Đọc: Trao duyên

Câu 1

MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TÁC GIA NGUYỄN DU

Nguyễn Du (1765 − 1820), tên chữ (tự) là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê gốc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Thân phụ Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), từng giữ chức Tham tụng trong triều Lê. Thân mẫu Nguyễn Du là Trần Thị Tần, người làng Hoa Thiều, Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Khi cha mẹ qua đời, Nguyễn Du được người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản (từng giữ chức Bồi tụng trong phủ chúa Trịnh) nuôi nấng.

Nguyễn Du sinh trưởng trong một dòng họ có nhiều người đỗ đạt và làm quan; có truyền thống văn chương. Cuộc đời ông gắn liền với bối cảnh lịch sử đầy biến động dữ dội nên trải nhiều thăng trầm.

Các dấu mốc trong cuộc đời Nguyễn Du:

+ Thời thơ ấu: Sống trong vàng son, nhung lụa.

+ Năm 1784: Kiêu binh nổi loạn phá dinh thự của Nguyễn Khản.

+ Năm 1788: Nguyễn Huệ lên ngôi, gia đình Nguyễn Du li tán.

+ Năm 1802: Triều Tây Sơn diệt vong, Nguyễn Ánh lập ra triều đại mới lấy hiệu là Gia Long. Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn.

+ Năm 1813: Đảm nhận sứ mệnh dẫn đầu sứ bộ đi Trung Quốc.

+ Năm 1820: Gia Long qua đời, Minh Mạng nối ngôi, cử Nguyễn Du làm chánh sứ nhưng chưa kịp khởi hành thì ông lâm bệnh qua đời.

Về sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Du để lại một sự nghiệp văn chương quý giá, gồm các tác phẩm được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.

− Sáng tác chữ Hán:

+ Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên), Nam trung tạp ngâm (Thơ ngâm vịnh khi ở phương Nam) Bắc hành tạp lục (Ghi chép trên hành trình đi sứ phương Bắc). Các thi tập của Nguyễn Du có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện trực tiếp chân dung tâm hồn và tư tưởng của tác giả.

+ Thơ chữ Hán Nguyễn Du vừa lưu giữ thế giới tâm hồn phong phú, phức tạp của một nghệ sĩ lớn, vừa có khả năng khái quát hiện thực rất cao và mang giá trị nhân văn sâu sắc. Đặc biệt, ba tập thơ còn phản chiếu chân dung con người và quá trình vận động trong tư tưởng nghệ thuật của tác giả. Đó là hành trình đi từ hiểu mình, thương mình đến thấu hiểu con người và thương đời.

− Sáng tác chữ Nôm:

+ Sáng tác chữ Nôm của Nguyễn Du hiện còn lưu giữ được gồm: Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Thác lời trai phường nón, Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn), Truyện Kiều.

+ Kiệt tác Truyện Kiều: Về giá trị tư tưởng, Truyện Kiều chứa đựng tư tưởng nhân đạo lớn lao, sâu sắc, độc đáo; Về giá trị nghệ thuật, Truyện Kiều kết tinh những thành tựu lớn trên nhiều bình diện nghệ thuật: cách tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, nghệ thuật tự sự và trữ tình, ngôn ngữ và thể thơ,...

Với tư tưởng nhân đạo sâu sắc và những đóng góp to lớn ở cả hai bộ phận sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, Nguyễn Du được suy tôn là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Vào tháng 10 năm 2013, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh Nguyễn Du là Danh nhân văn hoá của nhân loại.

Thông tin nào dưới đây là sai về tiểu sử của tác gia Nguyễn Du?

Ngay từ thời thơ ấu đã phải sống cơ cực, khắc khổ.
Sinh trưởng trong một dòng họ có nhiều người làm quan.
Sinh năm 1765, mất năm 1820; quê gốc ở Hà Tĩnh.
Tên chữ (tự) là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên.
Câu 2

MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TÁC GIA NGUYỄN DU

Nguyễn Du (1765 − 1820), tên chữ (tự) là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê gốc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Thân phụ Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), từng giữ chức Tham tụng trong triều Lê. Thân mẫu Nguyễn Du là Trần Thị Tần, người làng Hoa Thiều, Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Khi cha mẹ qua đời, Nguyễn Du được người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản (từng giữ chức Bồi tụng trong phủ chúa Trịnh) nuôi nấng.

Nguyễn Du sinh trưởng trong một dòng họ có nhiều người đỗ đạt và làm quan; có truyền thống văn chương. Cuộc đời ông gắn liền với bối cảnh lịch sử đầy biến động dữ dội nên trải nhiều thăng trầm.

Các dấu mốc trong cuộc đời Nguyễn Du:

+ Thời thơ ấu: Sống trong vàng son, nhung lụa.

+ Năm 1784: Kiêu binh nổi loạn phá dinh thự của Nguyễn Khản.

+ Năm 1788: Nguyễn Huệ lên ngôi, gia đình Nguyễn Du li tán.

+ Năm 1802: Triều Tây Sơn diệt vong, Nguyễn Ánh lập ra triều đại mới lấy hiệu là Gia Long. Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn.

+ Năm 1813: Đảm nhận sứ mệnh dẫn đầu sứ bộ đi Trung Quốc.

+ Năm 1820: Gia Long qua đời, Minh Mạng nối ngôi, cử Nguyễn Du làm chánh sứ nhưng chưa kịp khởi hành thì ông lâm bệnh qua đời.

Về sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Du để lại một sự nghiệp văn chương quý giá, gồm các tác phẩm được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.

− Sáng tác chữ Hán:

+ Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên), Nam trung tạp ngâm (Thơ ngâm vịnh khi ở phương Nam) Bắc hành tạp lục (Ghi chép trên hành trình đi sứ phương Bắc). Các thi tập của Nguyễn Du có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện trực tiếp chân dung tâm hồn và tư tưởng của tác giả.

+ Thơ chữ Hán Nguyễn Du vừa lưu giữ thế giới tâm hồn phong phú, phức tạp của một nghệ sĩ lớn, vừa có khả năng khái quát hiện thực rất cao và mang giá trị nhân văn sâu sắc. Đặc biệt, ba tập thơ còn phản chiếu chân dung con người và quá trình vận động trong tư tưởng nghệ thuật của tác giả. Đó là hành trình đi từ hiểu mình, thương mình đến thấu hiểu con người và thương đời.

− Sáng tác chữ Nôm:

+ Sáng tác chữ Nôm của Nguyễn Du hiện còn lưu giữ được gồm: Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Thác lời trai phường nón, Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn), Truyện Kiều.

+ Kiệt tác Truyện Kiều: Về giá trị tư tưởng, Truyện Kiều chứa đựng tư tưởng nhân đạo lớn lao, sâu sắc, độc đáo; Về giá trị nghệ thuật, Truyện Kiều kết tinh những thành tựu lớn trên nhiều bình diện nghệ thuật: cách tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, nghệ thuật tự sự và trữ tình, ngôn ngữ và thể thơ,...

Với tư tưởng nhân đạo sâu sắc và những đóng góp to lớn ở cả hai bộ phận sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, Nguyễn Du được suy tôn là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Vào tháng 10 năm 2013, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh Nguyễn Du là Danh nhân văn hoá của nhân loại.

Năm 1788, Nguyễn Huệ chính thức lên ngôi hoàng đế; triều Lê − Trịnh hoàn toàn sụp đổ. Từ đây,

Nguyễn Du đảm nhận sứ mệnh dẫn đầu sứ bộ đi Trung Quốc.
kiêu binh nổi loạn và phá nát dinh cơ của Nguyễn Khản ở kinh thành.
Nguyễn Du mồ côi cha mẹ, phải về sống cùng anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản.
gia đình Nguyễn Du li tán, bản thân ông rơi vào cảnh tha hương, bế tắc.
Câu 3

MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TÁC GIA NGUYỄN DU

Nguyễn Du (1765 − 1820), tên chữ (tự) là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê gốc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Thân phụ Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), từng giữ chức Tham tụng trong triều Lê. Thân mẫu Nguyễn Du là Trần Thị Tần, người làng Hoa Thiều, Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Khi cha mẹ qua đời, Nguyễn Du được người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản (từng giữ chức Bồi tụng trong phủ chúa Trịnh) nuôi nấng.

Nguyễn Du sinh trưởng trong một dòng họ có nhiều người đỗ đạt và làm quan; có truyền thống văn chương. Cuộc đời ông gắn liền với bối cảnh lịch sử đầy biến động dữ dội nên trải nhiều thăng trầm.

Các dấu mốc trong cuộc đời Nguyễn Du:

+ Thời thơ ấu: Sống trong vàng son, nhung lụa.

+ Năm 1784: Kiêu binh nổi loạn phá dinh thự của Nguyễn Khản.

+ Năm 1788: Nguyễn Huệ lên ngôi, gia đình Nguyễn Du li tán.

+ Năm 1802: Triều Tây Sơn diệt vong, Nguyễn Ánh lập ra triều đại mới lấy hiệu là Gia Long. Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn.

+ Năm 1813: Đảm nhận sứ mệnh dẫn đầu sứ bộ đi Trung Quốc.

+ Năm 1820: Gia Long qua đời, Minh Mạng nối ngôi, cử Nguyễn Du làm chánh sứ nhưng chưa kịp khởi hành thì ông lâm bệnh qua đời.

Về sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Du để lại một sự nghiệp văn chương quý giá, gồm các tác phẩm được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.

− Sáng tác chữ Hán:

+ Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên), Nam trung tạp ngâm (Thơ ngâm vịnh khi ở phương Nam) Bắc hành tạp lục (Ghi chép trên hành trình đi sứ phương Bắc). Các thi tập của Nguyễn Du có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện trực tiếp chân dung tâm hồn và tư tưởng của tác giả.

+ Thơ chữ Hán Nguyễn Du vừa lưu giữ thế giới tâm hồn phong phú, phức tạp của một nghệ sĩ lớn, vừa có khả năng khái quát hiện thực rất cao và mang giá trị nhân văn sâu sắc. Đặc biệt, ba tập thơ còn phản chiếu chân dung con người và quá trình vận động trong tư tưởng nghệ thuật của tác giả. Đó là hành trình đi từ hiểu mình, thương mình đến thấu hiểu con người và thương đời.

− Sáng tác chữ Nôm:

+ Sáng tác chữ Nôm của Nguyễn Du hiện còn lưu giữ được gồm: Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Thác lời trai phường nón, Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn), Truyện Kiều.

+ Kiệt tác Truyện Kiều: Về giá trị tư tưởng, Truyện Kiều chứa đựng tư tưởng nhân đạo lớn lao, sâu sắc, độc đáo; Về giá trị nghệ thuật, Truyện Kiều kết tinh những thành tựu lớn trên nhiều bình diện nghệ thuật: cách tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, nghệ thuật tự sự và trữ tình, ngôn ngữ và thể thơ,...

Với tư tưởng nhân đạo sâu sắc và những đóng góp to lớn ở cả hai bộ phận sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, Nguyễn Du được suy tôn là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Vào tháng 10 năm 2013, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh Nguyễn Du là Danh nhân văn hoá của nhân loại.

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.

Nguyễn Du để lại một sự nghiệp văn chương quý giá, gồm các tác phẩm được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.

− Nguyễn Du có 3 tập thơ : "Thanh Hiên thi tập", "Nam trung tạp ngâm" . Những thi tập này có vai trò đặc biệt trong việc thể hiện một cách trực tiếp chân dung và tư tưởng của ông.

− Sáng tác của Nguyễn Du còn lưu giữ được gồm: "Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu", , "Văn tế thập loại chúng sinh" ("Văn chiêu hồn"), "Truyện Kiều". Trong đó, "Truyện Kiều" được xem là kiệt tác không chỉ của riêng Nguyễn Du mà còn của cả nền văn học dân tộc.

tâm hồnchữ Nôm"Thác lời trai phường nón"chữ Hán"Bắc hành tạp lục""Thác lời gái phường vải"

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 4

MỘT SỐ THÔNG TIN VỀ TÁC GIA NGUYỄN DU

Nguyễn Du (1765 − 1820), tên chữ (tự) là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên; quê gốc ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh.

Thân phụ Nguyễn Du là Nguyễn Nghiễm, đỗ tiến sĩ khoa Tân Hợi (1731), từng giữ chức Tham tụng trong triều Lê. Thân mẫu Nguyễn Du là Trần Thị Tần, người làng Hoa Thiều, Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Khi cha mẹ qua đời, Nguyễn Du được người anh cùng cha khác mẹ là Nguyễn Khản (từng giữ chức Bồi tụng trong phủ chúa Trịnh) nuôi nấng.

Nguyễn Du sinh trưởng trong một dòng họ có nhiều người đỗ đạt và làm quan; có truyền thống văn chương. Cuộc đời ông gắn liền với bối cảnh lịch sử đầy biến động dữ dội nên trải nhiều thăng trầm.

Các dấu mốc trong cuộc đời Nguyễn Du:

+ Thời thơ ấu: Sống trong vàng son, nhung lụa.

+ Năm 1784: Kiêu binh nổi loạn phá dinh thự của Nguyễn Khản.

+ Năm 1788: Nguyễn Huệ lên ngôi, gia đình Nguyễn Du li tán.

+ Năm 1802: Triều Tây Sơn diệt vong, Nguyễn Ánh lập ra triều đại mới lấy hiệu là Gia Long. Nguyễn Du ra làm quan cho nhà Nguyễn.

+ Năm 1813: Đảm nhận sứ mệnh dẫn đầu sứ bộ đi Trung Quốc.

+ Năm 1820: Gia Long qua đời, Minh Mạng nối ngôi, cử Nguyễn Du làm chánh sứ nhưng chưa kịp khởi hành thì ông lâm bệnh qua đời.

Về sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Du để lại một sự nghiệp văn chương quý giá, gồm các tác phẩm được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm.

− Sáng tác chữ Hán:

+ Nguyễn Du có ba tập thơ chữ Hán: Thanh Hiên thi tập (Tập thơ của Thanh Hiên), Nam trung tạp ngâm (Thơ ngâm vịnh khi ở phương Nam) Bắc hành tạp lục (Ghi chép trên hành trình đi sứ phương Bắc). Các thi tập của Nguyễn Du có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thể hiện trực tiếp chân dung tâm hồn và tư tưởng của tác giả.

+ Thơ chữ Hán Nguyễn Du vừa lưu giữ thế giới tâm hồn phong phú, phức tạp của một nghệ sĩ lớn, vừa có khả năng khái quát hiện thực rất cao và mang giá trị nhân văn sâu sắc. Đặc biệt, ba tập thơ còn phản chiếu chân dung con người và quá trình vận động trong tư tưởng nghệ thuật của tác giả. Đó là hành trình đi từ hiểu mình, thương mình đến thấu hiểu con người và thương đời.

− Sáng tác chữ Nôm:

+ Sáng tác chữ Nôm của Nguyễn Du hiện còn lưu giữ được gồm: Văn tế sống hai cô gái Trường Lưu, Thác lời trai phường nón, Văn tế thập loại chúng sinh (Văn chiêu hồn), Truyện Kiều.

+ Kiệt tác Truyện Kiều: Về giá trị tư tưởng, Truyện Kiều chứa đựng tư tưởng nhân đạo lớn lao, sâu sắc, độc đáo; Về giá trị nghệ thuật, Truyện Kiều kết tinh những thành tựu lớn trên nhiều bình diện nghệ thuật: cách tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật, nghệ thuật tự sự và trữ tình, ngôn ngữ và thể thơ,...

Với tư tưởng nhân đạo sâu sắc và những đóng góp to lớn ở cả hai bộ phận sáng tác chữ Hán và chữ Nôm, Nguyễn Du được suy tôn là đại thi hào của dân tộc Việt Nam. Vào tháng 10 năm 2013, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên hợp quốc (UNESCO) vinh danh Nguyễn Du là Danh nhân văn hoá của nhân loại.

Đặc trưng nào sau đây thể hiện rõ phong cách thơ chữ Hán của Nguyễn Du? (Chọn 3 đáp án)

Truyền tải những giá trị nhân văn bền vững.
Phản chiếu chân dung con người sống động.
Khái quát hiện thực một cách sâu sắc.
Sử dụng giọng điệu trẻ trung, hài hước.
Câu 5

Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới

Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du nguyên có tên là Đoạn trường tân thanh. Đây là tác phẩm truyện thơ Nôm lục bát viết dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Mượn bối cảnh xã hội Trung Quốc đời nhà Minh nhưng Truyện Kiều chính là bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại lúc nhà thơ đang sống. Tác phẩm gồm 3.254 câu lục bát kể về cuộc đời 15 năm lưu lạc, chìm nổi của Thuý Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì gia biến phải bán mình chuộc cha, rơi vào cảnh "Thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần", bị các thế lực phong kiến dày xéo, chà đạp.

Về giá trị hiện thực, tác phẩm đã phơi bày bộ mặt xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đồng thời phản ánh nỗi khổ đau, bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Về giá trị nhân đạo, Truyện Kiều là tiếng nói đề cao tình yêu tự do, khát vọng công lí và ngợi ca vẻ đẹp của con người. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du thể hiện ước mơ đẹp đẽ về một tình yêu tự do, trong sáng, chung thuỷ trong xã hội mà quan niệm về tình yêu, hôn nhân còn hết sức khắc nghiệt. Mối tình Kim − Kiều được xem như là bài ca tuyệt đẹp về tình yêu lứa đôi trong văn học dân tộc. Truyện Kiều còn là bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người. Đó là vẻ đẹp của tài, sắc, tình, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, đức tính vị tha, thuỷ chung, chí khí anh hùng... Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải là hiện thân cho những vẻ đẹp đó. Thông qua nhân vật Từ Hải, người anh hùng hảo hán, một mình dám chống lại cả xã hội bạo tàn, Nguyễn Du còn thể hiện khát vọng công lí tự do, dân chủ giữa một xã hội bất công, tù túng.

Cùng với đó, Truyện Kiều còn là tiếng nói lên án các thế lực tàn bạo, chà đạp lên quyền sống con người. Về giá trị nghệ thuật, Nguyễn Du đã kết hợp tài tình tinh hoa của ngôn ngữ bác học với tinh hoa của ngôn ngữ bình dân. Với Truyện Kiều, tiếng Việt và thể thơ lục bát dân tộc đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ của nghệ thuật thi ca. Vì thế, Truyện Kiều là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại. Công đóng góp của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ là có một không hai trong lịch sử.

Nghệ thuật tự sự trong Truyện Kiều cũng đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc hoạ tính cách nhân vật và miêu tả tâm lí con người. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng Truyện Kiều là cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của văn học Việt Nam. Với những giá trị to lớn ấy, hàng trăm năm nay, Truyện Kiều luôn được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả từ trí thức tới người bình dân, làm lay động trái tim của bao thế hệ người Việt Nam, là cảm hứng sáng tác cho rất nhiều những tác phẩm thi ca, nhạc hoạ sau này.

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi bờ cõi của một quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hoá nhân loại, ghi dấu ấn văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. Với Truyện Kiều nói riêng và toàn bộ trước tác của Nguyễn Du nói chung, ông được các thế hệ người Việt Nam tôn vinh là Đại thi hào dân tộc, Hội đồng Hoà bình thế giới vinh danh ông là Danh nhân văn hoá thế giới. Hiện nay, Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng trên thế giới, trong đó tiếng Pháp có trên 10 bản dịch, tiếng Anh và tiếng Hàn Quốc trên 10 bản, tiếng Nhật 5 bản...

(Trích Cổng thông tin điện tử Tỉnh Cao Bằng, Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới, 2015)

Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du được sáng tác theo thể loại nào dưới đây?

Truyện truyền kì.
Thơ Nôm.
Truyện thơ Nôm.
Thơ đi sứ.
Câu 6

Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới

Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du nguyên có tên là Đoạn trường tân thanh. Đây là tác phẩm truyện thơ Nôm lục bát viết dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Mượn bối cảnh xã hội Trung Quốc đời nhà Minh nhưng Truyện Kiều chính là bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại lúc nhà thơ đang sống. Tác phẩm gồm 3.254 câu lục bát kể về cuộc đời 15 năm lưu lạc, chìm nổi của Thuý Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì gia biến phải bán mình chuộc cha, rơi vào cảnh "Thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần", bị các thế lực phong kiến dày xéo, chà đạp.

Về giá trị hiện thực, tác phẩm đã phơi bày bộ mặt xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đồng thời phản ánh nỗi khổ đau, bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Về giá trị nhân đạo, Truyện Kiều là tiếng nói đề cao tình yêu tự do, khát vọng công lí và ngợi ca vẻ đẹp của con người. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du thể hiện ước mơ đẹp đẽ về một tình yêu tự do, trong sáng, chung thuỷ trong xã hội mà quan niệm về tình yêu, hôn nhân còn hết sức khắc nghiệt. Mối tình Kim − Kiều được xem như là bài ca tuyệt đẹp về tình yêu lứa đôi trong văn học dân tộc. Truyện Kiều còn là bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người. Đó là vẻ đẹp của tài, sắc, tình, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, đức tính vị tha, thuỷ chung, chí khí anh hùng... Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải là hiện thân cho những vẻ đẹp đó. Thông qua nhân vật Từ Hải, người anh hùng hảo hán, một mình dám chống lại cả xã hội bạo tàn, Nguyễn Du còn thể hiện khát vọng công lí tự do, dân chủ giữa một xã hội bất công, tù túng.

Cùng với đó, Truyện Kiều còn là tiếng nói lên án các thế lực tàn bạo, chà đạp lên quyền sống con người. Về giá trị nghệ thuật, Nguyễn Du đã kết hợp tài tình tinh hoa của ngôn ngữ bác học với tinh hoa của ngôn ngữ bình dân. Với Truyện Kiều, tiếng Việt và thể thơ lục bát dân tộc đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ của nghệ thuật thi ca. Vì thế, Truyện Kiều là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại. Công đóng góp của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ là có một không hai trong lịch sử.

Nghệ thuật tự sự trong Truyện Kiều cũng đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc hoạ tính cách nhân vật và miêu tả tâm lí con người. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng Truyện Kiều là cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của văn học Việt Nam. Với những giá trị to lớn ấy, hàng trăm năm nay, Truyện Kiều luôn được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả từ trí thức tới người bình dân, làm lay động trái tim của bao thế hệ người Việt Nam, là cảm hứng sáng tác cho rất nhiều những tác phẩm thi ca, nhạc hoạ sau này.

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi bờ cõi của một quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hoá nhân loại, ghi dấu ấn văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. Với Truyện Kiều nói riêng và toàn bộ trước tác của Nguyễn Du nói chung, ông được các thế hệ người Việt Nam tôn vinh là Đại thi hào dân tộc, Hội đồng Hoà bình thế giới vinh danh ông là Danh nhân văn hoá thế giới. Hiện nay, Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng trên thế giới, trong đó tiếng Pháp có trên 10 bản dịch, tiếng Anh và tiếng Hàn Quốc trên 10 bản, tiếng Nhật 5 bản...

(Trích Cổng thông tin điện tử Tỉnh Cao Bằng, Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới, 2015)

Điền thông tin thích hợp vào chỗ trống.

Truyện Kiều được viết theo thể lục bát, gồm câu, kể về cuộc đời năm chìm nổi của Thuý Kiều. Sáng tác Truyện Kiều, Nguyễn Du đã tiếp thu đề tài, từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc).

Câu 7

Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới

Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du nguyên có tên là Đoạn trường tân thanh. Đây là tác phẩm truyện thơ Nôm lục bát viết dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Mượn bối cảnh xã hội Trung Quốc đời nhà Minh nhưng Truyện Kiều chính là bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại lúc nhà thơ đang sống. Tác phẩm gồm 3.254 câu lục bát kể về cuộc đời 15 năm lưu lạc, chìm nổi của Thuý Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì gia biến phải bán mình chuộc cha, rơi vào cảnh "Thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần", bị các thế lực phong kiến dày xéo, chà đạp.

Về giá trị hiện thực, tác phẩm đã phơi bày bộ mặt xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đồng thời phản ánh nỗi khổ đau, bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Về giá trị nhân đạo, Truyện Kiều là tiếng nói đề cao tình yêu tự do, khát vọng công lí và ngợi ca vẻ đẹp của con người. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du thể hiện ước mơ đẹp đẽ về một tình yêu tự do, trong sáng, chung thuỷ trong xã hội mà quan niệm về tình yêu, hôn nhân còn hết sức khắc nghiệt. Mối tình Kim − Kiều được xem như là bài ca tuyệt đẹp về tình yêu lứa đôi trong văn học dân tộc. Truyện Kiều còn là bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người. Đó là vẻ đẹp của tài, sắc, tình, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, đức tính vị tha, thuỷ chung, chí khí anh hùng... Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải là hiện thân cho những vẻ đẹp đó. Thông qua nhân vật Từ Hải, người anh hùng hảo hán, một mình dám chống lại cả xã hội bạo tàn, Nguyễn Du còn thể hiện khát vọng công lí tự do, dân chủ giữa một xã hội bất công, tù túng.

Cùng với đó, Truyện Kiều còn là tiếng nói lên án các thế lực tàn bạo, chà đạp lên quyền sống con người. Về giá trị nghệ thuật, Nguyễn Du đã kết hợp tài tình tinh hoa của ngôn ngữ bác học với tinh hoa của ngôn ngữ bình dân. Với Truyện Kiều, tiếng Việt và thể thơ lục bát dân tộc đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ của nghệ thuật thi ca. Vì thế, Truyện Kiều là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại. Công đóng góp của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ là có một không hai trong lịch sử.

Nghệ thuật tự sự trong Truyện Kiều cũng đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc hoạ tính cách nhân vật và miêu tả tâm lí con người. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng Truyện Kiều là cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của văn học Việt Nam. Với những giá trị to lớn ấy, hàng trăm năm nay, Truyện Kiều luôn được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả từ trí thức tới người bình dân, làm lay động trái tim của bao thế hệ người Việt Nam, là cảm hứng sáng tác cho rất nhiều những tác phẩm thi ca, nhạc hoạ sau này.

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi bờ cõi của một quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hoá nhân loại, ghi dấu ấn văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. Với Truyện Kiều nói riêng và toàn bộ trước tác của Nguyễn Du nói chung, ông được các thế hệ người Việt Nam tôn vinh là Đại thi hào dân tộc, Hội đồng Hoà bình thế giới vinh danh ông là Danh nhân văn hoá thế giới. Hiện nay, Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng trên thế giới, trong đó tiếng Pháp có trên 10 bản dịch, tiếng Anh và tiếng Hàn Quốc trên 10 bản, tiếng Nhật 5 bản...

(Trích Cổng thông tin điện tử Tỉnh Cao Bằng, Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới, 2015)

Truyện Kiều chứa đựng tư tưởng nhân đạo lớn lao, sâu sắc, độc đáo. Tư tưởng đó trước hết được thể hiện qua

niềm cảm thương trước những "đấng người" tài hoa.
cảm xúc lo lắng, hoang mang trước thế sự lúc bấy giờ.
nỗi lòng lo âu, day dứt, trăn trở trước vận mệnh dân tộc.
cảm hứng tôn vinh vẻ đẹp của con người, đặc biệt là người phụ nữ.
Câu 8

Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới

Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du nguyên có tên là Đoạn trường tân thanh. Đây là tác phẩm truyện thơ Nôm lục bát viết dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Mượn bối cảnh xã hội Trung Quốc đời nhà Minh nhưng Truyện Kiều chính là bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại lúc nhà thơ đang sống. Tác phẩm gồm 3.254 câu lục bát kể về cuộc đời 15 năm lưu lạc, chìm nổi của Thuý Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì gia biến phải bán mình chuộc cha, rơi vào cảnh "Thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần", bị các thế lực phong kiến dày xéo, chà đạp.

Về giá trị hiện thực, tác phẩm đã phơi bày bộ mặt xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đồng thời phản ánh nỗi khổ đau, bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Về giá trị nhân đạo, Truyện Kiều là tiếng nói đề cao tình yêu tự do, khát vọng công lí và ngợi ca vẻ đẹp của con người. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du thể hiện ước mơ đẹp đẽ về một tình yêu tự do, trong sáng, chung thuỷ trong xã hội mà quan niệm về tình yêu, hôn nhân còn hết sức khắc nghiệt. Mối tình Kim − Kiều được xem như là bài ca tuyệt đẹp về tình yêu lứa đôi trong văn học dân tộc. Truyện Kiều còn là bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người. Đó là vẻ đẹp của tài, sắc, tình, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, đức tính vị tha, thuỷ chung, chí khí anh hùng... Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải là hiện thân cho những vẻ đẹp đó. Thông qua nhân vật Từ Hải, người anh hùng hảo hán, một mình dám chống lại cả xã hội bạo tàn, Nguyễn Du còn thể hiện khát vọng công lí tự do, dân chủ giữa một xã hội bất công, tù túng.

Cùng với đó, Truyện Kiều còn là tiếng nói lên án các thế lực tàn bạo, chà đạp lên quyền sống con người. Về giá trị nghệ thuật, Nguyễn Du đã kết hợp tài tình tinh hoa của ngôn ngữ bác học với tinh hoa của ngôn ngữ bình dân. Với Truyện Kiều, tiếng Việt và thể thơ lục bát dân tộc đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ của nghệ thuật thi ca. Vì thế, Truyện Kiều là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại. Công đóng góp của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ là có một không hai trong lịch sử.

Nghệ thuật tự sự trong Truyện Kiều cũng đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc hoạ tính cách nhân vật và miêu tả tâm lí con người. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng Truyện Kiều là cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của văn học Việt Nam. Với những giá trị to lớn ấy, hàng trăm năm nay, Truyện Kiều luôn được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả từ trí thức tới người bình dân, làm lay động trái tim của bao thế hệ người Việt Nam, là cảm hứng sáng tác cho rất nhiều những tác phẩm thi ca, nhạc hoạ sau này.

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi bờ cõi của một quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hoá nhân loại, ghi dấu ấn văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. Với Truyện Kiều nói riêng và toàn bộ trước tác của Nguyễn Du nói chung, ông được các thế hệ người Việt Nam tôn vinh là Đại thi hào dân tộc, Hội đồng Hoà bình thế giới vinh danh ông là Danh nhân văn hoá thế giới. Hiện nay, Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng trên thế giới, trong đó tiếng Pháp có trên 10 bản dịch, tiếng Anh và tiếng Hàn Quốc trên 10 bản, tiếng Nhật 5 bản...

(Trích Cổng thông tin điện tử Tỉnh Cao Bằng, Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới, 2015)

Nhận định nào dưới đây là đúng khi nói về nhân vật Thuý Kiều trong tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du? (Chọn 2 đáp án).

Tính cách mạnh mẽ, thuỷ chung trong tình yêu.
Tâm hồn hời hợt, bốc đồng trong tình cảm.
Khuôn mặt đầy đặn, sáng trong như khuôn trăng.
Nhan sắc tuyệt trần nhưng số phận bạc bẽo.
Câu 9

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống để hoàn thành nhận xét về giá trị nội dung của tác phẩm Truyện Kiều.

Bằng cách nhấn mạnh sự giữa phẩm hạnh, tài năng của Thuý Kiều với số phận bất hạnh mà nàng phải gánh chịu, Nguyễn Du đã thể hiện thái độ bất bình, trước một xã hội phi lí, đầy rẫy bất công, đồng thời cất lên tiếng kêu đòi cho con người.

đối lậpquyền sốngcam chịutương đồngphẫn nộ

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 10

Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới

Kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du nguyên có tên là Đoạn trường tân thanh. Đây là tác phẩm truyện thơ Nôm lục bát viết dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc). Mượn bối cảnh xã hội Trung Quốc đời nhà Minh nhưng Truyện Kiều chính là bức tranh rộng lớn về cuộc sống thời đại lúc nhà thơ đang sống. Tác phẩm gồm 3.254 câu lục bát kể về cuộc đời 15 năm lưu lạc, chìm nổi của Thuý Kiều, người con gái tài sắc vẹn toàn nhưng vì gia biến phải bán mình chuộc cha, rơi vào cảnh "Thanh y hai lượt, thanh lâu hai lần", bị các thế lực phong kiến dày xéo, chà đạp.

Về giá trị hiện thực, tác phẩm đã phơi bày bộ mặt xã hội phong kiến bất công, tàn bạo, đồng thời phản ánh nỗi khổ đau, bất hạnh của con người, đặc biệt là người phụ nữ trong xã hội Việt Nam những năm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX. Về giá trị nhân đạo, Truyện Kiều là tiếng nói đề cao tình yêu tự do, khát vọng công lí và ngợi ca vẻ đẹp của con người. Viết Truyện Kiều, Nguyễn Du thể hiện ước mơ đẹp đẽ về một tình yêu tự do, trong sáng, chung thuỷ trong xã hội mà quan niệm về tình yêu, hôn nhân còn hết sức khắc nghiệt. Mối tình Kim − Kiều được xem như là bài ca tuyệt đẹp về tình yêu lứa đôi trong văn học dân tộc. Truyện Kiều còn là bài ca ca ngợi vẻ đẹp của con người. Đó là vẻ đẹp của tài, sắc, tình, lòng hiếu thảo, trái tim nhân hậu, đức tính vị tha, thuỷ chung, chí khí anh hùng... Thuý Kiều, Kim Trọng, Từ Hải là hiện thân cho những vẻ đẹp đó. Thông qua nhân vật Từ Hải, người anh hùng hảo hán, một mình dám chống lại cả xã hội bạo tàn, Nguyễn Du còn thể hiện khát vọng công lí tự do, dân chủ giữa một xã hội bất công, tù túng.

Cùng với đó, Truyện Kiều còn là tiếng nói lên án các thế lực tàn bạo, chà đạp lên quyền sống con người. Về giá trị nghệ thuật, Nguyễn Du đã kết hợp tài tình tinh hoa của ngôn ngữ bác học với tinh hoa của ngôn ngữ bình dân. Với Truyện Kiều, tiếng Việt và thể thơ lục bát dân tộc đã đạt tới đỉnh cao rực rỡ của nghệ thuật thi ca. Vì thế, Truyện Kiều là sự kết tinh thành tựu nghệ thuật văn học dân tộc trên các phương diện ngôn ngữ, thể loại. Công đóng góp của Nguyễn Du về phương diện ngôn ngữ là có một không hai trong lịch sử.

Nghệ thuật tự sự trong Truyện Kiều cũng đã có bước phát triển vượt bậc, từ nghệ thuật dẫn chuyện đến nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, khắc hoạ tính cách nhân vật và miêu tả tâm lí con người. Nhà nghiên cứu Phan Ngọc cho rằng Truyện Kiều là cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tiên của văn học Việt Nam. Với những giá trị to lớn ấy, hàng trăm năm nay, Truyện Kiều luôn được lưu truyền rộng rãi và có sức chinh phục lớn đối với mọi tầng lớp độc giả từ trí thức tới người bình dân, làm lay động trái tim của bao thế hệ người Việt Nam, là cảm hứng sáng tác cho rất nhiều những tác phẩm thi ca, nhạc hoạ sau này.

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng đã góp phần đưa văn học Việt Nam vượt ra khỏi bờ cõi của một quốc gia, trở thành một phần tinh hoa của văn hoá nhân loại, ghi dấu ấn văn học Việt Nam trên thi đàn quốc tế. Với Truyện Kiều nói riêng và toàn bộ trước tác của Nguyễn Du nói chung, ông được các thế hệ người Việt Nam tôn vinh là Đại thi hào dân tộc, Hội đồng Hoà bình thế giới vinh danh ông là Danh nhân văn hoá thế giới. Hiện nay, Truyện Kiều đã được dịch ra hơn 30 thứ tiếng trên thế giới, trong đó tiếng Pháp có trên 10 bản dịch, tiếng Anh và tiếng Hàn Quốc trên 10 bản, tiếng Nhật 5 bản...

(Trích Cổng thông tin điện tử Tỉnh Cao Bằng, Đại thi hào Nguyễn Du − Danh nhân văn hoá thế giới, 2015)

Đâu không phải là đặc điểm của hệ thống nhân vật trong Truyện Kiều của Nguyễn Du?

Tính cách nhân vật được thể hiện qua các chi tiết bề ngoài mang tính cá thể hoá.
Thế giới nội tâm phong phú, phức tạp với những chuyển biến tâm lí sâu sắc.
Sự biến đổi của nhân vật trung tâm không tác động đến các nhân vật khác.
Ngoại hình, hành động và nội tâm được khắc hoạ chân thực, sinh động.
Câu 11

Trao duyên

(Trích Truyện Kiều)

Nguyễn Du

711. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

715. "Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?"

Rằng: "Lòng đương thổn thức đầy,

720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

Hở môi ra cũng thẹn thùng,

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

725. Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì,

730. Hiếu tình khó lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

735. Chiếc vành với bức tớ mầy,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

745. Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Tưới xin giọt lệ cho người thác oan.

Bây giờ trâm gãy hương tan,

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

755. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Cạn lời hồn dứt máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.

(Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Văn hoá − Thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 658 − 660)

Đoạn trích Trao duyên nằm ở phần nào của tác phẩm Truyện Kiều?

Chia li.
Vĩ thanh.
Gặp gỡ.
Đoàn tụ.
Câu 12

Trao duyên

(Trích Truyện Kiều)

Nguyễn Du

711. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

715. "Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?"

Rằng: "Lòng đương thổn thức đầy,

720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

Hở môi ra cũng thẹn thùng,

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

725. Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì,

730. Hiếu tình khó lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

735. Chiếc vành với bức tớ mầy,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

745. Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Tưới xin giọt lệ cho người thác oan.

Bây giờ trâm gãy hương tan,

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

755. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Cạn lời hồn dứt máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.

(Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Văn hoá − Thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 658 − 660)

Điền thông tin thích hợp vào chỗ trống.

Đoạn trích Trao duyên thuộc phần , từ câu đến câu của Truyện Kiều. Đoạn trích là lời của Thuý Kiều nói với Thuý Vân khi muốn Vân thay nàng cho .

Câu 13

Trao duyên

(Trích Truyện Kiều)

Nguyễn Du

711. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

715. "Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?"

Rằng: "Lòng đương thổn thức đầy,

720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

Hở môi ra cũng thẹn thùng,

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

725. Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì,

730. Hiếu tình khó lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

735. Chiếc vành với bức tớ mầy,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

745. Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Tưới xin giọt lệ cho người thác oan.

Bây giờ trâm gãy hương tan,

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

755. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Cạn lời hồn dứt máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.

(Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Văn hoá − Thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 658 − 660)

Sắp xếp các nội dung dưới đây theo đúng trình tự các phần của đoạn trích Trao duyên.

  • Thuý Kiều trao kỉ vật cho Thuý Vân.
  • Thuý Kiều than thở cùng Kim Trọng.
  • Thuý Kiều nói lời trao duyên và thuyết phục Thuý Vân.
Câu 14

Nối từ ngữ ở cột A với ý nghĩa tương ứng ở cột B.

Câu 15

Trao duyên

(Trích Truyện Kiều)

Nguyễn Du

711. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

715. "Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?"

Rằng: "Lòng đương thổn thức đầy,

720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

Hở môi ra cũng thẹn thùng,

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

725. Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì,

730. Hiếu tình khó lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

735. Chiếc vành với bức tớ mầy,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

745. Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Tưới xin giọt lệ cho người thác oan.

Bây giờ trâm gãy hương tan,

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

755. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Cạn lời hồn dứt máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.

(Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Văn hoá − Thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 658 − 660)

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.

Bối cảnh trao duyên: Sau đêm thề nguyện với Thuý Kiều, phải về hộ tang chú, tai hoạ ập đến nhà Thuý Kiều vì sự vu oan của thằng bán tơ. buộc phải để cứu cha và em. Đêm cuối trước ngày rời đi, Kiều trăn trở, day dứt vì mối tình dang dở. Trong căn phòng giữa thanh vắng, nàng nhờ em là thay mình cho Kim Trọng.

KiềuKim TrọngThuý Vântrả ơntrả nghĩabán mìnhTừ Hảiđêm khuya

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 16

Trao duyên

(Trích Truyện Kiều)

Nguyễn Du

711. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

715. "Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?"

Rằng: "Lòng đương thổn thức đầy,

720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

Hở môi ra cũng thẹn thùng,

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

725. Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì,

730. Hiếu tình khó lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

735. Chiếc vành với bức tớ mầy,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

745. Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Tưới xin giọt lệ cho người thác oan.

Bây giờ trâm gãy hương tan,

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

755. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Cạn lời hồn dứt máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.

(Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Văn hoá − Thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 658 − 660)

Những từ ngữ "cậy", "lạy", "thưa" được Thuý Kiều dùng khi trao duyên cho Thuý Vân đã thể hiện

tâm thế hạ mình, tha thiết của Kiều khi phải gửi gắm chuyện tình dang dở cho em.
cảm giác bức xúc, trách móc Thuý Vân vì không thấu hiểu tấm lòng của chị.
sự lo sợ mơ hồ trước tương lai đầy bất trắc đang chờ phía trước.
thái độ bình thản, nhẹ nhõm của Kiều sau khi đưa ra một quyết định đúng đắn.
Câu 17

Trao duyên

(Trích Truyện Kiều)

Nguyễn Du

711. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

715. "Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?"

Rằng: "Lòng đương thổn thức đầy,

720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

Hở môi ra cũng thẹn thùng,

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

725. Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì,

730. Hiếu tình khó lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

735. Chiếc vành với bức tớ mầy,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

745. Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Tưới xin giọt lệ cho người thác oan.

Bây giờ trâm gãy hương tan,

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

755. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Cạn lời hồn dứt máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.

(Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Văn hoá − Thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 658 − 660)

Thuý Kiều đã dùng những lí lẽ nào dưới đây để thuyết phục Thuý Vân? (Chọn 3 đáp án)

"Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng."
"Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây."
"Hiếu tình khó lẽ hai bề vẹn hai."
"Xót tình máu mủ thay lời nước non."
Câu 18

Dòng thơ "Duyên này thì giữ vật này của chung" thể hiện rõ điều gì trong tâm trạng của Thuý Kiều?

Mong muốn đoạn tuyệt hoàn toàn với quá khứ.
Sự dứt khoát của Thuý Kiều khi quyết định trao duyên.
Mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm của Thuý Kiều.
Mong muốn Thuý Vân quên hết quá khứ của chị và Kim Trọng.
Câu 19

Trao duyên

(Trích Truyện Kiều)

Nguyễn Du

711. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

715. "Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?"

Rằng: "Lòng đương thổn thức đầy,

720. Tơ duyên còn vướng mối này chưa xong.

Hở môi ra cũng thẹn thùng,

Để lòng thì phụ tấm lòng với ai!

Cậy em em có chịu lời,

Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa.

725. Giữa đường đứt gánh tương tư,

Keo loan chắp mối tơ thừa mặc em.

Kể từ khi gặp chàng Kim,

Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề.

Sự đâu sóng gió bất kì,

730. Hiếu tình khó lẽ hai bề vẹn hai.

Ngày xuân em hãy còn dài,

Xót tình máu mủ thay lời nước non.

Chị dù thịt nát xương mòn,

Ngậm cười chín suối hãy còn thơm lây.

735. Chiếc vành với bức tớ mầy,

Duyên này thì giữ vật này của chung.

Dù em nên vợ nên chồng,

Xót người bạc mệnh ắt lòng chẳng quên.

Mất người còn chút của tin,

740. Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa.

Mai sau dù có bao giờ,

Đốt lò hương ấy so tơ phím này.

Trông ra ngọn cỏ lá cây,

Thấy hiu hiu gió thì hay chị về.

745. Hồn còn mang nặng lời thề,

Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai.

Dạ đài cách mặt khuất lời,

Tưới xin giọt lệ cho người thác oan.

Bây giờ trâm gãy hương tan,

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lạy tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

755. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Cạn lời hồn dứt máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.

(Đào Duy Anh, Từ điển Truyện Kiều, NXB Văn hoá − Thông tin, Hà Nội, 2000, tr. 658 − 660)

Trong đoạn trích Trao duyên, lời dặn dò của Thuý Kiều dành cho Thuý Vân chứa đựng mâu thuẫn nội tâm bởi vì Kiều

có phần ghen tuông khi phải trao lại mối tình cho Thuý Vân.
không còn yêu Kim Trọng nên dễ dàng trao duyên.
trao duyên nhưng vẫn muốn giữ lại tình cảm và kỷ niệm cho riêng mình.
hoàn toàn tin tưởng rằng Thuý Vân sẽ làm tròn lời nhờ cậy.
Câu 20

Bây giờ trâm gãy hương tan,

750. Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!

Trăm nghìn gửi lại tình quân,

Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

Phận sao phận bạc như vôi,

Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

755. Ôi Kim lang! Hỡi Kim lang!

Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!"

Cạn lời hồn dứt máu say,

Một hơi lặng ngắt đôi tay giá đồng.

Diễn biến tâm trạng của Thuý Kiều trong đoạn cuối (từ câu 749 đến câu 758) chủ yếu thể hiện điều gì?

Sự giận dữ với số phận và Thuý Vân vì đã nhận lời trao duyên.
Niềm tin mãnh liệt vào tương lai Thuý Vân và Kim Trọng sẽ hạnh phúc.
Nỗi đau đớn, day dứt vì tình yêu không trọn vẹn và cảm giác mình là người phụ bạc.
Sự thanh thản khi hoàn thành trọn vẹn bổn phận với cha mẹ và gia đình.
Câu 21

711. Nỗi riêng riêng những bàn hoàn,

Dầu chong trắng đĩa lệ tràn thấm khăn.

Thuý Vân chợt tỉnh giấc xuân,

Dưới đèn ghé đến ân cần hỏi han:

Bốn câu thơ đầu đoạn trích (từ câu 711 đến câu 714) có tác dụng gì trong việc triển khai tình huống truyện?

Dựng lên bối cảnh thời gian, không gian để khơi mở tâm trạng Thuý Kiều.
Nhấn mạnh hình ảnh Thuý Kiều với vẻ đẹp buồn bã trong đêm khuya.
Gợi tả khung cảnh mùa xuân tươi đẹp và tâm trạng rạo rực của nhân vật.
Mở ra hoàn cảnh gặp gỡ giữa Kiều và Kim Trọng trong đêm thanh vắng.
Câu 22

"Cơ trời dâu bể đa đoan,

Một nhà để chị riêng oan một mình.

Cớ chi ngồi nhẫn tàn canh,

Nỗi riêng còn mắc mối tình chi đây?"

Bốn câu thơ trên là lời của ai?

Lời của Thuý Kiều.
Lời của Thuý Vân.
Lời của Tú Bà.
Lời của Hoạn Thư.
Câu 23

Điền từ ngữ thích hợp vào chỗ trống.

Qua đoạn trích Trao duyên, tác giả Nguyễn Du đã khắc hoạ được bi kịch , cùng với thân phận cũng như nhân cách của Thuý Kiều.

thế sựhèn mọnbất hạnhcao đẹptình yêu

(Kéo thả hoặc click vào để điền)

Câu 24

Đâu không phải là thủ pháp nghệ thuật được Nguyễn Du sử dụng trong Truyện Kiều?

Vận dụng nghệ thuật trình diễn trọng thoại.
Khắc hoạ nội tâm nhân vật hiệu quả.
Kết hợp ngôn ngữ bác học với ngôn ngữ bình dân.
Sử dụng thành công ngôn ngữ, thể thơ của dân tộc.