- Quê quán: Phượng Vũ, Thường Tín, Hà Đông (nay là Hà Nội).
- Cha là học giả Nguyễn Văn Vĩnh.
2. Văn bản Sơn Tinh, Thủy Tinh
- Phương thức biểu đạt:
SƠN TINH, THỦY TINH
Nguyễn Nhược Pháp
[Lược thuật phần I:Vua Hùng mở hội kén rể. Hai vị thần Sơn Tinh, Thủy Tinh cùng đến thi tài và xin cưới công chúa Mỵ Nương xinh đẹp, nết na. Nhà vua giao hẹn: Sáng hôm sau ai mang lễ vật đến trước thì sẽ gả công chúa cho người đó.]
II
Bình minh má ửng đào phơn phớt
Ngọc đỏ rung trên đầu lá xanh.
Ngàn liễu chim vàng ca thánh thót,
Ngự giá Hùng Vương lên mặt thành.
Mỵ Nương bên lầu son tựa cửa,
Rèm ngọc lo thơ phủ áo hồng.
Cánh nhạn1 long lanh vờn ánh lửa,
Mê nàng, chim ngẩn lưng giời đông.
Rừng xanh thả mây đào man mác,
Sơn Tinh ngồi bạch hổ đi đầu
Mình phủ áo bào hồng ngọc dát,
Tay ghì cương hổ, tay cầm lau.
Theo sau năm chục con voi xám
Hục hặc, lưng cong phủ gấm điều2,
Tải bạc, kim cương, vàng lấp loáng,
Sừng tê, ngà voi và sừng hươu.
Hùng Vương trên mặt thành liễu rủ,
Hớn hở thần trông, thoáng nụ cười.
Thần suốt đêm sao dài không ngủ,
Mày ngài, mắt phượng vẫn còn tươi.
Sơn Tinh đến lạy chào bên cửa,
Vua thân ngự đón nàng Mỵ Nương,
Lầu son nàng ngoái trông lần lữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.
Quỳ lạy cha già lên kiệu3 bạc,
Thương người, thương cảnh xót lòng đau.
Nhìn quanh, khói toả buồn man mác,
Nàng kêu: “Phụ vương ôi! Phong Châu4!”
Kiệu nhỏ đưa nàng đi thoăn thoắt,
Hùng Vương mơ vịn tay bờ thành,
Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc,
Mắt nhoà, lệ ngọc ngấn đầm quanh...
Thoảng gió vù vù như gió bể,
Thủy Tinh ngồi trên lưng rồng vàng,
Yên gấm tung dài bay đỏ choé,
Mình khoác bào xanh da giời quang.
Theo sau cua đỏ và tôm cá,
Chia đội năm mươi hòm ngọc trai.
Khập khiễng bò lê trên đất lạ,
Trước thành tấp tểnh đi hàng hai,
Hùng Vương mặt rồng chau ủ rũ,
Chân trời còn phảng bóng người yêu,
Thủy Tinh thúc rồng đau kêu rú,
Vừa uất vì thương, vừa bởi kiêu.
Co hết gân, nghiến răng, thần quát:
“Giết! Giết Sơn Tinh hả hờn ta!”
Tức thời nước sủi reo như thác,
Tôm cá quăng ngọc trai mà hoa5.
III
Sơn Tinh đang kèm theo sau kiệu,
Áo bào phơ phất nụ cười bay.
(Vui nhỉ mê ai xinh, mới hiểu)
Thần trông kiệu nhỏ hồn thêm say.
Choàng nghe sóng vỗ reo như sấm,
Bạch hổ dừng chân, lùi, vểnh tai.
Mỵ Nương tung bức rèm đỏ thắm,
Sơn Tinh trông thấy càng dương oai.
Sóng cả gầm reo lăn như chớp,
Thủy Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng.
Cá voi quắc mồm to muốn đớp,
Cá mập quẫy đuôi, cuồng nhe răng,
Càng cua lởm chởm giơ như mác,
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.
Sơn Tinh hiểu thần ghen, tức khắc
Niệm chú, đất nẩy vù lên cao.
Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo.
Đuôi quắp, nhe nanh, gió vuốt đồng,
Đạp long đất núi, gầm xông xáo,
Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng.
Mây đen hăm hở bay mù mịt,
Sấm ran, sét động nổ loè xanh.
Tôm cá xưa nay im thin thít,
Mở quác mồm to kêu thất thanh.
Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu,
Bỗng chợt nàng kêu, mắt lệ nhoà.
(Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,
Nhưng thật dễ thương): “Ô! Vì ta!”
Thuỷ Tinh năm năm dâng nước bể,
Đục núi hò reo đòi Mỵ Nương.
Trần gian đâu có người dai thế,
Cũng bởi thần yêu nên khác thường!
(In trong Tổng tập Văn học Việt Nam,
tập 25, Trung tâm Khoa học xã hội
và Nhân văn Quốc gia,
NXB Khoa học xã hội, 2000)
1Nhạn: chim én.
2Gấm điều: gấm màu đỏ.
3Kiệu: phương tiện thời trước dùng để khiêng người đi đường, gồm một ghế ngồi có mui che.
4Phong Châu: địa danh, kinh đô nước ta thời Hùng Vương.
5Hoa: múa may (hoa chân, múa tay).
Văn bản không sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Nghị luận.
Tự sự.
Miêu tả.
Biểu cảm.
- Xuất xứ: in trong tập Ngày xưa.
- Bố cục:
+ Phần 1 (Từ đầu đến giời đông.): Khung cảnh Hùng Vương kén rể cho Mỵ Nương.
+ Phần 2 (Tiếp theo đến đầm quanh…): Vẻ đẹp và hành động của Sơn Tinh.
+ Phần 3 (Tiếp theo đến mà hoa.): Vẻ đẹp và hành động của Thủy Tinh.
+ Phần 4 (Tiếp theo đến Ô!Vì ta!): Cuộc giao tranh giữa hai vị thần.
+ Phần 5 (Còn lại): Lí giải lí do hằng năm Thủy Tinh dâng nước.
II. Đọc hiểu văn bản
1. Chủ đề, cảm hứng chủ đạo
- Chủ đề:
SƠN TINH, THỦY TINH
Nguyễn Nhược Pháp
[Lược thuật phần I:Vua Hùng mở hội kén rể. Hai vị thần Sơn Tinh, Thủy Tinh cùng đến thi tài và xin cưới công chúa Mỵ Nương xinh đẹp, nết na. Nhà vua giao hẹn: Sáng hôm sau ai mang lễ vật đến trước thì sẽ gả công chúa cho người đó.]
II
Bình minh má ửng đào phơn phớt
Ngọc đỏ rung trên đầu lá xanh.
Ngàn liễu chim vàng ca thánh thót,
Ngự giá Hùng Vương lên mặt thành.
Mỵ Nương bên lầu son tựa cửa,
Rèm ngọc lo thơ phủ áo hồng.
Cánh nhạn1 long lanh vờn ánh lửa,
Mê nàng, chim ngẩn lưng giời đông.
Rừng xanh thả mây đào man mác,
Sơn Tinh ngồi bạch hổ đi đầu
Mình phủ áo bào hồng ngọc dát,
Tay ghì cương hổ, tay cầm lau.
Theo sau năm chục con voi xám
Hục hặc, lưng cong phủ gấm điều2,
Tải bạc, kim cương, vàng lấp loáng,
Sừng tê, ngà voi và sừng hươu.
Hùng Vương trên mặt thành liễu rủ,
Hớn hở thần trông, thoáng nụ cười.
Thần suốt đêm sao dài không ngủ,
Mày ngài, mắt phượng vẫn còn tươi.
Sơn Tinh đến lạy chào bên cửa,
Vua thân ngự đón nàng Mỵ Nương,
Lầu son nàng ngoái trông lần lữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.
Quỳ lạy cha già lên kiệu3 bạc,
Thương người, thương cảnh xót lòng đau.
Nhìn quanh, khói toả buồn man mác,
Nàng kêu: “Phụ vương ôi! Phong Châu4!”
Kiệu nhỏ đưa nàng đi thoăn thoắt,
Hùng Vương mơ vịn tay bờ thành,
Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc,
Mắt nhoà, lệ ngọc ngấn đầm quanh...
Thoảng gió vù vù như gió bể,
Thủy Tinh ngồi trên lưng rồng vàng,
Yên gấm tung dài bay đỏ choé,
Mình khoác bào xanh da giời quang.
Theo sau cua đỏ và tôm cá,
Chia đội năm mươi hòm ngọc trai.
Khập khiễng bò lê trên đất lạ,
Trước thành tấp tểnh đi hàng hai,
Hùng Vương mặt rồng chau ủ rũ,
Chân trời còn phảng bóng người yêu,
Thủy Tinh thúc rồng đau kêu rú,
Vừa uất vì thương, vừa bởi kiêu.
Co hết gân, nghiến răng, thần quát:
“Giết! Giết Sơn Tinh hả hờn ta!”
Tức thời nước sủi reo như thác,
Tôm cá quăng ngọc trai mà hoa5.
III
Sơn Tinh đang kèm theo sau kiệu,
Áo bào phơ phất nụ cười bay.
(Vui nhỉ mê ai xinh, mới hiểu)
Thần trông kiệu nhỏ hồn thêm say.
Choàng nghe sóng vỗ reo như sấm,
Bạch hổ dừng chân, lùi, vểnh tai.
Mỵ Nương tung bức rèm đỏ thắm,
Sơn Tinh trông thấy càng dương oai.
Sóng cả gầm reo lăn như chớp,
Thủy Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng.
Cá voi quắc mồm to muốn đớp,
Cá mập quẫy đuôi, cuồng nhe răng,
Càng cua lởm chởm giơ như mác,
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.
Sơn Tinh hiểu thần ghen, tức khắc
Niệm chú, đất nẩy vù lên cao.
Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo.
Đuôi quắp, nhe nanh, gió vuốt đồng,
Đạp long đất núi, gầm xông xáo,
Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng.
Mây đen hăm hở bay mù mịt,
Sấm ran, sét động nổ loè xanh.
Tôm cá xưa nay im thin thít,
Mở quác mồm to kêu thất thanh.
Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu,
Bỗng chợt nàng kêu, mắt lệ nhoà.
(Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,
Nhưng thật dễ thương): “Ô! Vì ta!”
Thuỷ Tinh năm năm dâng nước bể,
Đục núi hò reo đòi Mỵ Nương.
Trần gian đâu có người dai thế,
Cũng bởi thần yêu nên khác thường!
(In trong Tổng tập Văn học Việt Nam,
tập 25, Trung tâm Khoa học xã hội
và Nhân văn Quốc gia,
NXB Khoa học xã hội, 2000)
1Nhạn: chim én.
2Gấm điều: gấm màu đỏ.
3Kiệu: phương tiện thời trước dùng để khiêng người đi đường, gồm một ghế ngồi có mui che.
4Phong Châu: địa danh, kinh đô nước ta thời Hùng Vương.
5Hoa: múa may (hoa chân, múa tay).
Thông qua cuộc thi tài của hai vị thần Sơn Tinh, Thuỷ Tinh, tác giả muốn lí giải điều gì theo quan niệm dân gian?
Khả năng chiến đấu của nhân dân ta.
Lễ vật dùng trong cưới gả.
Hiện tượng lũ lụt xảy ra hằng năm.
Bản lĩnh của con người trong thử thách.
- Cảm hứng chủ đạo của văn bản: Ngợi ca việc vua Hùng chọn được rể hiền tài và tinh thần thượng võ của Sơn Tinh.
2. Nhân vật
a. Nhân vật Sơn Tinh
- Phần giới thiệu:
SƠN TINH, THỦY TINH
Nguyễn Nhược Pháp
[Lược thuật phần I:Vua Hùng mở hội kén rể. Hai vị thần Sơn Tinh, Thủy Tinh cùng đến thi tài và xin cưới công chúa Mỵ Nương xinh đẹp, nết na. Nhà vua giao hẹn: Sáng hôm sau ai mang lễ vật đến trước thì sẽ gả công chúa cho người đó.]
II
Bình minh má ửng đào phơn phớt
Ngọc đỏ rung trên đầu lá xanh.
Ngàn liễu chim vàng ca thánh thót,
Ngự giá Hùng Vương lên mặt thành.
Mỵ Nương bên lầu son tựa cửa,
Rèm ngọc lo thơ phủ áo hồng.
Cánh nhạn1 long lanh vờn ánh lửa,
Mê nàng, chim ngẩn lưng giời đông.
Rừng xanh thả mây đào man mác,
Sơn Tinh ngồi bạch hổ đi đầu
Mình phủ áo bào hồng ngọc dát,
Tay ghì cương hổ, tay cầm lau.
Theo sau năm chục con voi xám
Hục hặc, lưng cong phủ gấm điều2,
Tải bạc, kim cương, vàng lấp loáng,
Sừng tê, ngà voi và sừng hươu.
Hùng Vương trên mặt thành liễu rủ,
Hớn hở thần trông, thoáng nụ cười.
Thần suốt đêm sao dài không ngủ,
Mày ngài, mắt phượng vẫn còn tươi.
Sơn Tinh đến lạy chào bên cửa,
Vua thân ngự đón nàng Mỵ Nương,
Lầu son nàng ngoái trông lần lữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.
Quỳ lạy cha già lên kiệu3 bạc,
Thương người, thương cảnh xót lòng đau.
Nhìn quanh, khói toả buồn man mác,
Nàng kêu: “Phụ vương ôi! Phong Châu4!”
Kiệu nhỏ đưa nàng đi thoăn thoắt,
Hùng Vương mơ vịn tay bờ thành,
Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc,
Mắt nhoà, lệ ngọc ngấn đầm quanh...
Thoảng gió vù vù như gió bể,
Thủy Tinh ngồi trên lưng rồng vàng,
Yên gấm tung dài bay đỏ choé,
Mình khoác bào xanh da giời quang.
Theo sau cua đỏ và tôm cá,
Chia đội năm mươi hòm ngọc trai.
Khập khiễng bò lê trên đất lạ,
Trước thành tấp tểnh đi hàng hai,
Hùng Vương mặt rồng chau ủ rũ,
Chân trời còn phảng bóng người yêu,
Thủy Tinh thúc rồng đau kêu rú,
Vừa uất vì thương, vừa bởi kiêu.
Co hết gân, nghiến răng, thần quát:
“Giết! Giết Sơn Tinh hả hờn ta!”
Tức thời nước sủi reo như thác,
Tôm cá quăng ngọc trai mà hoa5.
III
Sơn Tinh đang kèm theo sau kiệu,
Áo bào phơ phất nụ cười bay.
(Vui nhỉ mê ai xinh, mới hiểu)
Thần trông kiệu nhỏ hồn thêm say.
Choàng nghe sóng vỗ reo như sấm,
Bạch hổ dừng chân, lùi, vểnh tai.
Mỵ Nương tung bức rèm đỏ thắm,
Sơn Tinh trông thấy càng dương oai.
Sóng cả gầm reo lăn như chớp,
Thủy Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng.
Cá voi quắc mồm to muốn đớp,
Cá mập quẫy đuôi, cuồng nhe răng,
Càng cua lởm chởm giơ như mác,
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.
Sơn Tinh hiểu thần ghen, tức khắc
Niệm chú, đất nẩy vù lên cao.
Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo.
Đuôi quắp, nhe nanh, gió vuốt đồng,
Đạp long đất núi, gầm xông xáo,
Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng.
Mây đen hăm hở bay mù mịt,
Sấm ran, sét động nổ loè xanh.
Tôm cá xưa nay im thin thít,
Mở quác mồm to kêu thất thanh.
Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu,
Bỗng chợt nàng kêu, mắt lệ nhoà.
(Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,
Nhưng thật dễ thương): “Ô! Vì ta!”
Thuỷ Tinh năm năm dâng nước bể,
Đục núi hò reo đòi Mỵ Nương.
Trần gian đâu có người dai thế,
Cũng bởi thần yêu nên khác thường!
(In trong Tổng tập Văn học Việt Nam,
tập 25, Trung tâm Khoa học xã hội
và Nhân văn Quốc gia,
NXB Khoa học xã hội, 2000)
1Nhạn: chim én.
2Gấm điều: gấm màu đỏ.
3Kiệu: phương tiện thời trước dùng để khiêng người đi đường, gồm một ghế ngồi có mui che.
4Phong Châu: địa danh, kinh đô nước ta thời Hùng Vương.
5Hoa: múa may (hoa chân, múa tay).
Nối để làm rõ ngoại hình và hành động của Sơn Tinh trong phần giới thiệu ban đầu.
Ngoại hình:
Mình phủ áo bào hồng ngọc dát
Hành động:
Sơn Tinh ngồi bạch hổ đi đầu
=> Ngoại hình và hành động của Sơn Tinh cho thấy được bản lĩnh, khí chất của vị thần này.
=> Nhân vật Sơn Tinh được khắc họa qua ngoại hình, hành vi, lời nói giống con người.
- So sánh với truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh:
+ Truyền thuyết chỉ có lời kể hành động, sự việc; hầu như không có các chi tiết miêu tả ngoại hình, hành vi, lời nói.
b. Nhân vật Thủy Tinh
- Nhân vật được làm rõ qua chi tiết miêu tả ngoại hình, hành vi, lời nói giống con người: Thuỷ Tinh ngồi trên lưng rồng vàng,/Yên gấm tung dài bay đỏ choé,/Mình khoác bào xanh da giời quang.
=> Các chi tiết khắc họa Thủy Tinh khác với truyền thuyết. Truyền thuyết chỉ có lời kể hành động, sự việc; hầu như không có các chi tiết miêu tả ngoại hình, hành vi, lời nói của Thủy Tinh.
3. Chi tiết kì ảo
- Đoàn dẫn lễ của Sơn Tinh: Theo sau năm chục con voi xám/Hục hặc, lưng cong phủ gấm điều/Tải bạc, kim cương, vàng lấp loáng,/Sừng tê, ngà voi và sừng hươu.
- Đoàn dẫn lễ của Thuỷ Tinh: Theo sau cua đỏ và tôm cá,/Chia đội năm mươi hòm ngọc trai./Khập khiễng bò lê trên đất lạ,/Trước thành tấp tểnh đi hàng hai.
=> Tác dụng: Tạo ra một không gian mơ hồ, mang đến cho người đọc cảm giác phi thực tế, tăng thêm sự hấp dẫn và sự lôi cuốn của câu chuyện; đồng thời cũng thể hiện ý chí, sức mạnh của từng nhân vật.
4. Chi tiết, hình ảnh thể hiện khung cảnh cuộc sống và các tục lệ
SƠN TINH, THỦY TINH
Nguyễn Nhược Pháp
[Lược thuật phần I:Vua Hùng mở hội kén rể. Hai vị thần Sơn Tinh, Thủy Tinh cùng đến thi tài và xin cưới công chúa Mỵ Nương xinh đẹp, nết na. Nhà vua giao hẹn: Sáng hôm sau ai mang lễ vật đến trước thì sẽ gả công chúa cho người đó.]
II
Bình minh má ửng đào phơn phớt
Ngọc đỏ rung trên đầu lá xanh.
Ngàn liễu chim vàng ca thánh thót,
Ngự giá Hùng Vương lên mặt thành.
Mỵ Nương bên lầu son tựa cửa,
Rèm ngọc lo thơ phủ áo hồng.
Cánh nhạn1 long lanh vờn ánh lửa,
Mê nàng, chim ngẩn lưng giời đông.
Rừng xanh thả mây đào man mác,
Sơn Tinh ngồi bạch hổ đi đầu
Mình phủ áo bào hồng ngọc dát,
Tay ghì cương hổ, tay cầm lau.
Theo sau năm chục con voi xám
Hục hặc, lưng cong phủ gấm điều2,
Tải bạc, kim cương, vàng lấp loáng,
Sừng tê, ngà voi và sừng hươu.
Hùng Vương trên mặt thành liễu rủ,
Hớn hở thần trông, thoáng nụ cười.
Thần suốt đêm sao dài không ngủ,
Mày ngài, mắt phượng vẫn còn tươi.
Sơn Tinh đến lạy chào bên cửa,
Vua thân ngự đón nàng Mỵ Nương,
Lầu son nàng ngoái trông lần lữa,
Mi xanh lệ ngọc mờ hơi sương.
Quỳ lạy cha già lên kiệu3 bạc,
Thương người, thương cảnh xót lòng đau.
Nhìn quanh, khói toả buồn man mác,
Nàng kêu: “Phụ vương ôi! Phong Châu4!”
Kiệu nhỏ đưa nàng đi thoăn thoắt,
Hùng Vương mơ vịn tay bờ thành,
Trông bụi hồng tuôn xa, xa lắc,
Mắt nhoà, lệ ngọc ngấn đầm quanh...
Thoảng gió vù vù như gió bể,
Thủy Tinh ngồi trên lưng rồng vàng,
Yên gấm tung dài bay đỏ choé,
Mình khoác bào xanh da giời quang.
Theo sau cua đỏ và tôm cá,
Chia đội năm mươi hòm ngọc trai.
Khập khiễng bò lê trên đất lạ,
Trước thành tấp tểnh đi hàng hai,
Hùng Vương mặt rồng chau ủ rũ,
Chân trời còn phảng bóng người yêu,
Thủy Tinh thúc rồng đau kêu rú,
Vừa uất vì thương, vừa bởi kiêu.
Co hết gân, nghiến răng, thần quát:
“Giết! Giết Sơn Tinh hả hờn ta!”
Tức thời nước sủi reo như thác,
Tôm cá quăng ngọc trai mà hoa5.
III
Sơn Tinh đang kèm theo sau kiệu,
Áo bào phơ phất nụ cười bay.
(Vui nhỉ mê ai xinh, mới hiểu)
Thần trông kiệu nhỏ hồn thêm say.
Choàng nghe sóng vỗ reo như sấm,
Bạch hổ dừng chân, lùi, vểnh tai.
Mỵ Nương tung bức rèm đỏ thắm,
Sơn Tinh trông thấy càng dương oai.
Sóng cả gầm reo lăn như chớp,
Thủy Tinh cưỡi lưng rồng hung hăng.
Cá voi quắc mồm to muốn đớp,
Cá mập quẫy đuôi, cuồng nhe răng,
Càng cua lởm chởm giơ như mác,
Tôm kềnh chạy quắp đuôi xôn xao.
Sơn Tinh hiểu thần ghen, tức khắc
Niệm chú, đất nẩy vù lên cao.
Hoa tay thần vẫy hùm, voi, báo.
Đuôi quắp, nhe nanh, gió vuốt đồng,
Đạp long đất núi, gầm xông xáo,
Máu vọt phì reo muôn ngấn hồng.
Mây đen hăm hở bay mù mịt,
Sấm ran, sét động nổ loè xanh.
Tôm cá xưa nay im thin thít,
Mở quác mồm to kêu thất thanh.
Mỵ Nương kinh hãi ngồi trong kiệu,
Bỗng chợt nàng kêu, mắt lệ nhoà.
(Giọng kiêu hay buồn không ai hiểu,
Nhưng thật dễ thương): “Ô! Vì ta!”
Thuỷ Tinh năm năm dâng nước bể,
Đục núi hò reo đòi Mỵ Nương.
Trần gian đâu có người dai thế,
Cũng bởi thần yêu nên khác thường!
(In trong Tổng tập Văn học Việt Nam,
tập 25, Trung tâm Khoa học xã hội
và Nhân văn Quốc gia,
NXB Khoa học xã hội, 2000)
1Nhạn: chim én.
2Gấm điều: gấm màu đỏ.
3Kiệu: phương tiện thời trước dùng để khiêng người đi đường, gồm một ghế ngồi có mui che.
4Phong Châu: địa danh, kinh đô nước ta thời Hùng Vương.
5Hoa: múa may (hoa chân, múa tay).
Phân loại để làm rõ các chi tiết.
Cảnh dẫn lễ vật
Cảnh rước dâu
Thi tài kén rể
Cảnh lưu luyến, bịn rịn của cô dâu và bố mẹ
Phản ánh tục lệ:
Khung cảnh đời thường:
=> Các chi tiết đã làm sống dậy khung cảnh cuộc sống ngày xưa và nét văn hoá cổ truyền của người Việt Nam.
III. Tổng kết
1. Nội dung
- Bài thơ đã tái hiện lại cuộc giao tranh để giành Mỵ Nương của hai vị thần là Sơn Tinh và Thủy Tinh.
- Từ đó, văn bản lí giải hiện tượng bão lũ hằng năm một cách độc đáo, sinh động.
2. Nghệ thuật
- Ngôn từ hấp dẫn, cách miêu tả sinh động.
- Xây dựng hình tượng thần linh với ngoại hình, hành động, lời nói giống với con người.