Luyện tập

Câu 1

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Đề tài và thi liệu của bài thơ gắn với điều gì?

Địa danh có ý nghĩa lịch sử và niềm tự hào dân tộc.
Không gian hùng vĩ.
Cuộc sống quan trường.
Chiến tranh vệ quốc và tinh thần của người lính.
Câu 2

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Hình tượng thiên nhiên nơi cửa biển Bạch Đằng được miêu tả với

vẻ đẹp lộng lẫycủa dòng sông.
nỗi lo cho sự tồn vong của đất nước.
vẻ đẹp hùng vĩ, hiểm trở của dòng sông nhiều lần nhấn chìm quân xâm lược.
những lời ca lãng mạn, mang đầy tình thương cho những người lính đã chết thảm.
Câu 3

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Dấu tích của những chiến công oanh liệt, hào hùng mang lại cho cảnh sắc thiên nhiên nét đẹp riêng. Nét đẹp đó được thể hiện qua câu thơ nào?

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng
Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.
Hào kiệt công danh thử địa tằng
Sóc phong xuy hải khí lăng lăng
Câu 4

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Biểu hiện của cảm hứng lịch sử và cảm hứng thế sự của tác giả trong bốn câu thơ cuối là gì?

Tự hào về địa thế hiểm trở nhưng hùng vĩ của núi sông nước Việt.
Ngợi ca những anh hùng, hào kiệt đã góp phần làm nên chiến thắng oai hùng.
Tiếc nuối những chiến công của dân tộc đã phai mờ theo thời gian.
Bâng khuâng trước dòng chảy của thời gian, xúc động trong nỗi niềm hoài cổ.
Câu 5

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Căn cứ vào cảm xúc, tâm trạng, giọng điệu,… có thể xác định tác giả viết bài thơ trong khoảng thời gian nào?

Sau cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược, khi cả nước đang ăn mừng chiến thắng.
Sau cuộc kháng chiến chống quân Nguyên xâm lược, khi cả nước đang ăn mừng chiến thắng.
Sau cuộc kháng chiến chống quân Thanh xâm lược, khi cả nước đã hoà bình, thịnh vượng.
Sau cuộc kháng chiến chống quân Minh, khi chưa thất vọng về thực trạng xã hội đương thời.
Câu 6

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Bài thơ mang đến cho ta cảm nhận mới như thế nào về tâm hồn tác giả?

Lo lắng, tiếc nuối trước chiến công hiển hách.
Buồn vì chính sự dẫu vẫn thanh cao.
Phơi phới, tràn đầy hùng tâm, tráng chí.
Hiếu chiến, cao ngạo nhưng đầy tính nhân văn.
Câu 7

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Những anh hùng nào của dân tộc đã lập nên chiến công hiển hách ở sông Bạch Đằng? (Chọn 2 đáp án)

Trần Quốc Toản.
Lê Lợi.
Trần Hưng Đạo.
Ngô Quyền.
Câu 8

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Điền từ thích hợp vào chỗ trống.

Bài thơ khắc họa vẻ đẹp không gian , kì vĩ của sông Bạch Đằng, nơi đã chứng kiến bao thay đổi vang dội, của dân tộc. Tác giả đứng trước dòng sông và hồi tưởng lại những , dĩ vãng một thời không khỏi , xót xa.

rộng lớnlịch sửnuối tiếcquá khứđịa lítương lai

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 9

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Sự khác nhau giữa hình tượng thiên nhiên trong bài thơ này và bài "Bảo kính cảnh giới (bài 43)" là gì?

Thiên nhiên trong bài này mang tính chiến tranh; còn bài kia mang tính hoà bình.
Thiên nhiên trong bài này hùng vĩ, hiểm trở; còn bài kia gần gũi, bình dị.
Thiên nhiên trong bài này đơn giản; còn bài kia phong phú, đa dạng, sâu lắng.
Thiên nhiên trong bài này dịu dàng, êm ái; còn bài kia đầy sức sống.
Câu 10

BẠCH ĐẰNG HẢI KHẨU

Nguyễn Trãi

Phiên âm

Sóc phong xung hải khí lăng lăng,

Khinh khởi ngâm phàm quá Bạch Đằng.

Ngạc đoạn kình khoa sơn khúc khúc,

Qua trầm kích chiết ngạn tằng tằng.

Quan hà bách nhị do thiên thiết,

Hào kiệt công danh thử địa tằng.

Vãng sự hồi đầu ta dĩ hĩ,

Lâm lưu phủ cảnh ý nan thăng.

Dịch nghĩa

Gió bấc thổi trên biển, khí nổi cuồn cuộn,

Nhẹ giương cánh buồm thơ lướt qua cửa biển Bạch Đằng.

Như cá sấu bị chặt, cá kình bị mổ, núi uốn lượn quanh co,

Như cây giáo bị chìm, như chiếc kích bị hãy, bờ xếp chồng lởm chởm.

Hình thế núi sông hiểm yếu do trời bày đặt,

Ðây từng là nơi các bậc anh hùng hào kiệt lập công danh.

Việc cũ ngoái đầu nhìn lại, ôi đã qua rồi,

Tới bên dòng ngắm cảnh, ý khôn nói xiết.

Dịch thơ

Biển rung gió bấc thế bừng bừng,

Nhẹ cất buồm thơ lướt Bạch Đằng.

Kình ngạc băm vằm non mấy khúc,

Giáo gươm chìm gãy bãi bao tầng.

Quan hà hiểm yếu trời kia đặt,

Hào kiệt công danh đất ấy từng.

Việc trước quay đầu ôi đã vắng,

Tới dòng ngắm cảnh dạ bâng khuâng.

(Nguyễn Đình Hồ dịch, Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi,

NXB Văn hóa - Viện Văn học, Hà Nội, 1962, tr, 27 − 28)

Nghệ thuật đối được thể hiện trong những câu thơ nào?

Câu 1 - 2, câu 3 - 4.
Câu 1 - 2, câu 7 - 8.
Câu 5 - 6, câu 7 - 8.
Câu 3 - 4, câu 5 - 6.