy!... Ðiếu, mày!...

(Phạm Duy Tốn)

Trong đoạn trích Sống chết mặc bay, các nhân vật xưng hô

bình đẳng, sử dụng đại từ nhân xưng trung tính.
không cân xứng về vị thế giao tiếp, thiếu chuẩn mực.
không cân xứng về vị thế giao tiếp nhưng tôn trọng nhau.
cân xứng về vị thế giao tiếp, mang tính chuẩn mực.
Câu 8

Sống chết mặc bay

(Trích)

Vừa lúc đó thì tiếng người kêu rầm rĩ, càng nghe càng lớn. Lại có tiếng ào ào như thác chảy xiết; rồi lại có tiếng gà, chó, trâu, bò kêu vang tứ phía.

Bấy giờ ai nấy ở trong đình đều nôn nao sợ hãi. Thốt nhiên một người nhà quê, mình mẩy lấm láp, quần áo ướt đầm, tất tả chạy xông vào thở không ra lời:
− Bẩm... quan lớn... đê vỡ mất rồi!

Quan lớn đỏ mặt tía tai, quay ra quát rằng:
− Ðê vỡ rồi!... Ðê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày! Có biết không?... Lính đâu? Sao bay dám để cho nó chạy xồng xộc vào đây như vậy? Không còn phép tắc gì nữa à?
− Dạ, bẩm...
− Ðuổi cổ nó ra!
Ngài quay mặt vào, lại hỏi thầy đề:
− Thầy bốc quân gì thế?
− Dạ, bẩm, con chưa bốc.
− Thì bốc đi chứ!
Thầy đề tay run cầm cập, thò tay vào đĩa nọc, rút ra một con bài, lật ngửa, xướng rằng:
− Chi chi!
Quan lớn vỗ tay xuống sập, kêu to:
− Ðây rồi! Thế chứ lại!
Rồi ngài vội vàng xòe bài, miệng vừa cười vừa nói:
− Ù! Thông tôm, chi chi nảy!... Ðiếu, mày!...

(Phạm Duy Tốn)

Đâu không phải là đặc điểm của ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích Sống chết mặc bay?

Sử dụng nhiều câu tỉnh lược.
Dùng nhiều ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ.
Sử dụng nhiều thuật ngữ văn học.
Dùng lớp từ khẩu ngữ, tiếng lóng.
Câu 9

Trường hợp nào dưới đây không sử dụng ngôn ngữ viết?

Bản chữ nổi dành cho người khiếm thị.
Cuộc phỏng vấn trong một bài báo.
Một bài tiểu luận văn học.
Bản hợp đồng mua bán căn hộ.
Câu 10

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để hoàn thiện định nghĩa về ngôn ngữ viết.

Ngôn ngữ viết là ngôn ngữ được thể hiện bằng trong văn bản (có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức như: bản viết tay, bản đánh máy, bản in, bản chữ nổi dành cho người khiếm thị,... và kết hợp cùng các phương tiện như hình ảnh, sơ đồ, kí hiệu,...) và được tiếp nhận bằng .

ngôn ngữthính giácthị giácphi ngôn ngữchữ viết

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 11

Người lái đò sông Đà

(Trích)

Hùng vĩ của sông Đà không phải chỉ có thác đá. Mà nó còn là những cảnh đá bờ sông, dựng vách thành, mặt sông chỗ ấy chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời. Có vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu. Đứng bên này bờ nhẹ tay ném hòn đá qua bên kia vách. Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện.

Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.

(Nguyễn Tuân)

Đâu không phải là đặc điểm của ngôn ngữ được sử dụng trong đoạn trích Người lái đò sông Đà?

Dùng câu dài nhưng tổ chức mạch lạc, chặt chẽ.
Dùng hệ thống chữ viết, dấu câu, kí hiệu văn tự.
Sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật đặc sắc.
Sử dụng nhiều ngôn ngữ cử chỉ, điệu bộ.
Câu 12

Hãy sắp xếp các ví dụ sau vào nhóm thích hợp.

a. Dịu hiền thay mặt đất, khi nó hiện lên trước mắt những người đi biển bị Pô-dê-i-đông đánh tan thuyền trong sóng cả gió to, họ bơi, nhưng rất ít người thoát khỏi biển khơi trắng xóa mà vào được đến bờ; mình đầy bọt nước, những người sống sót mừng rỡ bước lên đất liền mong đợi.

(Hô-me-rơ, Ô-đi-xê)

b. Rô-mê-ô: [...] Ta liều quá: có phải nàng nói với ta đâu, chẳng qua hai ngôi sao đẹp nhất bầu trời có việc phải đi vắng, đã thiết tha nhờ mắt nàng lấp lánh, chờ đến lúc sao về.

(Sếch-xpia, Rô-mê-ô và Giu-li-ét)

c. Nghe những lời đó, Gia-na-ki mở tròn đôi mắt đẫm lệ. Thấy người đẹp khuôn mặt bông sen với những cuộn tóc lượn sóng đứng trước mặt mình, lòng Ra-ma đau như dao cắt.

(Van-mi-ki, Ra-ma-ya-na)

d. Xan-chô Pan-xa vội thúc lừa chạy đến cứu, và khi tới nơi thì thấy chủ nằm không cựa quậy: đó là kết quả cái ngã như trời giáng của lão và con Rô-xi-nan-tê. "Giúp tôi với, lạy Chúa!", Xan-chô nói, [...].

(Xéc-van-tét, Đôn Ki-hô-tê)

  • c
  • b
  • a
  • d

Ngôn ngữ nói

    Ngôn ngữ viết

      Câu 13

      Vì sao ngôn ngữ viết cần sự trau chuốt và hoàn chỉnh?

      Vì quá trình viết thường diễn ra trong thời gian dài.
      Bởi người đọc thường bị chi phối bởi yếu tố bên ngoài.
      Do người viết và người đọc không thể lập tức hoán đổi vai trò.
      Vì người đọc luôn yêu cầu văn bản phải có tính nghệ thuật.
      Câu 14

      Ngôn ngữ viết có những đặc điểm gì? (Chọn 2 đáp án)

      Hạn chế dùng câu rút gọn, câu đặc biệt.
      Hạn chế sử dụng yếu tố chêm xen.
      Thường sử dụng từ ngữ địa phương.
      Thường dùng câu thiếu chủ ngữ.
      Câu 15

      Ngôn ngữ viết được trình bày lại bằng lời nói trong trường hợp

      viết bài nghiên cứu về một vấn đề khoa học.
      nói trước công chúng theo cảm xúc tức thời.
      sáng tác một tác phẩm tiểu thuyết chương hồi.
      thuyết trình ở toạ đàm bằng văn bản được viết sẵn.
      Câu 16

      U cười gượng, bảo:

      − Nhưng thây kệ! Hơi đâu mà lo trước? Đến đâu hay đến đấy. Thời buổi này, khổ đến đâu mà không phải chịu? Vả lại nhà mình khổ mãi, quen đi rồi. Tìm được no, ăn no; tìm được đói, ăn đói. Chẳng tội gì mà lo mình ạ.

      − Đã đành thế nhưng còn nợ?

      − Thì ta ì ra đấy. Thịt người có ăn được đâu mà sợ!

      Thầy cười chua chát. U cũng cười. Một lúc sau, u lại bảo:

      − Nói đùa vậy, chứ nợ thì thế nào cũng phải trả. Mình không phải là hạng người lì được. Bán gì thì bán, cũng phải bán đi mà trả.

      − Còn gì mà bán?

      − Cái nhà! Mình công nợ cũng vì làm nhà. Nay không còn làm gì trả nợ được, thì lại bán nhà đi mà trả, có khó gì đâu?

      − Đến nước ấy thì đẹp mặt!

      − Ai cười thì cũng đành chịu vậy, chứ biết làm sao bây giờ?

      (Bài học quét nhà, Nam Cao)

      Đoạn trích Bài học quét nhà sử dụng nhiều

      thuật ngữ.
      khẩu ngữ.
      từ láy.
      câu văn dài.
      Câu 17

      Bảo kính cảnh giới

      (Gương báu răn mình)

      (Bài 43)

      Nguyễn Trãi

      Rồi hóng mát thuở ngày trường.

      Hoè lục đùn đùn tán rợp trương.

      Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ.

      Hồng liên trì đã tịn mùi hương.

      Lao xao chợ cá làng ngư phủ;

      Dắng dỏi cầm ve lầu tịch dương.

      Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng,

      Dân giàu đủ khắp đòi phương.

      (Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976, tr. 453)

      Những nhận định nào dưới đây là không đúng khi nói về đặc điểm của ngôn ngữ được sử dụng trong văn bản Bảo kính cảnh giới bài số 43? (Chọn 2 đáp án)

      Nhiều câu thơ sử dùng biện pháp chêm xen.
      Tác phẩm sử dụng nhiều biện pháp tu từ.
      Bài thơ sử dụng nhiều tiếng lóng.
      Bài thơ sử dụng nhiều từ Hán Việt.
      Câu 18

      Đâu là cách sửa hợp lí cho câu văn dưới đây? (Chọn 2 đáp án)

      Chí Phèo là một tác phẩm rất chất đã làm cho độc giả thích cực kì luôn!

      Chí Phèo là một tác phẩm hay, tạo được ấn tượng cho nhiều độc giả.
      Chí Phèo là một tác phẩm đặc sắc, được rất nhiều độc giả yêu thích.
      Chí Phèo là một tác phẩm hay tuyệt cú mèo làm cho độc giả vô cùng hào hứng.
      Chí Phèo là một tác phẩm độc đáo làm cho nhiều người thích thú.
      Câu 19

      Hãy sắp xếp các ngữ liệu sau vào nhóm thích hợp.

      • "Trời ơi, bữa nay đông quá trời luôn!".
      • "Học sinh cần tuân thủ nội quy trường học.".
      • "Tác giả thể hiện quan điểm rõ ràng và nhất quán.".
      • "Thôi kệ tới đâu hay tới đó, tui chán lắm luôn á!".

      Ngôn ngữ nói

        Ngôn ngữ viết

          Câu 20

          Tôi muốn được là tôi toàn vẹn

          (Trích Hồn Trương Ba, da hàng thịt)

          Hồn Trương Ba: A, mày cũng biết nói kia à? Vô lí, mày không thể biết nói! Mày không có tiếng nói, mà chỉ là xác thịt âm u đui mù...

          Xác Hàng Thịt: Có đấy! Xác thịt có tiếng nói đấy! Ông đã biết tiếng nói của tôi rồi, đã luôn luôn bị tiếng nói ấy sai hiến. Chính vì âm u, đui mù mà tôi có sức mạnh ghê gớm, lắm khi át cả cái linh hồn cao khiết của ông đấy!

          Hồn Trương Ba: Nói láo! Mày chỉ là cái vỏ bên ngoài, không có ý nghĩa gì hết, không có tư tưởng, không có cảm xúc!

          Xác Hàng Thịt: Có thật thế không?

          Hồn Trương Ba: Hoặc nếu có, thì chỉ là những thứ thấp kém, mà bất cứ con thú nào cũng có được: Thèm ăn ngon, thèm rượu thịt...

          Xác Hàng Thịt: Tất nhiên, tất nhiên. Sao ông không kể tiếp: Khi ông ở bên nhà tôi... Khi ông đứng bên cạnh vợ tôi, tay chân run rẩy, hơi thở nóng rực, cổ nghẹn lại... Đêm hôm đó, suýt nữa thì...

          Hồn Trương Ba: Im đi! Đấy là mày chứ, chân tay mày, hơi thở của mày...

          Xác Hàng Thịt: Thì tôi có ghen đâu! Ai lại ghen với chính thân thể mình nhỉ! Tôi chỉ trách là sao đêm ấy ông lại tự dưng bỏ chạy, hoài của!... Này, nhưng ta nên thành thật với nhau một chút: Chẳng lẽ ông không xao xuyến chút gì? Hà hà, cái món tiết canh, cổ hũ, khấu đuôi, và đủ các thứ thú vị khác không làm hồn ông lâng lâng cảm xúc sao? Để thoả mãn tôi, chẳng lẽ ông không tham dự vào chút đỉnh gì? Nào, hãy thành thật trả lời!

          Hồn Trương Ba: Ta... ta... đã bảo mày im đi!

          Xác Hàng Thịt: Rõ là ông không dám trả lời. Giấu ai chứ không thể giấu tôi được! Hai ta đã hoà với nhau làm một rồi!

          Hồn Trương Ba: Không! Ta vẫn có một đời sống riêng: nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn...

          Xác Hàng Thịt: Nực cười thật! Khi ông phải tồn tại nhờ tôi, chiều theo những đòi hỏi của tôi, mà còn nhận là nguyên vẹn, trong sạch, thẳng thắn!

          Hồn Trương Ba: (bịt tai lại) Ta không muốn nghe mày nữa!

          Xác Hàng Thịt: (lắc đầu) Ông cứ việc bịt tai lại! Chẳng có cách nào chối bỏ tôi được đâu! Mà đáng lẽ ông phải cảm ơn tôi. Tôi đã cho ông sức mạnh. Ông có nhớ hôm ông tát thằng con ông toé máu mồm máu mũi không? Cơn giận của ông lại có thêm sức mạnh của tôi... Ha ha!

          Hồn Trương Ba: Ta cần gì đến cái sức mạnh làm ta trở thành tàn bạo.

          (Tuyển tập kịch Lưu Quang Vũ, NXB Sân khấu, Hà Nội, 1994)

          Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.

          Đặc điểm của ngôn ngữ nói trong đoạn kịch Tôi muốn được là tôi toàn vẹn:

          − Đối thoại giữa Hồn Trương Ba và Xác Hàng Thịt.

          − Xưng hô: "ta", "tôi" với .

          từ: "nhỉ", "này", "hà hà", "nào".

          − Từ ngữ chỉ điệu bộ: "bịt tai lại", .

          "cậu"trực tiếp"ông""lắc đầu""Im đi!"gián tiếpTình thái

          (Kéo thả hoặc click vào để điền)