Dương phụ hành (Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

Câu 1

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Tác giả của văn bản "Dương phụ hành" là

Nguyễn Đình Chiểu.
Trần Quốc Tuấn.
Cao Bá Quát.
Ngô Thì Nhậm.
Câu 2

VỀ TÁC GIẢ CAO BÁ QUÁT

* Tiểu sử:

− Sinh năm 1808, mất năm 1855; tự là Chu Thần, hiệu là Mẫn Hiên, Cúc Đường; quê quán ở phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc, huyện Gia Lâm, nay thuộc thành phố Hà Nội.

− Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn nhưng nổi tiếng thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Ông đỗ cử nhân từ rất sớm (1831) nhưng con đường làm quan lại lận đận, gặp nhiều gian truân.

− Năm 1841, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Ông và Phan Nhạ đã chữa 9 chữ trong một số bài thi hay những có chỗ phạm trường quy. Việc bị phát giác, ông bị khép tội chết, sau được giảm án xuống tội "dương trình hiệu lực" (tức đi phục dịch để lấy công chuộc tội).

− Năm 1844, Cao Bá Quát trở về và được phục chức ở bộ Lễ, nhưng chẳng bao lâu thì bị thải về sống với vợ con ở Thăng Long. Năm 1847, ông nhận được lệnh triệu vào Huế làm ở Viện Hàn lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ. Năm 1852, do không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát đã bị đày đi làm Giáo thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây.

− Năm 1854, nhiều tỉnh ở miền Bắc gặp đại hạn, lại bị nạn châu chấu làm cho mất sạch mùa màng, đời sống người dân hết sức cực khổ; Cao Bá Quát vận động một số sĩ phu yêu nước dựng cờ nổi dậy tại Mỹ Lương (Sơn Tây) chống lại triều đình đương thời. Tuy giành được một số thắng lợi nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung phản công thì quân khởi nghĩa liên tiếp bị thất bại. Năm 1855, Cao Bá Quát bị suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa, triều đình ra lệnh "tru di tam tộc" với dòng họ Cao.

* Sự nghiệp văn chương:

− Cao Bá Quát là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh, được người đương thời tôn là Thánh Quát. Thơ văn của ông thường bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX.

− Sau khi cuộc nổi dậy ở Mỹ Lương thất bại, các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành nên đã bị thất lạc không ít.

− Sau quá trình biên soạn lại, số tác phẩm còn sót lại của Cao Bá Quát cũng được trên ngàn bài viết bằng chữ Nôm và chữ Hán. Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo theo thể truyền kỳ.

− Một số tác phẩm tiêu biểu của Cao Bá Quát: Bài ca ngắn đi trên cát, Vịnh Tản Viên sơn, Vịnh Đổng Thiên Vương, Chiêm bao thấy con gái đã mất, Sắp đến quê nhà,...

Tác giả Cao Bá Quát có tên tự là

Bá Chu.
Chu Thần.
Cúc Đường.
Mẫn Hiên.
Câu 3

VỀ TÁC GIẢ CAO BÁ QUÁT

* Tiểu sử:

− Sinh năm 1808, mất năm 1855; tự là Chu Thần, hiệu là Mẫn Hiên, Cúc Đường; quê quán ở phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc, huyện Gia Lâm, nay thuộc thành phố Hà Nội.

− Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn nhưng nổi tiếng thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Ông đỗ cử nhân từ rất sớm (1831) nhưng con đường làm quan lại lận đận, gặp nhiều gian truân.

− Năm 1841, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Ông và Phan Nhạ đã chữa 9 chữ trong một số bài thi hay những có chỗ phạm trường quy. Việc bị phát giác, ông bị khép tội chết, sau được giảm án xuống tội "dương trình hiệu lực" (tức đi phục dịch để lấy công chuộc tội).

− Năm 1844, Cao Bá Quát trở về và được phục chức ở bộ Lễ, nhưng chẳng bao lâu thì bị thải về sống với vợ con ở Thăng Long. Năm 1847, ông nhận được lệnh triệu vào Huế làm ở Viện Hàn lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ. Năm 1852, do không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát đã bị đày đi làm Giáo thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây.

− Năm 1854, nhiều tỉnh ở miền Bắc gặp đại hạn, lại bị nạn châu chấu làm cho mất sạch mùa màng, đời sống người dân hết sức cực khổ; Cao Bá Quát vận động một số sĩ phu yêu nước dựng cờ nổi dậy tại Mỹ Lương (Sơn Tây) chống lại triều đình đương thời. Tuy giành được một số thắng lợi nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung phản công thì quân khởi nghĩa liên tiếp bị thất bại. Năm 1855, Cao Bá Quát bị suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa, triều đình ra lệnh "tru di tam tộc" với dòng họ Cao.

* Sự nghiệp văn chương:

− Cao Bá Quát là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh, được người đương thời tôn là Thánh Quát. Thơ văn của ông thường bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX.

− Sau khi cuộc nổi dậy ở Mỹ Lương thất bại, các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành nên đã bị thất lạc không ít.

− Sau quá trình biên soạn lại, số tác phẩm còn sót lại của Cao Bá Quát cũng được trên ngàn bài viết bằng chữ Nôm và chữ Hán. Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo theo thể truyền kỳ.

− Một số tác phẩm tiêu biểu của Cao Bá Quát: Bài ca ngắn đi trên cát, Vịnh Tản Viên sơn, Vịnh Đổng Thiên Vương, Chiêm bao thấy con gái đã mất, Sắp đến quê nhà,...

Nối các mốc thời gian với sự kiện tương ứng về cuộc đời của tác giả Cao Bá Quát.

Câu 4

VỀ TÁC GIẢ CAO BÁ QUÁT

* Tiểu sử:

− Sinh năm 1808, mất năm 1855; tự là Chu Thần, hiệu là Mẫn Hiên, Cúc Đường; quê quán ở phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc, huyện Gia Lâm, nay thuộc thành phố Hà Nội.

− Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn nhưng nổi tiếng thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Ông đỗ cử nhân từ rất sớm (1831) nhưng con đường làm quan lại lận đận, gặp nhiều gian truân.

− Năm 1841, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Ông và Phan Nhạ đã chữa 9 chữ trong một số bài thi hay những có chỗ phạm trường quy. Việc bị phát giác, ông bị khép tội chết, sau được giảm án xuống tội "dương trình hiệu lực" (tức đi phục dịch để lấy công chuộc tội).

− Năm 1844, Cao Bá Quát trở về và được phục chức ở bộ Lễ, nhưng chẳng bao lâu thì bị thải về sống với vợ con ở Thăng Long. Năm 1847, ông nhận được lệnh triệu vào Huế làm ở Viện Hàn lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ. Năm 1852, do không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát đã bị đày đi làm Giáo thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây.

− Năm 1854, nhiều tỉnh ở miền Bắc gặp đại hạn, lại bị nạn châu chấu làm cho mất sạch mùa màng, đời sống người dân hết sức cực khổ; Cao Bá Quát vận động một số sĩ phu yêu nước dựng cờ nổi dậy tại Mỹ Lương (Sơn Tây) chống lại triều đình đương thời. Tuy giành được một số thắng lợi nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung phản công thì quân khởi nghĩa liên tiếp bị thất bại. Năm 1855, Cao Bá Quát bị suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa, triều đình ra lệnh "tru di tam tộc" với dòng họ Cao.

* Sự nghiệp văn chương:

− Cao Bá Quát là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh, được người đương thời tôn là Thánh Quát. Thơ văn của ông thường bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX.

− Sau khi cuộc nổi dậy ở Mỹ Lương thất bại, các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành nên đã bị thất lạc không ít.

− Sau quá trình biên soạn lại, số tác phẩm còn sót lại của Cao Bá Quát cũng được trên ngàn bài viết bằng chữ Nôm và chữ Hán. Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo theo thể truyền kỳ.

− Một số tác phẩm tiêu biểu của Cao Bá Quát: Bài ca ngắn đi trên cát, Vịnh Tản Viên sơn, Vịnh Đổng Thiên Vương, Chiêm bao thấy con gái đã mất, Sắp đến quê nhà,...

Nhận xét nào dưới đây là không đúng về đặc điểm thơ văn của tác giả Cao Bá Quát?

Phản ánh nhu cầu đổi mới xã hội Việt Nam giai đoạn giữa thế kỉ XIX.
Bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ.
Chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát.
Ca ngợi sự hưng thịnh của triều đình và đạo lý quân – thần.
Câu 5

VỀ TÁC GIẢ CAO BÁ QUÁT

* Tiểu sử:

− Sinh năm 1808, mất năm 1855; tự là Chu Thần, hiệu là Mẫn Hiên, Cúc Đường; quê quán ở phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc, huyện Gia Lâm, nay thuộc thành phố Hà Nội.

− Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn nhưng nổi tiếng thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Ông đỗ cử nhân từ rất sớm (1831) nhưng con đường làm quan lại lận đận, gặp nhiều gian truân.

− Năm 1841, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Ông và Phan Nhạ đã chữa 9 chữ trong một số bài thi hay những có chỗ phạm trường quy. Việc bị phát giác, ông bị khép tội chết, sau được giảm án xuống tội "dương trình hiệu lực" (tức đi phục dịch để lấy công chuộc tội).

− Năm 1844, Cao Bá Quát trở về và được phục chức ở bộ Lễ, nhưng chẳng bao lâu thì bị thải về sống với vợ con ở Thăng Long. Năm 1847, ông nhận được lệnh triệu vào Huế làm ở Viện Hàn lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ. Năm 1852, do không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát đã bị đày đi làm Giáo thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây.

− Năm 1854, nhiều tỉnh ở miền Bắc gặp đại hạn, lại bị nạn châu chấu làm cho mất sạch mùa màng, đời sống người dân hết sức cực khổ; Cao Bá Quát vận động một số sĩ phu yêu nước dựng cờ nổi dậy tại Mỹ Lương (Sơn Tây) chống lại triều đình đương thời. Tuy giành được một số thắng lợi nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung phản công thì quân khởi nghĩa liên tiếp bị thất bại. Năm 1855, Cao Bá Quát bị suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa, triều đình ra lệnh "tru di tam tộc" với dòng họ Cao.

* Sự nghiệp văn chương:

− Cao Bá Quát là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh, được người đương thời tôn là Thánh Quát. Thơ văn của ông thường bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX.

− Sau khi cuộc nổi dậy ở Mỹ Lương thất bại, các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành nên đã bị thất lạc không ít.

− Sau quá trình biên soạn lại, số tác phẩm còn sót lại của Cao Bá Quát cũng được trên ngàn bài viết bằng chữ Nôm và chữ Hán. Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo theo thể truyền kỳ.

− Một số tác phẩm tiêu biểu của Cao Bá Quát: Bài ca ngắn đi trên cát, Vịnh Tản Viên sơn, Vịnh Đổng Thiên Vương, Chiêm bao thấy con gái đã mất, Sắp đến quê nhà,...

Trong những tác phẩm dưới đây, đâu không phải sáng tác của tác giả Cao Bá Quát?

Sắp đến quê nhà.
Bài ca ngắn đi trên cát.
Vãn thu tham thiền.
Vịnh Tản Viên sơn.
Câu 6

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.

Bài thơ "Dương phụ hành" được viết theo thể , một hình thức thông dụng của thơ cổ thể. Đây là thể thơ có tính tự sự, thường kể lại một , sự kiện hay tình huống nào đó mới lạ và bất ngờ. Qua đó, chủ thể trữ tình bày tỏ , thái độ và chính kiến của bản thân. Thể hành thường cho phép tác giả tự do trong cách biểu đạt, không bị , ràng buộc.

gò bóhànhgắn bótâm trạngtrạng tháicâu chuyệntruyền thuyết

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 7

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Văn bản "Dương phụ hành" sử dụng những phương thức biểu đạt nào dưới đây? (Chọn 2 phương án)

Miêu tả.
Nghị luận.
Thuyết minh.
Biểu cảm.
Câu 8

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Xác định nội dung chính của từng phần trong văn bản "Dương phụ hành".

Câu 9

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Nhân vật trữ tình trong bài thơ "Dương phụ hành" là người

phục vụ trên chiếc thuyền.
đàn ông phương Tây.
thiếu phụ phương Tây.
khách phương Nam xa quê.
Câu 10

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.

Câu chuyện trong bài thơ Dương phụ hành diễn ra trên biển vào ban , dưới ánh . Không gian ấy có gió biển, đèn thuyền le lói tạo nên khung cảnh vừa vừa lạnh lẽo.

Câu 11

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Hình ảnh người thiếu phụ phương Tây được miêu tả thông qua những chi tiết nào dưới đây? (Chọn 2 phương án)

Trang phục.
Cử chỉ.
Nghề nghiệp.
Ngoại hình.
Câu 12

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Hình ảnh người thiếu phụ phương Tây y trắng như tuyết (áo trắng như tuyết) gợi lên điều gì?

Miêu tả sự khắc nghiệt của thời tiết phương Tây.
Tượng trưng cho sự lạnh lẽo, cô đơn và lẻ loi.
Thể hiện sự lạnh lùng và vô cảm.
Gợi vẻ đẹp sang trọng, duyên dáng.
Câu 13

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Người thiếu phụ phương Tây với cử chỉ Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì (Một cốc sữa hững hờ trên tay) thể hiện điều gì?

Thể hiện sự kiên cường, chịu đựng thời tiết lạnh lẽo.
Khắc hoạ hành động chăm sóc chồng chu đáo, tận tình.
Gợi sự thờ ơ, thiếu đồng cảm trước nỗi đau của người khác.
Biểu thị cuộc sống sung túc, đầy đủ và hạnh phúc.
Câu 14

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Những dòng thơ nào dưới đây thể hiện tình yêu, sự hạnh phúc của vợ chồng người thiếu phụ phương Tây? (Chọn 2 phương án)

Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi.
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.
Độc bằng lang kiện toạ minh nguyệt.
Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì.
Câu 15

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Nỗi "biệt li" được nhắc đến trong câu thơ cuối là nỗi chia li giữa người khách phương Nam với

vua chúa, quan thần.
người bạn đồng hành.
quê hương, người thân.
người thiếu phụ phương Tây.
Câu 16

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Nhận xét nào dưới đây là đúng về ý nghĩa của câu thơ Khởi thức Nam nhân hữu biệt li (Há biết người Nam có cảnh biệt li)?

Thể hiện sự thương cảm của người thiếu phụ phương Tây dành cho người khách.
Gợi lên nỗi đau, buồn tủi của người khách phương Nam khi sống cảnh li biệt xa quê.
Gợi mở sự gắn bó tình cảm giữa đôi vợ chồng phương Tây trong không gian đêm yên tĩnh.
Làm nổi bật sự hạnh phúc và bình yên của đôi vợ chồng giữa khung cảnh trăng thanh.
Câu 17

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Ý kiến nào dưới đây là đúng về sự đối lập giữa người thiếu phụ phương Tây và người khách phương Nam?

Không gian sang trọng – không gian nghèo nàn.
Tình yêu say đắm – tình yêu tan vỡ.
Cuộc sống hạnh phúc – cuộc sống tha hương biệt li.
Lối sống hiện đại – lối sống cổ hủ.
Câu 18

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Nhận xét nào dưới đây là đúng về tác dụng của việc xây dựng sự đối lập giữa người thiếu phụ phương Tây và người khách phương Nam?

Phản ánh sâu sắc khoảng cách giàu nghèo.
Thể hiện sự ngưỡng mộ với hạnh phúc của người thiếu phụ.
Làm nổi bật nỗi cô đơn của người khách phương Nam.
Tô đậm vẻ đẹp người phụ nữ phương Tây.
Câu 19

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Nhận xét nào dưới đây là phù hợp về hình ảnh người chồng được gợi lên trong bài thơ?

Mạnh mẽ, cương quyết trong cuộc sống.
Vô tâm, không chia sẻ nỗi buồn cùng vợ.
Yêu thương, quan tâm và nhẹ nhàng với vợ.
Lạnh lùng, thờ ơ với vợ và cảnh vật xung quanh.
Câu 20

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Nhận xét nào dưới đây là đúng về thái độ, cảm nhận của tác giả Cao Bá Quát trước hình tượng người thiếu phụ phương Tây?

Ngạc nhiên, cảm giác ngỡ ngàng.
Cảm thông, thấu hiểu sâu sắc.
Dửng dưng, không mấy quan tâm.
Trách móc, pha chút bực bội.
Câu 21

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Cách miêu tả hình tượng người thiếu phụ phương Tây thể hiện điều gì về con người của tác giả Cao Bá Quát?

Thái độ mỉa mai xen lẫn giễu cợt.
Thành kiến và cái nhìn bài xích.
Tâm thế đố kị và thiếu thiện cảm.
Tư duy cởi mở và thái độ tôn trọng.
Câu 22

DƯƠNG PHỤ HÀNH
(Bài hành về người thiếu phụ phương Tây)

CAO BÁ QUÁT

Phiên âm

Tây dương thiếu phụ y như tuyết,
Độc bằng lang kiên toạ minh nguyệt.
Khước vọng Nam thuyền đăng hoả minh,
Bả duệ nâm nâm hướng lang thuyết.

Nhất uyển đề hồ thủ lãn trì,
Dạ hàn vô ná hải phong xuy.
Phiên thân cánh sảnh lang phù khởi,
Khởi thức Nam nhân hữu biệt li.

Dịch nghĩa

Người thiếu phụ Tây dương áo trắng như tuyết,
Tựa vai chồng ngồi dưới bóng trăng thanh.
Nhìn thuyền người Nam thấy đèn lửa sáng,
Kéo áo nói rì rầm với chồng.

Một cốc sữa hững hờ trên tay,
Gió bể thổi hơi lạnh ban đêm không chịu nổi.
Vươn mình đòi chồng nâng đỡ dậy,
Há biết người Nam có cảnh biệt li.

Dịch thơ

Thiếu phụ Tây dương áo trắng phau,
Tựa vai chồng dưới bóng trăng thâu.
Ngó thuyền Nam thấy đèn le lói,
Kéo áo, rì rầm nói với nhau.

Hững hờ cốc sữa biếng cầm tay,
Gió bể, đêm sương, thổi lạnh thay!
Uốn éo đòi chồng nâng đỡ dậy,
Biết đâu nỗi khách biệt li này.

(Lê Tư Thực dịch, Hợp tuyển thơ văn Việt Nam thế kỉ XVIII − nửa đầu thế kỉ XIX,
NXB Văn học, Hà Nội, 1978, tr.748 − 749)

Ý nào dưới đây là đúng về nghệ thuật miêu tả của tác giả Cao Bá Quát trong bài thơ "Dương phụ hành"?

Vận dụng các hình ảnh ước lệ, tượng trưng của thơ cổ điển.
Gợi tả bằng hình ảnh nhẹ nhàng, sống động và có điểm nhấn.
Thể hiện hình ảnh theo lối trầm mặc, sâu lắng và có chiều sâu.
Dùng ngôn ngữ biểu cảm mạnh mẽ với nhiều cảm xúc sống động.
Câu 23

VỀ TÁC GIẢ CAO BÁ QUÁT

* Tiểu sử:

− Sinh năm 1808, mất năm 1855; tự là Chu Thần, hiệu là Mẫn Hiên, Cúc Đường; quê quán ở phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc, huyện Gia Lâm, nay thuộc thành phố Hà Nội.

− Thuở nhỏ, Cao Bá Quát sống trong hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn nhưng nổi tiếng thông minh, chăm chỉ và văn hay chữ tốt. Ông đỗ cử nhân từ rất sớm (1831) nhưng con đường làm quan lại lận đận, gặp nhiều gian truân.

− Năm 1841, Cao Bá Quát được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên. Ông và Phan Nhạ đã chữa 9 chữ trong một số bài thi hay những có chỗ phạm trường quy. Việc bị phát giác, ông bị khép tội chết, sau được giảm án xuống tội "dương trình hiệu lực" (tức đi phục dịch để lấy công chuộc tội).

− Năm 1844, Cao Bá Quát trở về và được phục chức ở bộ Lễ, nhưng chẳng bao lâu thì bị thải về sống với vợ con ở Thăng Long. Năm 1847, ông nhận được lệnh triệu vào Huế làm ở Viện Hàn lâm, lo việc sưu tầm và sắp xếp văn thơ. Năm 1852, do không được lòng một số quan lớn tại triều, Cao Bá Quát đã bị đày đi làm Giáo thụ phủ Quốc Oai, Sơn Tây.

− Năm 1854, nhiều tỉnh ở miền Bắc gặp đại hạn, lại bị nạn châu chấu làm cho mất sạch mùa màng, đời sống người dân hết sức cực khổ; Cao Bá Quát vận động một số sĩ phu yêu nước dựng cờ nổi dậy tại Mỹ Lương (Sơn Tây) chống lại triều đình đương thời. Tuy giành được một số thắng lợi nhưng sau khi quan quân triều đình tập trung phản công thì quân khởi nghĩa liên tiếp bị thất bại. Năm 1855, Cao Bá Quát bị suất đội Đinh Thế Quang bắn chết tại trận. Sau khi dẹp được cuộc khởi nghĩa, triều đình ra lệnh "tru di tam tộc" với dòng họ Cao.

* Sự nghiệp văn chương:

− Cao Bá Quát là một nhà thơ có tài năng và bản lĩnh, được người đương thời tôn là Thánh Quát. Thơ văn của ông thường bộc lộ thái độ phê phán mạnh mẽ chế độ phong kiến trì trệ, bảo thủ và chứa đựng tư tưởng khai sáng có tính chất tự phát, phản ánh nhu cầu đổi mới của xã hội Việt Nam trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX.

− Sau khi cuộc nổi dậy ở Mỹ Lương thất bại, các tác phẩm của Cao Bá Quát đã bị triều đình nhà Nguyễn cho thu đốt, cấm tàng trữ và lưu hành nên đã bị thất lạc không ít.

− Sau quá trình biên soạn lại, số tác phẩm còn sót lại của Cao Bá Quát cũng được trên ngàn bài viết bằng chữ Nôm và chữ Hán. Cụ thể là hiện còn 1353 bài thơ và 21 bài văn xuôi, gồm 11 bài viết theo thể ký hoặc luận văn và 10 truyện ngắn viết theo theo thể truyền kỳ.

− Một số tác phẩm tiêu biểu của Cao Bá Quát: Bài ca ngắn đi trên cát, Vịnh Tản Viên sơn, Vịnh Đổng Thiên Vương, Chiêm bao thấy con gái đã mất, Sắp đến quê nhà,...

Sắp xếp các mốc thời gian dưới đây với sự kiện tương ứng trong cuộc đời của Cao Bá Quát.