Ngàn sao làm việc

Câu 1

Một số thông tin về tác giả Võ Quảng (1920 − 2007)

− Quê quán: Xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).

− Quá trình hoạt động:

+ Tham gia cách mạng từ sớm (1935), từng bị chính quyền Pháp bắt giam và quản thúc tại quê nhà.

+ Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông đảm nhiệm nhiều vị trí công tác như: Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, Phó Chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam.

+ Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc và dành trọn tâm huyết cho con đường văn học.

+ Ông là một trong những thành viên sáng lập, giữ vai trò Tổng biên tập/ Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.

+ Giữ chức Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam).

− Sự nghiệp sáng tác & Phong cách nghệ thuật

+ Vị trí: Là cây bút tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu, tiên phong đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Ông đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em.

+ Thể loại đa dạng:

++ Sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.

++ Viết kịch bản phim hoạt hình (như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Những chiếc áo ấm).

++ Dịch giả tác phẩm văn học thế giới nổi tiếng (như Đôn Kihôtê − Hoàng Huy dịch, Người anh hùng rừng Séc Vút).

− Phong cách sáng tác:

+ Thơ viết cho thiếu nhi vô cùng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.

+ Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu nhịp điệu.

+ Giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui, tràn đầy tình yêu thiên nhiên, con người và thế giới loài vật.

− Tác phẩm tiêu biểu & Giải thưởng:

+ Các tác phẩm chính:

++ Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quả đỏ (1980),...

++ Truyện: Những chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1974), Tảng sáng (1976),...

+ Giải thưởng: Được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.

Đối tượng sáng tác chính và xuyên suốt trong cả đời cầm bút của Võ Quảng là

những người nông dân lao động.
các trí thức thanh niên trẻ tuổi.
các em thiếu niên và nhi đồng.
những người chiến sĩ cách mạng.
Câu 2

Một số thông tin về tác giả Võ Quảng (1920 − 2007)

− Quê quán: Xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).

− Quá trình hoạt động:

+ Tham gia cách mạng từ sớm (1935), từng bị chính quyền Pháp bắt giam và quản thúc tại quê nhà.

+ Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông đảm nhiệm nhiều vị trí công tác như: Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, Phó Chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam.

+ Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc và dành trọn tâm huyết cho con đường văn học.

+ Ông là một trong những thành viên sáng lập, giữ vai trò Tổng biên tập/ Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.

+ Giữ chức Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam).

− Sự nghiệp sáng tác & Phong cách nghệ thuật

+ Vị trí: Là cây bút tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu, tiên phong đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Ông đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em.

+ Thể loại đa dạng:

++ Sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.

++ Viết kịch bản phim hoạt hình (như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Những chiếc áo ấm).

++ Dịch giả tác phẩm văn học thế giới nổi tiếng (như Đôn Kihôtê − Hoàng Huy dịch, Người anh hùng rừng Séc Vút).

− Phong cách sáng tác:

+ Thơ viết cho thiếu nhi vô cùng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.

+ Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu nhịp điệu.

+ Giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui, tràn đầy tình yêu thiên nhiên, con người và thế giới loài vật.

− Tác phẩm tiêu biểu & Giải thưởng:

+ Các tác phẩm chính:

++ Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quả đỏ (1980),...

++ Truyện: Những chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1974), Tảng sáng (1976),...

+ Giải thưởng: Được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.

Ngoài sáng tác thơ và truyện ngắn, Võ Quảng còn tham gia vào lĩnh vực nghệ thuật nào dưới đây?

Viết kịch bản cho phim hoạt hình.
Biểu diễn tại sân khấu kịch nói.
Soạn thảo kịch bản sân khấu tuồng.
Sáng tác các bản nhạc thiếu nhi.
Câu 3

Một số thông tin về tác giả Võ Quảng (1920 − 2007)

− Quê quán: Xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).

− Quá trình hoạt động:

+ Tham gia cách mạng từ sớm (1935), từng bị chính quyền Pháp bắt giam và quản thúc tại quê nhà.

+ Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông đảm nhiệm nhiều vị trí công tác như: Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, Phó Chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam.

+ Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc và dành trọn tâm huyết cho con đường văn học.

+ Ông là một trong những thành viên sáng lập, giữ vai trò Tổng biên tập/ Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.

+ Giữ chức Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam).

− Sự nghiệp sáng tác & Phong cách nghệ thuật

+ Vị trí: Là cây bút tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu, tiên phong đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Ông đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em.

+ Thể loại đa dạng:

++ Sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.

++ Viết kịch bản phim hoạt hình (như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Những chiếc áo ấm).

++ Dịch giả tác phẩm văn học thế giới nổi tiếng (như Đôn Kihôtê − Hoàng Huy dịch, Người anh hùng rừng Séc Vút).

− Phong cách sáng tác:

+ Thơ viết cho thiếu nhi vô cùng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.

+ Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu nhịp điệu.

+ Giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui, tràn đầy tình yêu thiên nhiên, con người và thế giới loài vật.

− Tác phẩm tiêu biểu & Giải thưởng:

+ Các tác phẩm chính:

++ Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quả đỏ (1980),...

++ Truyện: Những chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1974), Tảng sáng (1976),...

+ Giải thưởng: Được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.

Những tác phẩm thơ viết cho thiếu nhi của Võ Quảng có đặc điểm nổi bật nào dưới đây?

Cổ kính, trang trọng, sử dụng nhiều từ ngữ Hán Việt.
Sắc sảo, góc cạnh, tập trung vào các chủ đề xã hội.
Giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.
Trầm lắng, suy tư, mang nặng tính triết lý về cuộc sống.
Câu 4

Một số thông tin về tác giả Võ Quảng (1920 − 2007)

− Quê quán: Xã Đại Hoà, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc thành phố Đà Nẵng).

− Quá trình hoạt động:

+ Tham gia cách mạng từ sớm (1935), từng bị chính quyền Pháp bắt giam và quản thúc tại quê nhà.

+ Sau Cách mạng tháng Tám (1945), ông đảm nhiệm nhiều vị trí công tác như: Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Đà Nẵng, Phó Chánh án Toà án Quân sự miền Nam Việt Nam.

+ Sau năm 1954, ông tập kết ra Bắc và dành trọn tâm huyết cho con đường văn học.

+ Ông là một trong những thành viên sáng lập, giữ vai trò Tổng biên tập/ Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Kim Đồng.

+ Giữ chức Chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi (Hội Nhà văn Việt Nam).

− Sự nghiệp sáng tác & Phong cách nghệ thuật

+ Vị trí: Là cây bút tiêu biểu, xuất sắc hàng đầu, tiên phong đặt nền móng cho nền văn học thiếu nhi Việt Nam. Ông đã dành trọn tình yêu, tài năng và tâm huyết cho trẻ em.

+ Thể loại đa dạng:

++ Sáng tác thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết.

++ Viết kịch bản phim hoạt hình (như Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Những chiếc áo ấm).

++ Dịch giả tác phẩm văn học thế giới nổi tiếng (như Đôn Kihôtê − Hoàng Huy dịch, Người anh hùng rừng Séc Vút).

− Phong cách sáng tác:

+ Thơ viết cho thiếu nhi vô cùng giản dị, trong sáng, gợi nhiều liên tưởng bất ngờ, độc đáo.

+ Ngôn ngữ và hình ảnh giàu chất tạo hình, giàu nhịp điệu.

+ Giọng điệu hồn nhiên, ngộ nghĩnh, tươi vui, tràn đầy tình yêu thiên nhiên, con người và thế giới loài vật.

− Tác phẩm tiêu biểu & Giải thưởng:

+ Các tác phẩm chính:

++ Thơ: Gà mái hoa (1957), Thấy cái hoa nở (1962), Nắng sớm (1965), Anh đom đóm (1970), Quả đỏ (1980),...

++ Truyện: Những chiếc áo ấm (1970), Quê nội (1974), Tảng sáng (1976),...

+ Giải thưởng: Được Nhà nước Việt Nam truy tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2007.

Tác phẩm nào dưới đây là một tập thơ nổi tiếng của nhà thơ Võ Quảng?

Tảng sáng.
Những chiếc áo ấm.
Quê nội.
Thấy cái hoa nở.
Câu 5

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Bài thơ "Ngàn sao làm việc" được viết theo thể thơ

năm chữ.
lục bát.
tự do.
bốn chữ.
Câu 6

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Nhân vật trữ tình trong bài thơ "Ngàn sao làm việc" là một

em nhỏ chăn trâu đang dắt trâu về nhà.
nhà thiên văn học đang quan sát bầu trời đêm.
người nông dân đang gặt lúa trên đồng.
người du khách đi ngắm cảnh thiên nhiên đêm.
Câu 7

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Cảnh vật ở hai khổ thơ đầu được miêu tả trong khoảng thời gian nào dưới đây?

Lúc bình minh sáng sớm.
Lúc nửa đêm về sáng.
Lúc chiều tối (chập tối).
Lúc giữa trưa nắng gắt.
Câu 8

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Dải Ngân Hà trên bầu trời đêm được tác giả miêu tả với trạng thái nào dưới đây?

Đứng yên không di chuyển.
Mờ ảo ẩn hiện trong mây.
Cuồn cuộn sóng trào.
Chảy giữa trời lồng lộng.
Câu 9

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Trong bài thơ, sao Thần Nông được so sánh với hình ảnh công cụ lao động là

vó bằng vàng.
nơm bắt cá.
quạt hồng.
gàu tát nước.
Câu 10

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Xác định biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ sau.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Liệt kê.
So sánh.
Nhân hoá.
Ẩn dụ.
Câu 11

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Nhóm Đại Hùng tinh đang làm công việc gì bên sông Ngân?


Buông gàu tát nước.
Quạt mát bầu trời.
Cất vó kéo cá.
Thắp đuốc soi cá.
Câu 12

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Tâm trạng/ trạng thái của nhân vật "tôi" trong hai khổ thơ đầu là

buồn bã, cô đơn trước cảnh đồng quê tối mò.
lo âu, vội vàng giục trâu đi thật nhanh về nhà.
thảnh thơi ngồi ngắm nhìn trâu ăn cỏ.
thong dong và thảnh thơi với thiên nhiên.
Câu 13

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Các hình ảnh so sánh được sử dụng trong bài thơ có nét chung nào dưới đây?

Đều miêu tả vẻ đẹp lung linh và huyền ảo của chốn bồng lai tiên cảnh.
Đều thể hiện sự vất vả cùng nỗi nhọc nhằn của người nông dân Việt Nam.
Đều lấy từ các dụng cụ và công việc lao động nông nghiệp quen thuộc.
Đều mô tả các hiện tượng thiên nhiên hùng vĩ trong kho tàng cổ tích.
Câu 14

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.

Hình ảnh "chiếc quạt hồng" ở khổ thơ cuối là một hình ảnh ẩn dụ tuyệt đẹp báo hiệu thời điểm đến, kết thúc ca làm việc đêm của ngàn sao. Tác giả đã sử dụng biện pháp độc đáo để ví ánh hồng rực rỡ của buổi sớm mai như một làn gió mát lành xua tan đêm tối. Qua đó, bức tranh thiên nhiên không chỉ mang vẻ đẹp mà còn ngập tràn sức sống và niềm vui. Chi tiết này khép lại bài thơ một cách trọn vẹn, tôn vinh giá trị của tinh thần hăng hái.

hoàng hônẩn dụso sánhhừng đôngyên tĩnhlao độngrực rỡchiến đấu

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 15

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật chủ yếu nào khi miêu tả "Thần Nông", "sao Hôm", "Đại Hùng tinh"?

So sánh và nhân hoá.
Điệp ngữ và ẩn dụ.
Liệt kê và điệp ngữ.
Tương phản và ẩn dụ.
Câu 16

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Chi tiết "những sao dọc ngang" được so sánh với "tôm cua bơi lội" gợi lên khung cảnh

vũ trụ bao la bỗng nhiên trở nên hỗn loạn, mất trật tự.
bầu trời đêm trở nên vô cùng sinh động, nhộn nhịp.
đìu hiu, vắng lặng và tĩnh mịch của dải Ngân Hà vào đêm khuya.
kỳ bí, rùng rợn của thế giới tự nhiên khi màn đêm buông xuống.
Câu 17

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Hình ảnh "Trâu tôi đi đủng đỉnh/ Như bước giữa ngàn sao" thể hiện con người

nhỏ bé và choáng ngợp trước thiên nhiên.
hoàn toàn chinh phục và làm chủ vũ trụ.
hoà quyện, nhịp nhàng và chan hoà với thiên nhiên.
tách biệt, không quan tâm đến cảnh vật xung quanh.
Câu 18

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Từ láy "đủng đỉnh" trong câu thơ "Trâu tôi đi đủng đỉnh" có vai trò gợi tả

nhịp bước vội vàng, cuống quýt để kịp về nhà trước khi tối hẳn.
sự mệt mỏi, uể oải của chú trâu sau một ngày làm việc vất vả.
sự sợ hãi, ung dung của chú trâu khi đi trong đêm tối đồng quê.
bước đi thong thả, chậm rãi và tâm thái thảnh thơi của trâu.
Câu 19

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Ngôn ngữ của bài thơ

giản dị, giàu chất tạo hình và đượm màu sắc đồng quê gần gũi.
sắc sảo, góc cạnh và giàu tính triết lý tranh luận gay gắt.
sử dụng nhiều từ Hán Việt cổ kính, mang đậm tính trang trọng.
tượng hình trừu tượng, khó hiểu và xa rời đời sống thực tế.
Câu 20

NGÀN SAO LÀM VIỆC

Võ Quảng

Bóng chiều toả ra nhanh
Trên các bờ bụi rậm
Đồng quê đang xanh thẫm
Bỗng chốc trở tối mò

Trâu tôi đã ăn no
Bước giữa trời yên tĩnh
Trâu tôi đi đủng đỉnh
Như bước giữa ngàn sao

Sông Ngân Hà nao nao
Chảy giữa trời lồng lộng.
Sao Thần Nông toả rộng
Một chiếc bằng vàng,
Đón những sao dọc ngang
Như tôm cua bơi lội.

Phía đông nam rời rợi
Ai đặt một chiếc nơm
Rờ rỡ ngôi sao Hôm
Như đuốc đèn soi cá.

Bên trời thêm rộn rã
Cả nhóm Đại Hùng tinh
Buông gàu bên sông Ngân
Suốt đêm lo tát nước...

Ngàn sao vui làm việc
Mãi đến lúc hừng đông
Phe phẩy chiếc quạt hồng
Báo ngày lên về nghỉ.

(Tuyển tập Võ Quảng, tập II,
NXB Văn học, Hà Nội, 1998, tr 170 – 171)

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.

Bài thơ "Ngàn sao làm việc" của Võ Quảng là một bức tranh thiên nhiên rực rỡ, tràn đầy sức sống và đậm đà sắc màu Việt Nam. Bằng thể thơ nhịp nhàng cùng trí tưởng tượng bay bổng, nhà thơ đã biến bầu trời đêm bao la thành một không gian lao động , nơi các hiện lên qua những hình ảnh so sánh độc đáo gắn liền với dụng cụ . Bức tranh ấy phản chiếu tâm hồn hồn nhiên của chú bé chăn trâu, đồng thời gửi gắm bài học sâu sắc về niềm vui của sự cống hiến. Qua đó, tác phẩm tiếp tục khẳng định phong cách thơ thiếu nhi đặc trưng của Võ Quảng: , ngộ nghĩnh và giàu chất tạo hình.